MỘT SỐ GIÁ TRỊ PHẬT GIÁO NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

Những tư tưởng của Phật giáo có ảnh hưởng rất to lớn đến đạo đức con người Việt Nam trong truyền thống và hiện nay. Theo nhân bản Phật giáo, thì con người là trung tâm điểm của vũ trụ và vạn vật, cũng chính vì thế mà con người cần được cải hoá và tu dưỡng bản thân cho mình từ ý tưởng, đến lời nói, hành động. Đạo đức con người theo quan niệm của đạo Phật có thể coi là một khoa học về sự cải tạo con người từ thân phận yếu hèn, đau khổ thành một nhân vị tự do, hạnh phúc, sự chuyển hoá con người từ kiếp sống vô minh, phiền não để đạt đến đỉnh cao của giác ngộ và giải thoát. Cuộc sống của con người có đạo đức Phật giáo là cùng chung sống trong một nước Phật đại đồng không phân chia giai cấp và bất công xã hội đó là một xã hội đầy từ bi hỷ xả, người người làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện.

Ngay từ khi còn tu luyện chính bản thân mình, Đức Phật đã vạch ra con đường tu dưỡng đạo đức với mục đích khuyên nhủ chúng sinh chuyển mê thành ngộ, chuyển ác thành thiện, chuyển đau khổ thành an vui, lạc nghiệp. Đạo đức Phật giáo cho đến nay chúng ta thấy vẫn có nhiều điểm tương đồng, phù hợp với phát triển giáo dục con người mới trong thời hiện đại, đạo đức Phật giáo còn phù hợp với khoa học và công ước quốc tế. Theo giáo sư sử học Hà Văn Tấn thì ngay trong kinh ngũ giới là năm nguyên lý chủ yếu cho nếp sống cá nhân, điểm thứ nhât là không sát sinh, nghĩa là tôn trọng triệt để sự sống chung của mọi loài bằng lòng từ bi, nhân ái. Lời khuyên này mãi đến tháng 6 năm 1992, Hội nghị cấp cao Riode Janeiro mới kêu gọi Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới không săn bắn các loài động vật có nguy cơ diệt chủng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, chống ô nhiễm và huỷ diệt môi trường. Như vậy có thể nói Đức Thích Ca là một nhà tiên tri, tư tưởng đạo đức cùa Người còn tồn tại lâu dài và phù hợp với công cuộc đổi mới của chúng ta hiện nay.

Đạo đức Phật giáo khuyên nhủ con người hãy làm nhiều việc thiện, đưa việc thiện vào đời sống hàng ngày trong việc tu thân, tu khẩu, tu dưỡng, ý tưởng. Trong ‘‘Thập thiện nghiệp Đạo Kinh”, Đức Phật khuyên con người hành đạo hãy làm mười điều thiện, đó là:

“Không sát sinh, bằng cách bất bạo đồng và thực hiện lòng từ bi với tất cả chúng sinh.

Không trộm cắp, bằng cách sống lương thiện;

Không tà dâm, bằng cách thực hành hạnh thanh tịnh

Không nói dối, bằng cách sống thành tín;

Không nói thêu dệt, bằng cách nói năng cởi mở;

Không nói hai chiều, bằng cách nói thân hữu;

Không nói ác khẩu, bằng cách nói lịch sự và cao đẹp.

Không tham lam, thực hiện hạnh bố thí.

Không hận thù, thực hiện lòng khoan dung, kiên nhẫn’

Không si mê, thực hiện trí tuệ trong sáng”

Minh họa Đức Phật thuyết pháp, ảnh internet

Mười điều khuyên đó đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó đối với đạo đức cá nhân con người. Từ những chuẩn mực về đạo đức cá nhân đạo Phật hướng môi người phải có những trách nhiệm ràng buộc mật thiêt với gia đình, xã hội và cộng đồng. Trong kinh “Lễ sáu phương”, đạo Phật đã dùng sáu phương trời là: Đông, Nam, Tây, Băc, Hạ phương, Thượng phương? để chi rõ sáu quan hệ và bổn phận của con người trong cách cư xử, ăn ở vớí nhau trong mọt gia đình gương mẫu, từ đó làm nên tảng cho một sà hội yên bình, an vui.

Phương Đông, đó là sự thể hiện của con cái đối với cha mẹ và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Theo đạo đức Phật giáo thì người con phải giúp đỡ cha mẹ bằng năm cách để đáp lại công lao nuôi dưỡng của cha mẹ khi còn tấm bé. Năm cách đó là con cái phải nuôi nấng cha mẹ khi cha mẹ già yếu, con cái phải làm tròn bổn phận như trước đây cha mẹ đà làm; con cái phải giữ gìn thanh danh và truyền thống của gia đình dòng họ; con cái phải xứng đáng với sự kế thừa của mình; con cái phải làm tròn bổn phân dâng cúng với các vong linh đã khuất. Cũng trong Phương Đông, đổi lại với con cái, thì cha mẹ phải chăm sóc con cái bằng năm cách, đó là làm nhiều điều thiện, dạy dỗ con cái cho có nghề, có nghiệp; kén vợ, gả chồng cho con cái với người xứng đáng; trao quyền thừa kế cho con cái vào thời điểm thích hợp. Cách lễ Phương Đông đó làm cho gia đình được hạnh phúc, đầm ấm, an khang và thịnh vượng.

Phương Nam, đó là cách lễ thể hiện quan hệ đạo đức giữa thầy và trò. Người trò phải giúp đỡ thầy bằng năm cách, đó là: đứng dậy chào khi thầy bước vào lớp; giúp việc thầy, sẵn lòng học hỏi, nhiệt tình giúp đỡ, học hành chăm chỉ. Đối lại, được trò giúp đỡ thầy phải chăm sóc trò cũng bằng năm cách; Thầy phải huân luyện cho trò hạnh kiểm tốt; biết cách dạy trò nhớ mãi những điêu đã dạy; hết lòng dạy trò hiểu biết kiến thức; đề cao trò mình trước bạn bè; bảo vệ trò mình mọi nơi.

Tu thân qua kinh Phật, ảnh intenet

Phương Tây, đó là cách lễ thể hiện quan hệ đạo đức giữa vợ và chồng trong gia đình. Người chồng phải đối xứ với vợ theo năm cách; đề cao danh dự cảa vợ; quý trọng vợ, trao cho vợ công việc nội trợ, ăn ở thuỷ chung với vợ, tặng cho vợ những đồ trang sức đích đáng. Đáp lại, cùng theo lễ Phương Tây, người vợ phải săn sóc chồng bằng năm cách: làm tốt các công việc nội trợ, biết quản lý tốt những người giúp việc, phải giữ gìn trinh tiêt, phải trông coi cẩn thận đồ đạc mà chồng mang về, phải khéo léo, chăm chỉ khi làm mọi việc gia đình.

Phương Bắc, đó là cách lễ để thể hiện quan hệ đạo đức của tình bằng hữu, bạn bè. Đấng nam tử phải đối xử với bạn bè băng năm cách: hào hiệp, lịch sự, giúp đỡ, đối xử với bạn bè cũng như chính bản thân mình, giữ đúng lời hứa với bạn. Và cũng chính Phương Bắc, những người bạn bè phải đáp lại sự đối xử của người thiện nam tử bằng năm cách; phải thông cảm khi anh ta sơ xuất, phải giữ gìn tài sản của anh ta trong những khi cần thiết, phải là chỗ nương tựa cần thiết của anh ta khi gặp khó khăn, không được bỏ anh ta khi gặp hoạn nạn, phải yêu mến quý trọng mọi người trong gia đình anh ta.

Phương dưới, đó là cách thể hiện quan hệ đạo đức giữa chủ và thợ, hay giữa chủ với người giúp việc. Người chủ phải xếp đặt công việc tương xứng với công việc của họ, phải cho thực phẩm và trả lương đích đáng, phải săn sóc khi yếu đau; phải chia sẻ những thứ ngon lành với họ; cho họ nghỉ ngơi vào thời gian thích hợp . Và cũng chính phương dưới, được chủ đối đãi tử tế, người thợ, người giúp việc phải đối lại với chủ bằng năm cách; phải dậy trước ông chủ; phải đi ngủ sau ông chủ; phải hài lòng với những gì mà ông chủ giúp cho, phải làm việc tốt, phải phổ biến và ca ngợi thanh danh cho ông chủ.

Phương trên, đó là cách lễ thể hiện quan hệ đạo đức giữa người thiện nam tử với các tu sĩ. Người thiện nam từ phải thể hiện đạo đức của mình với các tu sĩ băng năm cách: bằng hành động thân thương; bằng lời nói thân thương; bằng ý nghĩ thân thương; sằn sàng mở cửa đón các tu sĩ; cung cấp thực phẩm cho các tu sĩ. Đáp lại, các tu sĩ phải quan tâm đến người thiện nam theo năm cách: phải giừ cho anh ta tránh phải điều ác; phải khuyên anh ta làm nhiều điều thiện; phài có thiện cảm với anh ta, phải giáo hoá anh ta những gì mà trước kia anh ta chưa được biết; phải khuyên khích anh ta nên làm những điều tốt đà được học hỏi.

Như vậy, qua nội dung của “Kinh lễ sáu phương”, toát ra quan điểm đạo đức Phật giáo rất rõ nét, chi phôi mọi quan hệ và ứng xử xã hội. Khi chúng ta xem xét tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng như một hình thái của ý thức xã hội, chúng ta thấy ở đó chứa đựng những nội dung văn hóa đạo đức riêng, giúp cho người có đạo tự điều chỉnh hành vi đạo đức của mình, cũng như để thực hiện hoá các quan niệm đạo đức. Trong hệ thống những giá trị, chuẩn mực đạo đức mà Đạo Phật đề ra ở Kinh lễ sáu phương, ngoài những điều khuyên răn, cấm đoán đã tạo nên nội dung đạo đức Phật giáo, còn có những điều khuyên răn, cấm đoán không hề mang ý thức tôn giáo, mà chỉ thể hiện các mối quan hệ thuần tuý về đạo đức con người trần thế. Và theo giáo sư Nguyễn Hữu Vui, chuyên gia nghiên cứu tôn giao, thì những chuẩn mực đạo đức này vẫn luôn có ý nghĩa trong đời sổng đạo đức của mọi xã hội, trong đó có xã hội của chúng ta ngày nay.

Đạo Phật đi tìm lời giải cho cuộc sống con người, ảnh internet

Ngoài những vấn đề đã nêu ở trên, theo quan điểm của đạo đức Phật giáo thì con người với con người phải sống bằng ý niệm tri ân, báo ân, để xứng đáng với kiếp sống con người, vì đó là một nếp sống đẹp có trước có sau, có ân nghĩa, xây dựng cơ cấu xã hội hoà hợp, mọi người phục vụ cho lợi ích chung cho cộng đông. Trong “Tứ phần hành sự sao” “Tổ đình sự uyển”, chúng ta thấy nguyên tắc để xây dựng nếp sống hoà hợp giữa cá nhân xã hội, thể hiện rất rõ nét quan điểm của đạo Phật về sáu nguyên tắc “tu thân ” về đạo đức con người. Đó là:

Thân hoà chung sống. Nghĩa là, mọi người hãy sống đoàn kết, bình đẳng trong tình thưomg yêu đùm bọc lẫn nhau, duy trì nếp sổng có đạo đức vì lòng từ bi, lưong thiện.

Khẩu hoà không tranh chấp. Nghĩa là, mọi người luôn nói với nhau bằng những lời dịu dàng, động viên nhau, không tranh cãi với nhau bằng những lời thô thiển.

Ý hoà làm việc chung. Nghĩa là, mọi người đều đồng tâm, nhất trí, hiệp lực để xây dựng một xã hội yên vui, hạnh phúc, một xã hội thực sự hoà hợp giữa người với người.

Giới luật hoà cùng chấp hành nghiêm chỉnh. Nghĩa là, chấp hành nghiêm chỉnh những quy tắc, luật của nhà Phật và luật pháp xã hội làm sao cho “Đẹp đời, tốt đạo”

Ý kiến hoà hợp giải quyết mọi vấn đề. Nghĩa là, mọi người cùng tham gia đóng góp ý kiến vào việc xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng.

Lợi hoà cùng chia sẻ. Nghĩa là, quyền lợi và nghĩa vụ phải được áp dụng xứng đáng, kinh tế phải được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng, mọi người phải được hưởng đúng với công sức mà mình đã bỏ ra, có như vậy xã hội mới yên ổn.

Qua sáu nguyên tắc để làm hoà hợp con người trong xã hội của đạo đức Phật giáo nó toát lên mối liên hệ giữa đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội, thể hiện cái ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân với cộng đồng. Và ngày nay chúng ta nhìn lại, những nguyên tắc đó vẫn nguyên giá trị  trong định hướng xây dựng đạo đức con người.

Trong đạo đức Phật giáo còn có những quy định cần phải thực hiện thì mới mong sang được bên kia thế giới, gọi là “lục độ”.  Trong “lục độ ” có điều gọi là “nhân ”, tức tà chịu đựng gian khổ, chịu hại mà không oán hận, là tinh thân nhẫn nhục chịu đựng. Phật giáo cho đó là biện pháp giải quyết mâu thuẫn. “Bồ Tat giới” khuyên nhủ: ‘‘Làm tôn thương sự sống đế trả thù sự sống là điều trải ngược với đức hiếu sinh của Bồ Tát” và ‘‘Hận thù diệt hận, đời này không thể có. Từ bi diệt hận thù, đó là định luật nghìn thu”. Điều này cũng giống như câu viết trên tường chùa Bảo Quốc ở Huế

“Lấy ân trả oán, oán oán tiêu tan.

Lấy oán trả oán, oán oán trập trùng” .

Xét ở một khía cạnh nào đó, đây là thái độ thủ tiêu đấu tranh, nhưng trong những hoàn cảnh nhất định thái độ khoan dung đó lại có tác động tích cực đến giáo dục đạo đức xã hội. Những tư tưởng về đạo đức con người theo quan niệm triết học Phật giáo còn có nhiều điều phù hợp nhất định với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay như nhận xét của Hòa thượng Thích Minh Châu: “Đạo đức Phật giảo có khả năng giúp cải thiện cuộc sống của con người hiện tại và xã hội hiện tại ”. Từ đó, có thể thấy vai trò quan trọng của đạo đức Phật giáo trong việc điều chính hành vi và định hướng xã hội.

Hàn Vũ Linh, Phan Thị Thu Hằng, chuyên đề nghiên cứu văn hóa, đạo đức Phật giáo tháng 6/2009

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan