Sinh viên là nhóm nhân khẩu học xã hội đặc thù, vừa là sự biểu hiện của tâm lý sôi nổi, nhiệt huyết trong độ tuổi thanh niên, vừa đóng vai trò là nguồn lực trí thức trẻ sẵn sàng, bổ sung và thay thế, đóng góp vào sự phát triển xã hội, Họ cũng là những người làm chủ vận mệnh của đất nước tương lai. Với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước hướng tới xây dựng nền kinh tế tri thức, trong những năm gần đây chính phủ đã không ngừng gia tăng các nguồn lực đầu tư cho giáo dục và cải cách giáo dục, tạo môi trường thuận lợi để sinh viên tham gia học tập. Tìm hiểu về nhận thức và hành vi học tập của sinh viên hướng tới các giải pháp đẩy mạnh quá trình cải cách giáo dục và đào tạo trong nhà trường, cũng như tích cực hóa hành vi học tập của sinh viên, vừa qua Học viện Báo chí và Tuyên truyền và Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển đã tổ chức trưng cầu ý kiến của 1154 sinh viên thuộc 31 trường đại học tại ba địa bàn Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết này xin được trình bày đến một số phát hiện chính về học tập của sinh viên qua số liệu từ kết quả nghiên cứu.
Về quỹ thời gian dành cho học tập
Trước hết về việc sử dụng quỹ thời gian dành cho học tập của sinh viên hiện nay, theo kết quả điều tra, trung bình một ngày sinh viên sử dụng khoảng 5.58 ( ± 1.62 ) giờ cho hoạt động đi học trên lớp và 3.54 ( ± 1.91 ) giờ cho hoạt động tự học ở nhà. Ngoài ra đối với nhóm sinh viên tham gia học thêm và làm thêm thì thời gian trung bình dành cho hai hoạt động này là 2.36 ( ± 1.34 ) giờ cho học thêm và 2.98 ( ± 1.58 ) giờ cho làm thêm.
Số liệu điều tra phản ánh sự khác biệt về việc sử dụng quỹ thời gian trong tổ chức các hoạt động giữa các nhóm sinh viên đặc biệt phân theo hai yếu tố là giới tính và năm học. Nhóm sinh viên nam sử dụng thời gian trung bình một ngày cho các hoạt động tự học ở nhà, làm thêm và vui chơi giải trí cao hơn so với nhóm sinh viên nữ. Thời gian trung bình đi học trên lớp của nhóm sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba cao cũng hơn so với năm thứ nhất và năm thứ tư. Điều này phản ánh thực tế sự phân bố chương trình học là khá tập trung vào giai đoạn giữa của hệ giáo dục đại học nên nhóm sinh viên năm thứ hai và thứ ba có thời gian trung bình đến lớp nhiều hơn so với những năm khác.

Về hành vi đi học của sinh viên
Một trong những chỉ báo quan trọng đo lường hành vi của sinh viên biểu hiện niềm tin trong vấn đề học tập đó là hành vi đi học đầy đủ của sinh viên. Theo kết quả chỉ có 34.2% sinh viên luôn đi học đầy đủ. Nếu tính cả số lượng sinh viên nghỉ học có xin phép thì tỷ lệ này là 67.9%. Như vậy thực tế đáng lo ngại là luôn có khoảng 1/3 sinh viên có hành vi tiêu cực là nghỉ học không xin phép nhà trường.
Theo phân tích tương quan bảng số liệu, tỷ lệ sinh viên nghỉ học không phép thường tập trung cao hơn ở nhóm sinh viên nam ( 38.9%) và thấp hơn trong nhóm sinh viên nữ (26.7%). Một điều khá ngạc nhiên là ý thức chấp hành kỷ luật của sinh viên khi đi học có sự khác biệt về địa bàn nghiên cứu. Nhóm sinh viên ở Hà Nội có hành vi tích cực với tỷ lệ sinh viên nghỉ học không phép ít hơn so với ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là Huế ( 24.6% so với 37.2% và 43.7%).
Đối với lý do nghỉ học, có hai lý do chính được sinh viên giải thích cho hành vi nghỉ học là tương đối hợp lý và chấp nhận được đó là do bị đau ốm, bệnh tật (41.1%) và bận việc gia đình (35.3%). Xếp ở vị trí thứ ba trong các lý do và cũng là một chỉ báo đáng quan tâm với tỷ lệ khá cao sinh viên nghỉ học do bài giảng của thầy cô không hay, chiếm 32.6%.
Như vậy ngoài hai chỉ báo đầu tiên, có thể thấy việc sinh viên bỏ học do không thích bài giảng của thầy cô là một phản ứng tiêu cực về niềm tin trong học tập, tuy nhiên cũng phải thấy rằng chất lượng giáo dục ở nước ta hiện nay, đang là một vấn đề đáng lo ngại. Quá trình cải cách nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và chất lượng đội ngũ giáo viên chưa phát triển theo kịp với nhu cầu của xã hội và của sinh viên. Điều này lại càng đúng hơn với các vùng xa trung tâm, vùng khó khăn với tỷ lệ học sinh bỏ học do bài giảng của thầy cô không hay ở Huế cao hơn so với khu vực Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (40.0% so với 29.4% và 28.7%).

Đối với lý do nghỉ học khác, có 11.0% sinh viên nghỉ học do bận học thêm và làm thêm, 3.4% sinh viên nghỉ học do thấy các bạn trong lớp nghỉ học nhiều và 11.5% sinh viên nghỉ học vì lý do khác. Kết quả điều tra cho thấy nhóm sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh có hành vi bỏ học do học thêm và làm thêm chiếm tỷ lệ cao khoảng 4 lần so với nhóm sinh viên ở Hà Nội và và 5 lần so với nhóm sinh viên ở Huế. Điều này ở những nơi phát triển kinh tế thị trường mạnh, cần có sự quy hoạch, quản lý sinh viên chặt chẽ hơn.
Về hành vi trong thi cử
Bên cạnh thái độ, hành vi liên quan đến việc đi học đầy đủ, chúng tôi tìm hiểu sâu hơn vấn đề nhận thức và hành vi của sinh viên đối với vấn đề kỷ luật của nhà trường, thông qua chỉ báo khá phổ biến đối với sinh viên hiện nay, đó là vấn đề gian lận trong thi cử. Câu hỏi mà chúng tôi đặt ra là “ Bạn có bao giờ quay cóp trong thi cử không?”.
Kết quả điều tra là khá bất ngờ với tỷ lệ gần 2/3 sinh viên trong mẫu điều tra đều có hành vi quay cóp ít nhất là một lần (63.4%). Chỉ có 36.6% sinh viên là chưa bao giờ quay cóp. Một điều khá ngạc nhiên nữa là tỷ lệ sinh viên quay cóp trong thi cử phân bố khá đồng đều trong các nhóm sinh viên kể cả những sinh viên là cán bộ lớp, cán bộ đoàn, Đảng viên. Chỉ có sự khác biệt biểu hiện về giới tính, đó là nhóm sinh viên nữ có tỷ lệ ít quay cóp hơn so với nhóm sinh viên nam ( 57.9% so với 70.9%).
Số liệu điều tra đã mô tả một phần trong bức tranh về những tiêu cực trong thực trạng giáo dục ở nước ta hiện nay. Có thể thấy quay cóp là một hành vi sai lệch trong học tập của sinh viên nhưng nó là một hiện tượng có quan hệ tỷ lệ thuận với sự lỏng lẻo về tính kỷ luật trong môi trường giáo dục. Thực tế cho thấy nhiều sinh viên hiện nay thường xuyên quay cóp trong học tập, những không bị bắt, không có những hình thức kỷ luật thích đáng, mà trái lại còn có kết quả học tập tốt. Chính điều này đã làm nhiều sinh viên bắt chước và quay cóp trở nên một tâm lý và hành vi phổ biến của sinh viên trong môi trường đại học.
Tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân sinh viên có những hành vi quay cóp trong thi cử, có bốn lý do được sinh viên lựa chọn nhiều nhất, xếp theo thứ tự đó là: do bài vở nhiều (47.4%), do quan niệm học và thi là khác nhau (38.4%), nhiều sinh viên có hành vi như vậy (32.7%) và không có thời gian học bài (22.3%).
Nhìn chung cả 4 lý do sinh viên đưa ra đều thể hiện sự giải thích hoặc theo cách ngụy biện, chống chế ( không có thời gian, bài vở nhiều) hoặc là thái độ, quan niệm biểu hiện những sai lệch về niềm tin trong học tập ( học và thi là khác nhau, nhiều sinh viên làm như vậy). Ngoài ra cũng có một số sinh viên cho rằng họ quay cóp để được điểm cao, vì không bị xử lý, vì không làm ảnh hưởng đến ai và không phải việc xấu. Tuy nhiên tỷ lệ sinh viên có những quan niệm sai lầm này không nhiều ( Dưới 10%).
Về hành vi tự học và học thêm
Về vấn đề học tập của sinh viên bên ngoài các giờ học chính thức ở nhà trường theo kết quả điều tra, phần đông sinh viên có ý thức tốt trong việc tham gia các hình thức học tập như tự học, nghiên cứu ở nhà (79.9%), đi thư viện học (80.3%) và tham gia học nhóm (67.9%). Tuy nhiên về mức độ, số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia các hoạt động này ở mức độ thường xuyên là chưa cao. Đặc biệt có 20.1% sinh viên chưa bao giờ tự học, nghiên cứu ở nhà đây là chỉ báo rất đáng quan tâm về ý thức học tập và niềm tin biểu hiện trong các giá trị học tập của một số sinh viên hiện nay là chưa tốt.
Đối với hoạt động học thêm của sinh viên, theo kết quả điều tra tỷ lệ sinh viên trong mẫu hiện tại tham gia các môn học thêm là khá cao chiếm 44.6%. Bên cạnh đó, số liệu điều tra cũng cho thấy có 37.3% sinh viên đang chuẩn bị tham gia học thêm. Chỉ có 18.1% sinh viên là chưa có dự định gì.
Có thể thấy những yêu cầu đặt ra trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế đang tác động khá mạnh đến giới sinh viên. Mỗi cá nhân sinh viên đều ý thức rõ ràng về việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, các kỹ năng cần thiết để sau khi ra trường có thể tìm được việc làm, khẳng định vị trí, vai trò cá nhân và đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Vì vậy, đối với các chương trình giáo dục và kiến thức thu được trong nhà trường hiện nay là không đủ với nhu cầu của sinh viên. Trong thời gian gần đây, việc sinh viên chủ động tìm kiếm các cơ hội học tập bên ngoài đã không còn là vấn đề xa lạ của cá nhân mà trở thành phong trào chung trong giới sinh viên và ngày càng có nhiều sinh viên tham gia vào các hoạt động này.
Theo số liệu điều tra, tỷ lệ sinh viên đã và đang tham gia hoạt động học thêm phân bố khá đồng đều giữa hai nhóm sinh viên nam và sinh viên nữ, tuy nhiên điều này lại thể hiện sự khác biệt trong phân bố theo khu vực. Nhóm sinh viên ở Huế và thành phố Hồ Chí Minh có số lượng sinh viên tham gia học thêm khá cao ( 59.3% và 53.8%) trong khi tỷ lệ này lại thấp hơn đối với nhóm sinh viên ở thủ đô Hà Nội.
Tìm hiểu về môn học thêm của sinh viên hiện nay, kết quả điều tra cho thấy hai môn ngoại ngữ và tin học chiếm ưu thế tuyệt đối cao trong tỷ lệ sinh viên tham gia học thêm. Có 90.4% sinh viên tham gia học thêm ngoại ngữ và 53.7% sinh viên tham gia học thêm tin học trong tổng số sinh viên đã và đang tham gia học thêm. Ngược lại tỷ lệ này đối với các môn học khác là không đáng kể ( dưới 10%).
Về định hướng giá trị tri thức
Tìm hiểu định hướng của sinh viên đối với các giá trị tri thức mà họ tìm kiếm trong học tập, theo kết quả điều tra, tỷ lệ % sinh viên lựa chọn các giá trị mà họ coi trọng hiện nay khá đồng đều đối vói 5 giá trị “tri thức giao tiếp ứng xử” (47.8%), “tri thức thực tiễn” (47.4%) , “tri thức kinh nghiệm” (46.9%), “tri thức khoa học cơ bản” (46.6%) và “tri thức do thế hệ trước truyền lại” (46.2%) . Trong khi tỷ lệ sinh viên lựa chọn thấp hơn với hai tiêu chí “tri thức trong lao động sản xuất” (33.1%) và “tri thức trong lĩnh vực khác” (34.5%).
Nếu chênh lệch tỷ lệ sinh viên lựa chọn trong giá trị hướng tới các loại tri thức được coi trọng là không nhiều, thì sự khác biệt lại thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa tri thức và giá trị mà sinh viên cho là cần thiết với bản thân họ. Theo kết quả điều tra, có 3 giá trị tri thức mà sinh viên cho là cần thiết có tỷ lệ đồng thuận cao hơn so với các giá trị khác, xếp theo thứ tự là “tri thức kinh nghiệm” (61.4%), “tri thức giao tiếp ứng xử” (60.7%) và “tri thức thực tiễn” (60.0%). Xếp ở thứ tự tiếp theo là “tri thức khoa học cơ bản” (48.7%). Sự hoán đổi vị trí trong bảng giá trị cần thiết so với bảng giá trị coi trọng là “tri thức trong lao động sản xuất” (46.4%) thay thế cho vị trí của “tri thức do thế hệ trước truyền lại” (38.0%).
Từ số liệu điều tra, có thể thấy sinh viên ngày nay vẫn tin tưởng và đề cao vai trò của tri thức mà họ cần học hỏi, đó là cách đối nhân, xử thế trong quan hệ ứng xử, kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn của bản thân. Những khó khăn trong cuộc sống của sinh viên đã biểu hiện ngay từ chính suy nghĩ thực tế của nhóm đối tượng đặc thù này khi không có nhiều sinh viên đề cao giá trị của tri thức cơ bản. Đây cũng là khó khăn đối với xã hội khi chúng ta đang từng bước hướng tới xây dựng nền kinh tế tri thức dựa trên nền tảng của các khoa học cơ bản. Điều đó cũng lý giải thực tế quá trình học tập của sinh viên hiện nay thường thường biểu hiện tâm lý nóng vội, ham thích học những thứ mà mình cho là cần thiết hoặc có thể vận dụng ngay được vào công việc. Trong khi đó họ lại ít chú ý đến việc học tập, nghiên cứu một cách khoa học và bài bản.
Về kết quả học tập
Theo kết quả điều tra trong năm học 2006-2007, hầu hết sinh viên trong mẫu điều tra có kết quả học tập khá tốt với 8.1% đạt loại giỏi và 44.5% đạt loại khá. Cũng có gần 1/2 sinh viên đạt kết quả học tập ở loại trung bình. Tỷ lệ sinh viên có kết quả học tập dưới trung bình là khá nhỏ (1.7%).
Kết quả học tập của sinh viên cũng có những khác nhiều sự khác biệt về các đặc điểm cá nhân, đặc biệt là về giới tính và địa bàn khảo sát. Theo kết quả điều tra, nhóm sinh viên nữ có tỷ lệ học khá và giỏi cao hơn so với nhóm sinh viên nam (58.1% so với 45.4%). Nhóm sinh viên ở Hà Nội cũng có tỷ lệ sinh viên đạt loại khá và giỏi cao hơn so với hai khu vực còn lại. Một số ngành học có tỷ lệ sinh viên đạt kết quả tốt như sư phạm, kinh tế, nghệ thuật, ngoại ngữ và an ninh với tỷ lệ từ 65 % sinh viên đạt kết quả học tập từ khá và giỏi trở lên. Trong khi với một số ngành khoa học cơ bản như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội nhân văn, khối y dược công, sinh viên đạt loại khá và giỏi chỉ dưới 50%. Ngành học có số lượng sinh viên đạt kết quả học tập khá và giỏi thấp nhất là nông lâm, chiếm 23.9%.
Thái độ đối với kết quả học tập
Về suy nghĩ, đánh giá của sinh viên đối với kết quả học tập, theo kết quả điều tra, đa số sinh viên cho rằng kết quả học tập đó phản ánh đúng năng lực của mình ở mức độ rất đúng (17.4%) và tương đối đúng (51.2%). Như vậy vẫn có khoảng 1/3 sinh viên không tin tưởng vào kết quả đánh giá cuối năm học của nhà trường tương xứng đối với trình độ học tập của họ.
Tỷ lệ đánh giá về thực lực học tập không phản ánh sự khác biệt nhiều giữa các nhóm sinh viên phân theo giới tính, địa bàn và ngành học, tuy nhiên quan hệ tương quan lại thể hiện khá rõ với biến số trực tiếp là kết quả học tập. Có tới 86.4% sinh viên có kết quả học tập giỏi và 81.1% sinh viên có kết quả học tập khá cho rằng kết quả học tập phản ánh đúng năng lực trình độ của họ, trong khi tỷ lệ này ở nhóm sinh viên có kết quả học tập trung bình là 53.4% và dưới trung bình là 55.6%.
Về sự hài lòng với kết quả học tập, số liệu điều tra phản ánh có chưa đến 1/3 sinh viên hài lòng với kết quả học tập của mình ( 29.2% ở mức độ rất hài lòng và tương đối hài lòng) . Trong khi đó có tới 70.1% sinh viên không hài lòng với kết quả học tập ở cả hai mức độ không hài lòng và rất không hài lòng.

Từ số liệu điều tra có thể thấy nhóm sinh viên hiện nay thể hiện suy nghĩ và thái độ khá tích cực khi đánh giá kết quả học tập của họ. Mặc dù nhiều sinh viên đạt kết quả học tập tốt, đa số họ tin tưởng vào sự đánh giá của nhà trường, tuy nhiên họ vẫn không cảm thấy thoả mãn, hài lòng với những kết quả mình đạt được và mong muốn có một kết quả học tập tốt hơn. Điều này lại thể hiện rõ trong quan hệ giữa hai biến số kết quả học tập và hài lòng về kết quả học tập. Chỉ có 21.1% nhóm sinh viên đạt kết quả học tập loại giỏi và 21.1% trong nhóm sinh viên đạt kết quả dưới trung bình tỏ ra rất hài lòng về kết quả học tập của mình. Trong khi đó tỷ lệ này lại còn thấp hơn rất nhiều lần ở nhóm sinh viên có kết quả học tập khá và trung bình ( 2.6% và 2.5%).
Về lòng tự hào đối với nhà trường và ngành học
Tìm hiểu về lòng tự hào đối với nhà trường và ngành học là một trong những chỉ báo rất quan trọng phản ánh về giá trị học tập của sinh viên hiện nay cũng như hướng đến những định hướng chính sách giáo dục ở nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Về trường học, theo kết quả điều tra có 23.3% sinh viên rất tự hào và 35.9% sinh viên tương đối tự hào về nhà trường. Ngoài ra có 36.2% tự hào về nhà trường ở mức độ bình thường. Chỉ có 4.6% sinh viên không tự hào về nhà trường.
Đối với ngành học, có 29.3% sinh viên rất tự hào và 40.2% tương đối tự hào về ngành học. Ngoài ra là 28.1% sinh viên tự hào ở mức độ bình thường. Tỷ lệ sinh viên không tự hào về ngành học chiếm tỷ lệ không đáng kể (2.3%).
Qua số liệu điều tra, có thể thấy sinh viên biểu hiện niềm tin và lòng tự hào đối với nhà trường và ngành học là khá cao với khoảng trên dưới 2/3 sinh viên đồng ý với mức độ từ tương đối tự hào trở lên. Nếu so sánh giữa nhà trường và ngành học, số liệu điều tra đã mô tả tỷ lệ sinh viên ngành học có xu hướng cao hơn so với tự hào về nhà trường. Bên cạnh đó, niềm tin cũng biểu hiện mạnh hơn trong thái độ và hành vi của nhóm nam với tỷ lệ sinh viên nam rất tự hào và tương đối tự hào về nhà trường và ngành học cao hơn so với tỷ lệ này phân bố trong nhóm sinh viên nữ. Nhóm sinh viên ở Hà Nội biểu hiện thái độ rất tự hào và tương đối tự hào về nhà trường cao hơn so với nhóm sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh và Huế ( 69.6 % so với 47.2% và 48.0%). Trong khi đó lòng tự hào về ngành học ở mức độ rất tự hào và tương đối tự hào lại không có sự chênh lệch nhiều giữa ba khu vực khảo sát.
Qua một số chỉ báo về nhận thức và hành vi học tập của sinh viên, chúng tôi xin được đề xuất một số khuyến nghị sau :
Thứ nhất, nhà trường cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy. Cần có những quy hoạch tổng thể, định hướng đầu tư lâu dài, để từng bước đáp ứng những tiêu chí của giáo dục đại học hiện đại. Đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin trong nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên có thể tiếp cận internet như một công cụ hữu hiệu hỗ trợ học tập như truy cập, tìm kiếm thông tin, tư liệu cũng như tham gia các diễn đàn đối thoại tri thức trên mạng.
Thứ hai, cần tăng cường đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, mở rộng các hình thức giáo dục lấy người học làm trung tâm để thu hút sự tham gia của sinh viên. Xây dựng hệ thống giáo dục mở trong nhà trường. Cần chú trọng việc củng cố tri thức cơ bản với tri thức chuyên ngành, như tăng cường cập nhật, cung cấp những tri thức khoa học và thực tiễn mới mẻ cho sinh viên. Bên cạnh việc giáo dục tri thức cần hướng đến tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục xây dựng giá trị học vấn và tri thức trở thành một chuẩn mực trong đời sống tinh thần và hoạt động thực tiễn của sinh viên.
Thứ ba, cần tăng cường vai trò quản lý, giám sát sinh viên của nhà trường, thực hiện nghiêm quy chế, cần quyết liệt hơn trong các biện pháp phòng, chống các hình thức gian lận trong học tập, thi cử, tiêu cực trong giáo dục, một mặt để nêu gương, mặt khác từng bước hướng đến xây dựng một môi trường văn hóa mang tính pháp luật và nghiêm túc trong nhà trường.

Thứ tư, cần tăng cường sự gắn kết của sinh viên với nhà trường qua các phong trào, hoạt động đoàn thể. Kết hợp việc học tập với các hình thức tổ chức sinh hoạt ngoại khóa, các hoạt động tình nguyện. Tăng cường tìm hiểu những khó khăn, nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của sinh viên trong học tập và cuộc sống. Xây dựng những diễn đàn đối thoại trực tiếp của sinh viên đối với nhà trường cùng thảo luận, giải quyết những vấn đề khó khăn trong giáo dục, đào tạo của nhà trường và vấn đề học tập của sinh viên. Tăng cường công tác định hướng nghề nghiệp cho sinh viên chuẩn bị ra trường. Đẩy mạnh các biện pháp giáo dục, điều chỉnh những hành vi sai lệch, những biểu hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội trong đời sống sinh viên.
Thứ năm, tăng cường sự liên kết của nhà trường với gia đình và cộng đồng. Có thể thiết lập các cầu nối thông qua các kênh thông tin, các phương tiện thông tin đại chúng. Nhà trường phối hợp với gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc tăng cường các hình thức giáo dục ngoài nhà trường. Trên nền tảng của hệ thống giáo dục, nhà trường cần mở rộng các tiêu chí về học tập và tri thức để định hướng sinh viên và cộng đồng từng xây dựng và hoàn thiện xã hội học tập ở nước ta, đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Đặng Vũ Cảnh Linh, Tạp chí Lý luận Chính trị Truyền thông số 10/2007
