CAO BÁ QUÁT KẺ NGANG TÀNG HAY NGƯỜI TÌNH ĐẰM THẮM

Từ xưa tới nay nói tới Cao Bá Quát (1808 -1855) ai cũng thừa nhận rằng ông là một con người tài hoa nhưng không bao giờ tự trói mình vào hai vòng danh lợi. Các giai thoại còn cho thấy ông Cao là một con người có cuộc sống phóng túng, ngang tàng, coi trời bằng vung. Tuy nhiên với một số bài thơ tìm thấy trong di cảo thơ văn lại cho thấy Cao Bá Quát lại là con người sống rất tình cảm và ông cũng dành rất nhiều lời viết đặc biệt cho người vợ, cũng là hồng nhan tri kỷ của cuộc đời mình.  

Sinh thời, Cao Bá Quát sẵn sàng múa bút đùa cợt với tất cả, kể cả chê bai thơ văn của vua Tự Đức (1829 -1883) hay chế giễu, đả kích một tên nịnh thần nào đó mà ông cho là phản dân, phản nước. Điều đó đã khiến cho đến nay, hình ảnh của một “thánh” Quát thường vẫn được gắn liền với những giai thoại về sự ngang tàng, phá phách theo kiểu câu đối nổi tiếng ông từng viết:

“ Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái

   Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi ”

                                                                                  (Câu đối treo nơi dạy học )

Minh họa danh nhân Cao Bá Quát, ảnh internet

Chí khí khảng khái, anh hùng, “đầu đội trời, chân đạp đất”, “trọng nghĩa, khinh tài” làm hậu thế luôn tin rằng Cao Bá Quát là con người mạnh mẽ, can trường, ít khi bị chi phối bởi cảm xúc, tình cảm hay những vòng trói buộc “nữ nhi thường tình” như câu ông từng viết trong bài Trà giang thu nguyệt ca (Trăng thu sông Trà) :

 Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ

Kỳ lộ vô vi nhi nữ sầu

 (Trượng phu đã chống gươm đi là đi

 Chẳng bắt chước như nỗi buồn của nhi nữ lúc phân ly)

 Những lời thơ mạnh mẽ đến vậy, chí nam nhi lưng ngựa bốn phương luôn trĩu nặng trong mỗi suy nghĩ và hành động, tuy nhiên qua nhiều bài thơ còn lại đến nay dường như người đời vẫn bắt gặp một Cao bá Quát với tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng, ẩn chứa bao ưu tư và những tình cảm nhân ái, nhân văn. Ông luôn biết nâng niu, tôn trọng vẻ đẹp từ chiếc lá, bông hoa, ngọn cỏ cho tới những dòng sông, dãy núi, vạn vật tự nhiên hiện hữu xung quanh, những thứ tưởng như vô tri, vô giác mà lại trở thành sự xúc cảm, nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật không giới hạn ở ông. Chính vì vậy ông đã viết nên 2 câu đối nổi tiếng mà suốt cả cuộc đời ông tâm niệm, cũng như trở thành phương châm sống mang đậm chất anh hùng và nghệ sĩ trong con người ông:

“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ  bái mai hoa ”

( Mười năm bàn đạo giao du khó như tìm kiếm cổ

Một đời chỉ biết cúi đầu sùng bái mai hoa)

Một trong những góc đặc biệt của Cao Bá Quát là đời sống nội tâm và tấm lòng chân thành yêu thương mà ông dành cho vợ, người đã cùng ông chia sẻ những nỗi truân chuyên từ thủa hàn vi, nghèo khó. Tài liệu không cho biết vợ ông là người như thế nào nhưng trong các bài thơ của Cao Bá Quát hình ảnh người vợ luôn hiện lên một cách rõ nét, với một sức truyền cảm mạnh mẽ. Đó là một người đàn bà lam lũ, nghèo khổ nhưng mang đầy đủ những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam: yêu chồng, thương con, chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh như trong cuộc sống để vun vén cho gia đình và mong chồng đạt thành công danh, sự nghiệp. Vì vậy hình ảnh người vợ những kỷ niệm về người vợ luôn in đậm không mờ phai trong tâm trí Cao Bá Quát những ngày xa quê. Có những đêm mưa đọc sách trong thư phòng vắng lặng ông nhớ tới vợ với nỗi nhớ thương da diết :

“ Tế vũ phi phi độc bế môn

Cô đăng thân diệt tiếu vô ngôn

Thiên biên chinh khách khuê trung phụ

Hà xứ tương tư, bất đoạn hồn”

(Cửa cài lất phất đêm mưa

Ngọn đèn khi tỏ khi mờ lặng không

Người viễn tái kẻ cô phòng

Tương tư ai chẳng não lòng như ai)

Trệ vũ chung dạ cảm tác   

(Mưa dầm suốt đêm cảm tác, bản dịch thơ của Hoàng Tạo)

          Luôn yêu thương và nhớ nhung người vợ của mình, đó cũng là tình yêu chân thật nhất từ trong sâu thẳm tâm hôn, trái tim mà Cao Bá Quát không hề giấu giếm. Thậm chí ông luôn đưa hình ảnh vợ mình vào thi ca, đây cũng là điều ít gặp ở một xã hội thượng tôn Nho giáo. Khi người bạn là Lưu Quỹ về thăm quê, ông cũng nhân đó bộc bạch tấm lòng đồng cảm, thương vợ qua những lời thơ thống thiết :

“Tư hương ký dạ ngâm

Nhân quân phỏng gia thất

Phong vũ cộng triêm khâm”

(Nỗi lòng nhớ quê gửi vào khúc hát đêm khuya 

Nhân tiện nhắn bác về thăm hỏi nhà tôi

Trong buổi gió mưa này hai bên cùng đầm đìa lệ)

Văn Lưu Nguyệt trì Bắc hành khuyết vi diện biệt phụng ký nhị thủ

(Nghe tin Lưu Nguyệt Trì ra Bắc, không thân tiễn được kính gửi hai bài )

          Một lần khác khi nhận được tấm áo bông vợ gửi, ông cảm động đến trào nước mắt trên từng đường kim, mũi chỉ của vợ :

“Nhất giam đăng hạ vạn hàng đề,

Thử dạ tàn hồn nhiễu tú khuê…

…Hàn y ổn thiếp phong tân tứ,

Tố quản tiêm minh tẩy cựu đề” 

(Trước đèn thư mở lệ muôn hàng

Hồn gửi phòng the luống vấn vương…

…áo mền ủ ấm bao tình tứ

Bút mới dầm tan mọi thảm thương)

Tiếp nội thư tín ký hàn y bút điều sổ sự  

(Tiếp thư vợ gửi áo rét, bút và vài thứ bản dịch thơ của Nguyễn Quý Liêm)

          Cao Bá Quát cảm động không phải chỉ do chiếc áo bông gửi tới vào mùa lạnh mà còn do tấm lòng của người vợ nghèo khó vương nặng ở trong đó. Ông nhận biết rằng ở quê nhà xa xôi vợ ông phải vất vả tần tảo sớm hôm giã gạo mướn rồi đêm khuya lại ngồi khâu áo trong gió bấc sương lạnh. Tấm áo là tấm lòng đè nặng lên tâm tình nhà thơ vừa yêu thương, vừa biết ơn người vợ chu đáo, hết lòng lo cho ông ăn học.

Giai thoại kể lại rằng có lần đoàn sứ giả Việt Nam trong đó có Cao Bá Quát đi Ba-ta-vi-a (Indonesia) được chứng kiến cảnh vợ chồng người Anh âu yếm nhau, chồng nâng niu rót sữa vợ uống. Tất cả các quan Việt Nam trong phái bộ sứ thần đều mang tư tưởng đạo đức phong kiến ra phê phán, chê bai, riêng Cao Bá Quát thì đã thẳng thắn cầm bút nêu lên quan điểm và nỗi lòng mình:

“Phiên thân cánh thiến lang phù khởi

Khởi thức Nam nhân hữu biệt ly”

(người phụ nữ nghiêng mình đòi chồng nâng dậy

làm cho người nước Nam nghĩ đến mình đang ở trong cảnh biệt ly)

Dương phụ hành (Bài hành người thiếu phụ Tây Dương)

Đó chính là những lúc Cao Bá Quát nhớ tới vợ, ông thèm khát được giúp đỡ, chăm sóc cho vợ trong cuộc sống. Người vợ ở xa nhưng từng kỷ vật, từ chiếc gương nhỏ, một tấm áo rét đã là những gì thiêng liêng nhất mà suốt đời ông gìn giữ bên mình. Nó còn phảng phất hình bóng, hơi ấm của người vợ dịu hiền người mà dường như suốt đời ông luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ là mình không làm được những gì tốt đẹp xứng đáng với những hy sinh của nàng. Hình ảnh của người vợ luôn tiếp sinh lực cho ông những lúc nguy khó đồng thời cũng chứng minh mối tình cao đẹp không một uy lực nào có thể phá vỡ được của ông :

“ Tiểu kinh ký viễn khiếp

Hàn y lưu cố phòng

Trì thử các tự úy

Bất khiển lưỡng tương vong”

(Chiếc gương nhỏ đã gửi vào trong tráp người đi xa

Tấm áo rét để lại trong phòng ủ

Giữ những vật ấy để cùng tự yên ủi

Không để cho đôi ta quên nhau )

Tự quân chi xuất hỹ (Từ ngày anh ra đi)

          Cả cuộc đời, Cao Bá Quát bao giờ cũng đề cao sự trong sạch, căm ghét sự giả dối và bạc ác nhưng cũng luôn ca ngợi những mối tình chung thuỷ. Và tình cảm của ông đối với vợ cũng xứng đáng để người đời ca ngợi giống như họ đã ca ngợi sự ngang tàng của ông trước cường quyền bạo lực. Bởi lẽ ông đã noi gương Trường Khanh đời xưa, nguyện hát khúc “Bạch đầu ngâm” cùng người vợ thủy chung, son sắt, chứ nhất định không chạy theo những mối tình khác.

Hàn Vũ Linh, đăng trên Tập san Hạnh phúc đời thường, Tp Hồ Chí Minh, số 10/1991, in lại trên Tạp chí Khoa học và Phụ nữ số 11/1991

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan