VĂN HÓA BIỂN KỲ 1: NGƯỜI VIỆT VÀ BIỂN TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ

Không thể hình dung được văn hóa việt nam mà lại thiếu đi chất mặn mòi của biển cả. chất biển giống như một thứ gia vị của món ăn, trở thành muối mặn trong bữa cơm hàng ngày của người việt. người việt nam, bất kể ở vùng địa lí nào, kể cả những người suốt đời không ra đến biển vẫn có một chất văn hóa biển ở trong người…

Thành ngữ dân gian Việt Nam luôn nói về biển vói một thái độ trân trọng đặc biệt. Người Việt thường nói “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” là muốn lấy biển ra để ví với con người. Con người gắn cuộc đời mình vào môi trưòng sinh thái có biển bên cạnh, trân trọng biển, nói về những điều quan trọng nhất trong cuộc đòi là so sánh nó với biển.

Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng người Việt nói “Rừng vàng biển bạc” là có ý nhắc nhở rằng Biển là một tài nguyên lớn và quý báu. Biển – “bể” (tiếng Nôm), Hải (tiếng Hán Việt), cũng như những Mũi, hòn, cù – lao (tiếng nguồn gốc Chàm là Poulo, Pulao)… đã đi vào và chiếm một chỗ quan trọng kho từ vựng của ngôn ngữ Việt.

Với vị trí địa lý, chiến lược nằm giữa hai đại lục Nam Á (Ấn Độ) và Đông Á (Trung Hoa) của lục địa Á Châu, nơi gặp gỡ giữa Ấn Độ Dưong và Thái Bình Dưong, “Tựa lưng vào núi, ngoảnh mặt ra biển”, “Ngã tư đường của các nền văn hóa, văn minh”, biển Đông vừa là biên giới thuộc chủ quyền chính trị của những cư dân, những vưong triều sinh sống và phát triển trên bán đảo Việt Nam lại vừa là môi trưòng sống gắn liền với lịch sử kinh tế – xã hội – văn hóa Việt Nam.

Niềm vui ngư dân, ảnh internet

Truyền thuyết đầu tiên của người Việt là truyền thuyết về biển, trong đó mọi người dân Việt đều có chung một nguồn gốc là “Con Rồng cháu Tiên”, “Con Lạc, cháu Hồng”. Người Việt được sinh ra từ khí trời và mặt đất của rừng và của biển. Biển là một nửa của nguồn gốc Việt.

Giáo sư Keit Weller Taylor, người Mỹ trong tác phẩm nổi tiếng “Sự sinh thành của Việt Nam” đã bình luận như sau: “Cái ý tưởng về một vị thần linh từ nước biển lên xây dựng cội nguồn cho một quyền lực chính trị (political power) và pháp quyền (legitimacy), tham dự vào việc hình thành cư dân Việt Nam từ thời tiền sử, là một ám thị sớm nhất về một quan niệm rằng: Người Việt Nam là một nhân dân riêng biệt (distinct) và tự ý thức (self-concious) ý tưởng đó được tạo hình ở nghệ thuật Đông Son, trên trống đồng, vói Chim biển và các loài thủy tộc bao quanh các con thuyền chuyên chở chiến sĩ”. (1)

Gạt sang bên tính huyền thoại của truyền thuyết, chúng ta có thể thấy được cái căn nguyên hiện thực phía sau những truyền thuyết này. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những chứng tích cụ thể đầy thuyết phục về cuộc sống gắn liền với biển của những con người trên mảnh đất có bờ biển hình chữ S của chúng ta.

Biển miền Trung, ảnh internet

Chính các di chỉ khảo cổ của các nền văn hóa Hạ Long, Soi Nhụ, Sa Huỳnh đã chứng minh rằng lớp cư dân đầu tiên sống trên các vùng ven biển ở Việt Nam đã là những người biết gắn bó, lao động, khai thác tài nguyên biển. Nó cũng cho thấy, chính những chủ nhân của văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn cũng là những cư dân có mặt ở vùng biển Đông Bắc Việt Nam và do vậy, các nền văn hoá ven biển ở Việt Nam cũng sớm được hình thành cùng với các cư dân nói trên.

Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, ngay từ thời tiền sử, người Việt đã biết lợi dụng, khai thác biển. Ông cho rằng, từ trưóc Công nguyên khi miền Bắc nưóc ta trở thành quận Giao chỉ rồi Giao châu, các sách cổ Trung Hoa đã đều ca ngợi người Việt thạo thủy chiến giỏi dùng thuyền. Hán thư chép: “Đất Việt ở gần biển, có nhiều tê giác, voi, đồi mồi, châu ngọc, bạc, hoa quả, vải… người Hoa đến buôn bán, phần nhiều được giàu có” . “Đế chế Hán phát triển mạnh mẽ, các nước phương Nam và phương Tây muốn đến Trung Quốc đều phải đi đưòng biển qua Giao chỉ”. (2)

Từ thế kỷ II (131, 159, 166, 169…) các lái buôn và sứ thần các nước Gia Va, Ân Độ, La Mã… đã đi qua eo biển Ban-Ka hay dọc bò biển Xumatra, Mã Lai, Giao Chỉ (Bắc Việt Nam) mà tới các cảng biển ở Hoa Nam, Quảng Châu. Suốt thời kỳ Ngụy – Tấn – Nam Bắc triều, Tùy, Đường của Trung hoa cổ, các lái buôn, sứ thần Gia Va, Xri Lanka, Đông La Mã, Ả Rập… vẫn theo đưòng biển đi lại buôn bán vói Giao chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam… Lái buôn ngoại quốc ghé thuyền vào miền biển của nước ta vì đây là những trạm và hải cảng quan trọng trên đưòng hàng hải ven biển quốc tế, có nhiều cảng tốt, làm chỗ trú ngụ, tránh bão tố, lấy và mua nước ngọt…Một số sản phẩm của ta khi đó cũng đã được xuất khẩu, như vải bông, lụa, giấy, đường phèn, đồ thủy tinh…(3)

Sau khi giành lại được độc lập sau hơn ngàn năm Bắc thuộc, người Việt đã quan tâm mạnh mẽ tới chủ quyền biển, khai thác biển, xây dựng lực lượng thuỷ quân mạnh mẽ để bảo vệ biển. Năm 938 Ngô Quyền (898-944), khi làm nên chiến thắng ở cửa biển Bạch Đằng đã chứng tỏ cho mọi người biết rằng, lúc đó người Việt Nam đã có những hiểu biết sâu sắc về biển, về thủy triều, về các con nước như thế nào. Nó cũng chứng tỏ rằng Ngô Quyền và người dân Việt đã biết tôn trọng sức mạnh của biển và thấy rõ tầm chiến lược quan trọng của địa lý quân sự các biển vùng vịnh Bắc Bộ. Cũng theo giáo sư Trần Quốc Vượng, Vua Đinh Tiên Hoàng sau đó, vào năm 970 đã sai sứ qua biển sang Quảng Châu kết hiếu với triều Tống. Thậm chí con trai của Đinh Tiên Hoàng (924-979) còn được phong là Tĩnh hải quân tiết độ sứ, một vị quan lớn về quân sự làm yên vùng biển.

Sử cũ chép rằng năm 1172, vua Lý Anh Tông (1136-1175) đã đích thân đi tuần tra các cù lao ngoài biển ở địa giới biên giới các phiên bang Nam (Hải Tây), Bắc (Hải Đông), sai vẽ bản đồ và ghi chép phong vật . Có lẽ đây là lần đầu tiên một bản đồ lãnh thổ và lãnh hải nước Đại Việt đã được vẽ lại cẩn thận và ghi chép trong sử sách. Sau này, những tập bản đồ như Hồng Đức bản đồ (1490), Thiên Nam tứ chí lộ đồ (thế kỷ XVII), Đại Nam nhất thống bản đồ (thế kỷ XIX)… đều vẽ lại khá chi tiết địa lý các vùng biển, coi biển là một đưòng biên giới thiên nhiên của đất nước.

Đời Trần – năm 1241, vua Trần Thái Tông (1218-1277) “thân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình (Móng Cái, Hải Ninh cũ) rồi đi qua châu Khâm, châu Liêm (2 cảng này thuộc Quảng Đông, Trung Quốc) bỏ thuyền lớn ở trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ Kim Phượng, Nhật Quang, Nguyệt Quang”. (4)

Đời Lê – theo Dư địa chí, cuốn sách địa lý cổ nhất mà chúng ta còn giữ được, do Nguyễn Trãi (1380-1442) soạn trình vua Lê Thái Tông (1423-1442) năm 1435 đã viết về biển như sau: “Biển cùng Lục Đầu, Yên Tử ở về Hải Dương, Biển là Biển Đông, Lục Đầu là tên sông do sáu sông hợp nguồn lại. Yên Tử là tên núi (nay thuộc Quảng Ninh), các vua Trần thường xuất gia tu hành ở đấy”. Ngô Thì Nhậm trong Trúc Lâm Tông chỉ nguyên thanh cũng đã bình luận: “Các vua Trần, về tâm linh thì tu hành ở Yên Tử, về thực tế là cư trú tại đấy để “luôn luôn để mắt tới vùng Biển đông bắc của đất nước” . (5)

Biển bạc, ảnh internet

Nhận thức được tầm quan trọng của biển đối với việc phát triển đất nước, từ rất sớm và trong nhiều giai đoạn lịch sử, người Việt cũng đã quan tâm mạnh mẽ đến việc khơi thông các con đưòng giao lưu, buôn bán với các nước, mở rộng các cảng biển. Các sách sử còn cho thấy, nhiều cảng biển của nước ta tư xưa đã khá nổi tiếng.

Chẳng hạn, cảng Vân Đồn được xây dựng từ năm 1149, ngay sau đó đã nổi tiếng là sầm uất và trở thành một địa điểm quan trọng để mở rộng giao thương với nước ngoài.

Một số tài liệu khác còn chép lại rằng: “trong suốt các năm ở thế kỷ XII, XIII, thương nhân của nhiều nước đã đến Vân Đồn buôn bán như Trảo Oa (Gia va), Lộ Lạc (thuộc một quốc gia ở hạ lưu sông Mênam), Chao Phây và Xiêm La (Thái Lan). Người Việt mua vải bông của Ấn Độ, mua vải trắng và vải màu của Gia va, mua ngọc, gấm vóc, giấy bút của Trung Quốc. Các thương nhân nước ngoài thì mua gốm sứ, đồng, trầm hương, ngọc trai, muối của Việt Nam để đưa đi buôn bán… Sự trao đổi buôn bán ở vùng biển dưới các triều đại phong kiến đã phát triển khá mạnh mẽ ”. (6)

Theo Theo An Nam hàng ký của Từ Minh Thiện, trong các năm 1289, 1305, 1384, 1349, 1360, 1394, thuyền buôn nhiều nước đã đến Vân Đồn buôn bán. Hàng nhập là vải bông Ấn Độ, vải trắng, vải mầu Gia Va, đoạn lông vàng “nước Tây Dương” , chim vẹt đỏ, ngựa lạ, ngọc, giấy bút, vải và gấm vóc Trung Hoa… Hàng xuất là tơ lụa, gốm sứ, đồng, trầm hương, ngà voi, ngọc trai, sừng tê, muối và một số đồ thủ công khác. (7)

Các nghiên cứu sử học Việt Nam và nước ngoài đã nhận định rằng: thế kỷ XVI- XVII là buổi hồi sinh của các cảng biển miền Trung và Nam Trung bộ nước ta. Một số người việt đã đi du học phương Tây, học được một số kỹ thuật Âu châu như nghề làm đồng hồ kéo chuông, đóng tàu biển..

Chài lưới ảnh internet

Việc vận dụng các ưu thế của biển để mở rộng giao thương với nước ngoài được quan tâm đặc biệt trong một triều đại nổi tiếng về những cải cách là triều Mạc (1527-1592). Vị vua đầu tiên của nhà Mạc là Mạc Đăng Dung (1483-1581) lên thay nhà Lê, gốc dân chài xứ Hải Đông là người làng Cổ Trai (Kẻ Chài), Kiến Thụy, Hải Phòng, đã có cái nhìn về biển rất mới mẻ và thoáng đãng… Dưới triều Mạc, nhiều chợ ở vùng ven biển đã được mở. Hàng hóa sản xuất như gốm – sứ , có ghi năm sản xuất, tên người sản xuất, tên người đặt hàng, được lưu thông buôn bán thuận tiện.

Sử khi đó còn ghi lại rằng các thương thuyền của nhà Mạc đã từng tung hoành từ vịnh Hạ Long đến Thuận Hóa, Quảng Nam. Qua đường biển, sản phẩm của nhiều lò gốm, sứ của thời kỳ nhà Mạc đã được xuất khẩu ra nhiều nước Đông Nam Á. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ – khách quan, triều Mạc (Bắc Triều) đã bị tập đoàn Lê – Trịnh (Nam Triều) lật đổ năm 1592. Dương Kinh bị phá tan tành. Nhà nước quân chủ lại co về hướng nội (Inwards looking policy). Đây là một bước lùi trong tư duy về biển của chính quyền và người Việt. Công cuộc đổi mới chính sách chinh phục biển Đông dưới thời Mạc đã trở thành dang dở.

Sách “Phủ biên tạp lục” được cụ Lê Quý Đôn viết vào năm 1776 trên cơ sở những sưu tầm, tập hợp tư liệu, ghi chép những điều tai nghe, mắt thấy trong 6 tháng ông làm Hiệp trấn hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam đã khẳng định: “Phủ Quảng Ngãi ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh huyện Bình Son có núi gọi là Cù Lao Ré,….; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và nhũng hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải…

Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy đuợc hoá vật của tàu, như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm luợm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về…

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc ngườii thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc ngườii xã Cảnh Duong, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuẫn đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm luợm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngu, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy đuợc.”

Qua đây, chúng ta có thể thấy, Lê Quý Đôn đã giới thiệu tưong đối đầy đủ vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, Truông Sa, cũng như cơ cấu tổ chúc, chúc năng và hoạt động của hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải.

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc

CHÚ THÍCH VÀ TRÍCH DẪN

(1) K.W Taylor (1983), The birht of Vietnam, University of Califonia Press – Berkeley – Los Angeles – London (tiếng Anh).

(2) Tiền Hán thư Quyển 28, phần hạ, tài liệu Viện Hán Nôm.

(3) Trần Quốc Vượng (1962), Lịch sử chế đô phong kiến Việt Nam, tập I, Nxb Giáo duc, Hà Nội.

(4) Phan Huy Lê – Trần Quốc Vượng và các tác giả khác (1991). Lịch sử Việt Nam tập 1 Nxb Đai hoc và Giáo duc chuyên nghiệp, Hà Nôi.

(5) Viện Sử học (1971), Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb Khoa học xã hội, tr 290.

(6) Danh sách các địa điểm tìm thấy đồ gốm – sứ Việt nam từ thế kỷ XIV đến XVI ở ĐNA. Cũng xem Đai việt sử ký toàn thư, đã dẫn tập II, trang 152 về việc xuất khẩu ngọc trai ở Vân Đồn.

(7) Đỗ Quang Chính (1972), Lịch sử chữ quốc ngữ, 1620-1659, tủ sách ra khơi, Sài Gòn, Lê Quý Đôn (1964) Phủ biên tập luc, nxb KHXH, Hà Nội

Hàn Vũ Linh, in trong cuốn Văn hóa, Con người vùng biển đảoViệt Nam, nxb Chính trị Hành chính, 2012, in lại trên Tạp chí Truyền thống và Phát triển số 2/2012

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan