Nằm ở vị trí cửa ngõ chiến lược của các khu vực giao thương Nam – Bắc và Đông – Tây, Việt Nam luôn là một quốc gia bị đe dọa bởi nạn ngoại xâm. Với đường biển dài trải dài hàng ngàn cây số, việc đột nhập vào Việt Nam từ biển vẫn thường là một hướng xâm lược quan trọng mà kẻ thù luôn lợi dụng. Chính vì vậy người Việt Nam bao giờ cũng coi bờ biển của mình là một thành lũy tự nhiên quan trọng và ý thức xây dựng thành lũy này bằng việc cụ thể hóa chiến lược an ninh, quốc phòng hợp lý trong từng thời kỳ.
Nói tới văn hóa biển của người Việt, bao giờ cũng phải xem xét sự phát triển của nền văn hóa ấy trong bối cảnh của việc canh giữ các vùng lãnh hải, bảo vệ chủ quyền dân tộc trên từng đầu gió, ngọn sóng. Lịch sử cho thấy, từ khi dựng nước đến nay, trong những mốc son quan trọng của công cuộc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm đều xuất hiện những trận thủy chiến nơi biển – đảo là tiền đồn cơ bản.
Những chiến công oanh liệt trong việc bảo vệ vùng biển của cha ông chúng ta đã chứng tỏ sự bồi đắp nên giá trị văn hóa và kinh nghiệm chiến tranh quân sự trên biển và bờ biển của người Việt. Nhiều địa điểm cửa sông, bờ biển đã trở thành những bãi chiến trường, ghi dấu chiến công giữ nước. Thời Hai Bà Trưng (Thế kỷ I), nữ tướng Lê Chân (?-43), người phụ nữ tài sắc và tinh thông binh pháp, đã được giao nhiệm vụ khai phá vùng cửa sông Cấm – Hải Phòng ngày nay, khi đó gọi là “Hải tần phòng thủ”. Bà một trong những chiến binh hải quân đầu tiên của dân tộc được ghi danh trong sử sách.
Những trận thủy chiến vang dội sau này cũng được nhắc đến trong vế đối nổi tiếng mà tiến sĩ Giang Văn Minh (1573-1638), khi đi sứ Trung Hoa đã khẳng khái thốt lên với người Trung Hoa rằng: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (xin đừng quên rằng, sông Bạch Đằng ngay từ xa xưa đã đỏ vì máu của kẻ xâm lược). Các trận Bạch Đằng lần thứ nhất (năm 938 – dưới thời Ngô Quyền) chống quân Nam Hán, trận Bạch Đằng lần thứ hai (năm 981 – dưới thời Lê Hoàn) chống quân Tống và lần thứ ba (năm 1288 – Trần Hưng Đạo chỉ huy) chống quân Nguyên đều là những mốc son trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc gắn liền với sự phát triển của con người và văn hóa vùng biển. Mặt khác, những trận đánh này cũng là sự đúc rút kinh nghiệm thủy chiến cần thiết cho quân và dân ta từ đời này sang đời khác.
Có thể thấy, trên biển cũng như trên đất liền, mỗi khi gặp phải quân xâm lược đông và mạnh hơn mình nhiều lần, quân và dân ta đều vận dụng nguyên tắc binh pháp: “chiến tranh nhân dân”, lợi dụng sự chủ quan của địch, dụ chúng vào sâu trong trận rồi phục kích bằng kỳ binh, mà trong thủy chiến, kỳ binh độc đáo nhất chính là thủy triều và bãi cọc trên sông Bạch Đằng. Đó cũng là triết lý chiến đấu hầu như xuyên suốt lịch sử giữ nước của chúng ta.
Chắc hẳn mọi người Việt Nam đều nhớ và tự hào khi đọc những dòng văn hào hùng mà văn sĩ tài ba Trương Hán Siêu (?-1354) đã viết trong bài Bạch Đằng giang phú:
“Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”.
Không chỉ là những trận đánh lớn mà hầu hết triều đình phong kiến xưa kia đều coi biển là hệ thống phòng thủ quốc phòng, cần được đầu tư và chăm sóc thường xuyên. Ngay từ thời Lý, triều đình đã thiết lập những cơ quan hành chính ở các địa phương ven biển, với cơ cấu các Trang (Trang Vân Đồn quản lý vùng biển Đông Bắc). Đến thời Trần, các trang nói trên lại được nâng lên thành các Trấn trực thuộc, trực tiếp chịu sự quản lý của triều đình. Tới thời nhà Lê, chính quyền trung ương lại đặt thêm các trạm Tuần Kiểm nhằm quản lý đất – biển, thu thuế tàu thuyền qua lại, bảo vệ cương thổ nước nhà.
Nhà nước cũng thành lập các Hải đội vừa tuần phòng, vừa đo đạc, nắm biết và hoàn thiện bản đồ các vùng biển và đảo, có ghi chú cụ thể, chi tiết. Các bản đồ cổ thời Trần, Lê đều đã xác định được khá chi tiết một số đặc điểm về địa chất, núi non, sóng gió của khá nhiều vùng biển quan trọng của đât nước.
Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn (1726-1784) đã ghi chép khá cụ thể về hai quần đảo của nước ta với tên gọi: “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa”. Ông viết :“Ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tư Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến; phía ngoài nữa có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để đi lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải”. Những điều ghi chép ấy không chỉ thể hiện tư duy bảo vệ biển, đảo của các triều đại phong kiến nước ta, mà còn là những cứ liệu quý báu chứng minh chủ quyền trên biển không thể chối cãi của Việt Nam.
Một trong những hành động tích cực nhằm giữ vững chủ quyền an ninh trên biển của các triều đại phong kiến là dấu ấn trong việc thành lập Hải đội Hoàng Sa thời Trịnh – Nguyễn (thế kỷ XIX). Hải đội này được đặt dưới quyền chỉ huy của triều đình, phụ trách việc tuần hành trong lãnh hải của đất nước. Hải đội có cơ chế tuyển mộ riêng, do triều đình chọn 70 suất đinh thuộc Cù Lao Ré (còn được biết đến với tên Đảo Lý Sơn). Bản thân những tráng đinh này đều là thanh niên khỏe mạnh, lành nghề, bơi lội giỏi, thông thạo biển cả và có nhiều kinh nghiệm đi biển.
Chính nhờ sự chuẩn bị tốt về mặt quốc phòng như trên mà chúng ta đã nhiều lần đánh thắng các đội tầu hùng mạnh của nước ngoài. Chẳng hạn, đánh thắng hạm đội thực dân Tây Ban Nha vào năm 1595. Vào năm 1642-1644, đã hai lần liên tiếp, thế tử của chúa Nguyễn là Dũng Lễ Hầu Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), trấn thủ đất Quảng Nam đã chỉ huy chiến thuyền đánh tan một đội tầu quân sự của Hà Lan, trả lời cho sự khiêu khích của phía Hà Lan đối với vùng Hội An. Năm 1702, chúng ta lại một lần đánh thắng một hạm đội của thực dân Anh trên biển.
Dưới thời Tây Sơn, nhận thấy vai trò quan trọng của việc bảo vệ biên cương trên biển của đất nước vua Quang Trung (1753-1792) đã tiếp tục duy trì hoạt động của hải đội Hoàng Sa. Phiên chế đội này gồm 70 suất, sung từ dân xã An Vĩnh – huyện Bình Sơn – phủ Quảng Ngãi. Hàng năm, dịp đầu tháng ba, hải đội mộ lính và tuần phòng ven biển theo từng khu vực được phân chia. Nhà vua cũng đã tổ chức một đội thủy quân hùng mạnh vào hạng nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Ông đã chứng tỏ tài quân sự của mình không phải chỉ ở các cuộc chiến trên bộ mà còn tổng kết các kinh nghiệm trong chiến tranh biển, chiến tranh sông nước, vận dụng trong thực tế bảo vệ tổ quốc. Năm 1785, thủy quân Tây Sơn đánh thắng trận Rạch Gầm – Xoài Mút, phá tan 2 vạn thủy quân Xiêm cùng 300 chiến thuyền do cháu vua Xiêm là Chiêu Tăng, Chiêu Sương chỉ huy.
Thời Nguyễn, vua Gia Long (1762-1820) cũng có thể được coi là một “chiến binh” tương đối giỏi về thủy chiến. Một số tư liệu lịch sử cho thấy vị vua này cũng đã quan tâm một cách có ý thức đến việc bảo vệ các vùng biển đảo. Vào năm 1816, ông đã lệnh cho thủy quân của mình cùng đội Hoàng Sa ra khu vực quần đảo Hoàng Sa để khảo sát và đo vẽ xây dựng phương án tổ chức và quản lý vùng biển đảo này. Tiếp đến năm 1836, đời vua Minh Mạng (1791-1841), võ quan Phạm Hữu Nhật (1804-1854) vâng lệnh vua trấn thủ vùng biển Hoàng Sa. Sách Đại Nam thực lục (Chính biên, đệ nhị kỉ, quyển 6) đã viết “Đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo mười cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mội bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc; mặt bài khắc những chữ: Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ” (1). Chính Phạm Hữu Nhật là người đã cắm mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và ông cũng tổ chức các hoạt động đo đạc thuỷ trình, trồng thêm cây cối, khai thác hải vật ở các điểm đảo.

Trước nguy cơ xâm lược của phương Tây, dưới thời vua Minh Mạng, nhà nước cũng đã tổ chức lại các cơ quan tuần kiểm (tuần tra, kiểm sát) dọc bờ biển và ngoài khơi, tăng cường hoạt động của các đội Hoàng Sa, Trường Sa, Bắc Hải. Vua Minh Mạng cũng sai người nghiên cứu, chế tạo tàu chạy bằng máy hơi nước và cho chạy thử trên sông Hương – cửa Thuận. Vào thời kỳ này, các thành quách “Tỉnh Hải”, “Ninh Hải”, “Trấn Hải”… đã được xây đắp công phu từ Hải Ninh – Quảng Yên (vịnh Bắc Bộ) đến Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn và sau này mở rộng tới tận tới ven biển Hà Tiên. (2)
Vào năm 1836, trong Sắc chỉ của mình, vua Minh Mạng đã nhắc nhở các địa phương vùng biển và hải đảo: “ Không cứ là đảo nào, bãi cát nào khi thuyền đi đến cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải tường tận đo vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi ước tính bao nhiêu dặm, lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thằng là vào tỉnh hạt nào phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, nhất nhất miêu tả rõ ràng, đem về dâng trình” (2).
Tháng 8 năm Quý Tỵ 1833, vua Minh Mạng bảo bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông sâu. Gân đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó, dựng miếu lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người ta dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”. (3)
Tiếc thay sau này, triều đình nhà Nguyễn ngày càng suy đốn. Đất nước suy vong gắn liền với sự yếu kém trong tư duy biển đã khiến chúng ta để mất nước. Kẻ thù xâm lược đã đến từ phía biển, phía yếu nhất trong chiến trận phòng thủ an ninh quốc phòng của nước ta thời bấy giờ.
Trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo vệ chủ quyền nước ta, các tổ chức dân quân ở các làng xóm, thôn xã ven biển được khẩn trương xây dựng. Các tuyến phòng ngự ven biển của quân và dân ta đã kiên cường chống trả các trận càn của địch, vừa tổ chức vận tải lương thực, vũ khí và lực lượng chiến đấu, đánh địch những đòn bất ngờ, khiến chúng choáng váng. Nổi bật nhất có thể kể đến đội vận tải đường biển Liên khu 5, quân số lên tới 200 người, 130 chiếc thuyền, trong đó có khoảng một nửa là thuyền lớn, tải trọng 15 đến 20 tấn. Từ năm 1948 đến 1954, đội vận chuyển được gần 3.000 tấn hàng hóa các loại cho các tỉnh cực Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ.
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, hải quân nhân dân Việt Nam thực sự là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường biển, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông đã góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đã trở thành huyền thoại sống mãi với dân tộc.
Bài học về tăng cường tính chủ động về an ninh quốc phòng trong văn hóa biển của người Việt truyền thống đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Những bài học này có thể được tóm lược trong các mặt chủ yếu sau đây :
Thứ nhất, duy trì mặt an ninh quốc phòng trong văn hóa biển của người Viêt nói chung và của cư dân ven biển hải đảo nói riêng. Đẩy mạnh tinh thần cảnh giác trong nhận thức và hành động của cư dân ven biển và hải đảo, tuyên truyền, giáo dục và tạo điều kiện để mỗi cư dân ven biển hải đảo có ý thức cao trong việc bảo vệ tổ quốc. Khuyến khích những cư dân có sức khỏe và am hiểu về biển tham gia chính thức và không chính thức các hạm đội bảo vệ biển.
Thứ hai, đầu tư xây dựng một chiến lược phòng thủ vững chắc đường biên giới biển, cả về phương diện vật chât, tinh thần. Chiến lược an ninh –quốc phòng gắn với việc nâng cao các giá trị văn hóa biển cho cư dân ven biển và hải đảo. Củng cố và phát triển các giá trị truyền thống về tinh thần yêu nước, độc lập, tự chủ cho cư dân ven biển, hải đảo, nâng cao ý thức chiến đấu, sẵn sàng đáp trả mọi sự xâm phạm tổ quốc từ hướng biển.
Thứ ba, đưa những nội dung về văn hóa biển vào chiến lược phát triển an ninh quốc phòng của đất nước. Ý thức việc bảo vệ và phát triển vùng biên giới biển, đảo thành những thành lũy vững chắc cho việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc trở thành ý thức của toàn dân tộc.




| Đức Hưng Đạo Đại Vương dạy về thủy chiến
“Thuyền lớn thì thắng thuyền nhỏ, thuyền chắc chắn thì thắng thuyền mỏng mảnh. Thuyền thuận gió thì thắng thuyền nghịch gió. Thuyền thuận dòng thì thắng thuyền nghịch dòng. Thuyền phải phòng cạn, phòng lửa, phòng gió, phòng bị đục, phòng khóa sắt, cọc sắt… …Họ Ngô (Ngô Quyền) ở Giao Châu nhân nước triều ra khiêu chiến mà giả cách trốn, đợi thuyền địch vì nước triều rút mà vướng cọc, nhân đấy mà đánh. Thế mới biết có thể dùng nạn mắc cạn để đánh quân địch. Phép đánh dưới nước, lợi ở thuyền ghe, kén quân rèn tập cho ngồi, trương nhiều cờ xí làm cho địch ngờ, bắn nỏ mạnh cho trúng, cầm gươm ngắn để đỡ, mang nhiều lá chắn để xông vào, thuận theo dòng mà đánh tới. Gặp địch thì đừng bức bách nó xuống nước, vì nó biết đó là không khỏi chết thì phải liều chết mà không chịu thua, như con thú cùng đường còn đấu, con rết cùng đường còn châm, huống là con người. Nên đợi nó sang sông nửa chừng mà đánh. Kẻ biết trước thì khỏi chết. Kẻ theo sau thì không có đấu tâm. Đó là dùng nước mà đánh người vậy. Trong khi đánh trận bằng thuyền, nghe hồi trống thứ nhất, quan và quân đều nghiêm. Hồi trống thứ hai, binh lính ở thuyền chỉnh đốn chèo lái, cầm binh khí và giàn thuyền, ai ở chỗ nấy; cờ xí, còi, trống,, tùy đó mà chở. Trống đánh hồi thứ ba, các thuyền lớn nhỏ lần lượt tiến ra, tả hữu trước sau, đều theo thứ tự ở bản đồ, ai trái lệnh thì chem.. Chiến đấu dưới nước, không đi trái gió, không đi ngược dòng. Đánh ở nước, nếu ta kém mà địch giỏi, lấy kém mà đánh giỏi thì khó. Nếu như lấy tướng của địch, dùng quân của địch, cướp lấy tay chân của nó, lìa lòng dạ của nó làm cho nó cô lập, rồi đem quân nhà vua nhân đó mà đánh, trong khoảng tám ngày, có thể bắt được tướng.” Trích từ “Binh thư yếu lược” |
“Phàm người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, nếu có thua thì cũng không chết”
Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư (Danh tướng về thủy chiến đời Trần, viết trong lời tựa cuốn “Vạn kiếp tông bí truyền thư” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)
Chú thích
(1), (3), (4) Đại Nam thực lục quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Nxb Giáo dục
(2) Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1960), Phương Đình dư địa chí (bản dịch của Ngô Mạnh Nghinh), Cơ sở Báo chí và xuất bản tự do, Sài Gòn
Hàn Vũ Linh, in trong cuốn Văn hóa, Con người vùng biển đảoViệt Nam, nxb Chính trị Hành chính, 2012, in lại trên Tạp chí Truyền thống và Phát triển số 4/2012
