XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP – MỘT TRONG NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC HIỆN NAY

Về xã hội học tập

Có thể nói xã hội học tập là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với nước ta. Nó chỉ thực sự xuất hiện trên một số báo chí và sách vở khoa học trong những năm gần đây nhưng nội dung cũng vẫn còn chưa được hiểu một cách thống nhất.

Chúng ta đều biết, vào năm 1976 trong một bản báo cáo nổi tiếng có tiêu đề là “Học tập để tồn tại” lần đầu tiên tổ chức Văn hoá giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã đưa ra khái niệm về xã hội học tập. UNESCO cũng giải thích rằng :“Xã hội học tập là một xã hội trong đó tất cả các tổ chức trong xã hội đều là người cung cấp giáo dục, chứ không riêng gì các cơ quan trách nhiệm chủ yếu là giáo dục. xã hội học tập mà một khía cạnh của nó là toàn thể công dân đều phải học tập và triệt để lợi dụng các cơ hội do xã hội học tập cung cấp”.

Ước mơ tuổi thơ, minh họa internet

Với tinh thần trên, trong một xã hội được coi là xã hội học tập thì mọi tổ chức trong xã hội đều phải tham gia vào công tác giáo dục và đào tạo, xã hội phải cung cấp cơ hội học tập một cách đầy đủ và công bằng cho mọi người và sau cùng toàn thể công dân đều có nghĩa vụ và quyền lợi trong học tập và triệt để tận dụng cơ hội do xã hội học tập cung cấp.

Ở Việt Nam, cách hiểu và giải thích về xã hội học tập cho đến nay vẫn là khá đa dạng. Nhìn chung các tác giả Việt nam thường nhấn mạnh tới vai trò của Nhà nước, chính quyền đoàn thể và cộng đồng trong việc tạo điều kiện cho mọi người dân có thể tham gia vào quá trình học tập, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tri thức và học vấn.

Trong khi nhấn mạnh tới sự cần thiết phải xây dựng một xã hội mà trong đó mọi công dân đều có thể tham gia vào quá trình nâng cao trình độ học vấn, một nhà nghiên cứu tại Hội khuyến học Việt Nam đã cho rằng: “Xã hội học tập là xã hội mà ai cũng được học hành. Học hành sáng tạo suốt đời. Công nông trí thức hoá, dân tộc thông thái”, một xã hội đáp ứng tốt nhất cả ba nhu cầu cơ bản của dân: Nhu cầu học “ai cũng được học hành sáng tạo suốt đời), nhu cầu làm (tri thức hoá công nông), nhu cầu sống (thông thái, văn hoá, văn minh) (1). Cái cốt lõi của xã hội học tập  mà tác giả nói trên nêu ra là “Ai cũng được học hành”, tức là việc học hành cho số đông dân số. Nội hàm của xã hội học tập , theo tác giả này là phải đáp ứng được cả ba nhu cầu: Nhu cầu học tập, nhu cầu làm việc và nhu cầu sống.

GS.VS. Nguyễn Cảnh Toàn trong khi cũng cho rằng, xã hội học tập là một xã hội trong đó ai cũng học và học suốt đời, lại nhấn mạnh thêm rằng: “Nếu hiểu xã hội học tập là một xã hội trong đó ai cũng học và học suốt đời thì chưa đủ để thiết kế lộ trình dẫn tới một xã hội như vậy và xã hội đó chưa chắc đã đảm bảo cho nước ta đuổi kịp các nước phát triển hơn ta, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu. Khi xây dựng lộ trình để tiến tới xã hội học tập luôn luôn phải nghĩ đến hai chữ khả thi và hai chữ đuổi kịp” (2).

Để đạt được hai chữ “khả thi”“đuổi kịp”, trong lộ trình xây dựng xã hội học tập, GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn đưa một số giải pháp trong đó nhấn mạnh tới vai trò chủ đạo của người học. Theo giáo sư, cần phải chú trọng rất nhiều đến sự tự học, lấy “tự học” một cách thông minh, sáng tạo làm nền cho xã hội học tập. Theo GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn: “Nền giáo dục của chúng ta hiện nay chỉ mới lo được cho 1/3 dân số mà đã thấy vất vả, huống chi lo nốt cho 2/3 dân số còn lại. Vậy tất yếu phải khơi dậy nội lực tự học (bao gồm cả giáo dục, tự nghiên cứu, tự trau dồi nghề nghiệp, tự tìm nghề)” (3). Bên cạnh việc xây dựng ý thức tự học, giáo sư cũng đòi hỏi là “học đi đôi với hành phải chỉ đạo mọi hoạt động  học”.

Lớp học minh họa internet

Từ nhận định ở nước ta “học ít đi đôi với hành”, GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn đề xuất vấn đề là cần phải liên kết giữa đại học với phổ thông theo phương thức: “Đại học chủ trì, phổ thông cộng tác”. Để thực hiện được điều đó, theo giáo sư, chúng ta cần phải: “Tận dụng các lực vô hình ẩn náu trong tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội”. GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn nhận xét và phê phán phương thức giáo dục và đào tạo đại học của nước ta hiện nay. Ông cũng đề xuất một số giải pháp để phát triển mạnh mẽ việc học đại học từ xa, tức là các sinh viên phải học một học kỳ ở đại học từ xa, hết học kỳ đó sẽ chọn sinh viên vào học chính qui, chú ý đến cách tự học qua tài liệu của sinh viên.

Nếu xã hội học tập được hiểu là một xã hội mà trong đó mọi người dân đều được đi học và mỗi người dân đều tham gia học tập và có ý thức cao trong học tập, thì chúng ta có thể phác hoạ lược đồ các mối quan hệ cơ bản của xã hội học tập như sau :

Như vậy, phát triển xã hội học tập ở Việt Nam bao gồm hai nội dung chính. Đó là những điều kiện xã hội cần thiết cho việc học tập trong đó, mọi người dân đều được Đảng, Nhà nước, xã hội và gia đình chăm lo để họ được học tập. Nội hàm này sẽ tạo ra một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trong học tập. Mọi người đều có quyền được học tập. Đây là yếu tố ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta và cũng là việc vận dụng, thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Nội dung thứ hai của xã hội học tập là thuộc về mỗi người dân. Tức là trong điều kiện mà xã hội đã tạo ra, mỗi người dân đều phải có ý thức chủ động và tự giác trong học tập. Mỗi người dân đều phải là chủ thể của xã hội học tập. Họ vừa tham gia vào quá trình học tập, nâng cao kiến thức và học vấn của mình lại vừa có trách nhiệm truyền đạy những kiến thức của mình cho những người khác. Trong xã hội học tập, nếu mỗi người dân không có tinh thần tự nguyện, tự giác, nhận rõ trách nhiệm của cá nhân thì sự cố gắng của tập thể sẽ không có tác dụng. Do đó, trách nhiệm của cá nhân trong xã hội học tập là rất lớn. Cần phải xây dựng một sự kết nối chặt chẽ giữa các cá nhân với các tập thể, trong đó trách nhiệm của cả cộng đồng cũng như của mỗi cá nhân đều là quan trọng. Cần phải tạo ra tinh thần học tập từ cá nhân tới gia đình rồi toàn thể cộng đồng. Nếu trong một gia đình từng thành viên không tham gia học tập thì làm sao có gia đình hiếu học; nếu trong dòng họ mọi người không tham gia học cũng sẽ không có dòng họ hiếu học; nếu trong một cộng đồng, mọi người không ai đi học chắc chắn sẽ không có cộng đồng hiếu học…

Một số định hướng xây dựng xã hội học tập

Nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến mục tiêu xây dựng xã hội học tập trong đó coi trọng phương thức giáo dục thường xuyên. Trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta, cùng với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên được coi là một phương thức hết sức quan trọng để đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện. Giáo dục thường xuyên có mối quan hệ hữu cơ với các loại hình giáo dục khác, bổ sung cho nhau và làm hoàn chỉnh quá trình học tập liên tục và suốt đời của người dân. Giáo dục thường xuyên khuyến khích người học tự học, tự tìm kiếm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.

Luật Giáo dục (2005) quy định rõ: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa học, vừa học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” (4).

Điều 45 luật Giáo dục quy định chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục thường xuyên là:

“1.Nội dung:

a.Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;

b.Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học; cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;

c.Chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;

d.Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.

  1. Các hình thức giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống  giáo dục  quốc dân bao gồm:

a.Vừa làm vừa học;

b.Học từ xa;

c.Tự học có hướng dẫn.

3.Nội dung giáo dục thường xuyên phải thiết thực, giúp người học nâng cao khả năng lao động, sản xuất, công tác và chất lượng cuộc sống.

4.Phương pháp giáo dục thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, sử dụng phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học” (5).

Chính sách của Nhà nước ta cũng chú trọng đến việc kết hợp giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ngoài nhà trường, đòi hỏi giữa chúng phải có sự thống nhất với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau về mục tiêu, tính chất, nội dung và phương pháp học tập, đào tạo.

Chúng ta đều biết, các hình thức giáo dục đa dạng và phong phú ở nước ta đều nhằm vào mục tiêu khuyến khích người học tự giác học tập. Đó là một định hướng không thể thiếu được cho một xã hội học tập. Khi ý thức học tập của mọi người dân đã được nâng cao thì các hình thức học tập ngoài nhà trường cũng cần phải được quan tâm đặc biệt.

Học tập ngoài nhà trường có phạm vi rộng hơn, đa dạng, phong phú và linh hoạt hơn học tập chính quy trong nhà trường. Tức là học tập ngoài nhà trường có thể học mọi nơi, mọi lúc, mọi chỗ; học lẫn nhau, và tự học; học qua các chương trình truyền thông đại chúng; học qua các buổi sinh hoạt, tập huấn, chuyển giao công nghệ…Học ngoài nhà trường không cần trường lớp cố định, chương trình cố định, rất linh hoạt, có lúc có người hướng dẫn và có lúc không có người hướng dẫn. Học tập ngoài nhà trường như “cánh tay dài” của học tập trong nhà trường hỗ trợ, làm rõ cơ sở lý luận với thực tiễn (Học đi đôi với hành. Nhà trường gắn liền với thực tế, bổ sung thêm kiến thức, kinh nghiệm cho người học. Làm phong phú cơ sở lý luận đã học trong trường.

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, điều cơ bản nhất và quan trọng nhất là giữa hai hình thức học tập này là sự thống nhất với nhau nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng một xã hội học tập nhằm giáo dục đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp…Như vậy, học tập trong và ngoài nhà trường đều là một bộ phận của xã hội học tập hoặc là những hình thức và phương pháp đa dạng để thực hiện xã hội học tập. Mục tiêu, nội dung, nguyên lý và phương pháp cũng như đối tượng của học tập trong và ngoài nhà trường phải phù hợp và thống nhất với xã hội học tập.

Một số quan điểm, giải pháp phát triển xã hội học tập

Cần phải chuyển biến mạnh mẽ từ mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên. Có thể nói, sự chuyển đổi có tính cách mạng này trong ngành giáo dục đòi hỏi một sự nỗ lực rất lớn của toàn bộ xã hội, từ các cấp chính quyền, đoàn thể cộng đồng, gia đình tới mỗi cá nhân trong xã hội, trong đó có nhóm học sinh, sinh viên.

Hiện nay, nhân loại đang có những bước chuyển biến từ một nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức trong phạm vi toàn cầu. Tuy mỗi quốc gia và khu vực, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh địa lý, lịch sử kinh tế chính trị của mình lại có những sư thay đổi khác nhau nhưng những sự liên kết và hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế không thể tránh khỏi.

Mặc dù chúng ta vẫn còn ở vào tình trang kinh tế kém phát triển nhưng để không bị tụt hậu trước sự phát triển của thế giới, chúng ta không thể chỉ đơn thuần chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, mà đồng thời phải thực hiện một số bước đi hướng tới sự phát triển kinh tế tri thức. Theo sự phân tích của giáo sư Phạm Tất Dong thì: “chỉ trong vòng mấy chục năm gần đây, tri thức của loài người tích luỹ được đã ngang bằng tổng số tri thức có được trong 2 thiên niên kỷ qua. Do tri thức của loài người tăng quá nhanh nên vòng đời của các công nghệ ngày càng ngắn lại, các sản phẩm mới nhanh xuất hiện. Sự đổi mới các sản phẩm sẽ quyết định thắng lợi của cạnh tranh trên thị trường”.Trong điều kiện như vậy, việc học tập thường xuyên trở thành một nhu cầu của con người. Dừng học tập tức là chấp nhận tụt hậu. Thế là, xã hội buộc phải thực hiện việc học tập liên tục và suốt đời. Một xã hội có phương thức học tập suốt đời được gọi là xã hội học tập”. (5)

Để thực hiện và phát triển xã hội học tập, cũng theo sự phân tích của giáo sư Phạm Tất Dong, chúng ta phải xác lập được một hệ thống giáo dục đào tạo gồm  ”hệ giáo dục ban đầu và hệ giáo dục tiếp tục. Hệ thứ nhất là hệ các trường học từ nhà trẻ mẫu giáo đến đại học. Hệ thứ hai là hệ dành cho việc học của những người ra khỏi hệ ban đầu. Hai hệ thống đó kết hợp cặt chẽ với nhau, tạo ra những cơ hội học tập cho mỗi thành viên trong xã hội.” (6)

Xây dựng xã hội học tập là một giải pháp mang tính chiến lược để nền kinh tế đang chuyển đổi của chúng ta tiếp cận và từng bước đi vào kinh tế tri thức. Do vậy, trong quá trình triển khai xây dựng xã hội học tập, chúng ta cần chú ý tới những vấn đề sau đây:

  1. Cần phải củng cố và phát triển chiến lược giáo dục trên cơ sở những định hướng của xã hội học tập. Tức là có các chính sách và cơ chế xác lập được một cơ sở xã hội mà mỗi người dân đều có thể tham gia vào quá trình học tập. Có các chính sách, chế độ, các hình thức khuyến học để động viên tinh thần thái độ tham gia học tập của toàn xã hội.
  2. Cần tập trung được mọi nguồn lực của xã hội cho các hoạt động giáo dục, phát huy mạnh mẽ và thống nhất vị trí và vai trò của chính quyền, đoàn thể, cộng đồng xã hội và gia đình cùng với nhà trường trong hoạt động giáo dục. Trong xã hội học tập, để tạo nhiều cơ hội học hành trong nhân dân, các quá trình giáo dục và đào tạo sẽ phải được tổ chức rất đa dạng về nội dung cũng như về hình thức. Bên cạnh hệ giáo dục chính quy có hệ giáo dục không chính quy và hệ giáo dục phi chính quy. Người học có thể chọn một trong ba hệ giáo dục này, nhưng có thể sẽ tham gia vào cả 2 hoặc 3 hệ giáo dục đồng thời.
  3. Xây dựng những định hướng giá trị mới trong học tập, coi việc nâng cao kiến thức và học vấn là một nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người dân trong đó có thế hệ trẻ.Trong quá trình học tập, cần phải giáo dục cho thanh thiếu niên ý thức tự giác trong học tập, sự say mê kiến thức và học vấn, học tập vì mục tiêu nâng cao những tri thức mới, đi học không thể chỉ nhằm có bằng cấp, và địa vị xã hội. Cần phải giúp đỡ, hỗ trợ cho thanh thiếu niên trong việc lựa chọn ngành học, xây dựng những mối quan hệ lành mạnh trong sáng trong học tập, kính trọng thầy cô, hỗ trợ, giúp đỡ bạn bè, hướng tới mục tiêu cao nhất là làm chủ được những tri thức mới để vận dụng vào cuộc sống lao động và sáng tạo trong thực tiễn.
  4. Cần phải kết hợp học tập với thực hành. Học tập phải đi đôi với lao động sáng tạo. Nhà nước cần phải có chính sách sử dụng và đãi ngộ tương xứng với những người có trình độ học vấn, tạo điều kiện để các kiến thức được đào tạo trong học tập có thể được vận dụng trong cuộc sống, góp phần tích cực và hiệu quả vào việc phát triển kinh tế. Đẩy mạnh việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại làm cơ sở cho việc nâng cao nhận thức và học vấn của toàn xã hội.
  5. Đẩy mạnh các quá trình “trí thức hoá” người lao động, trước hết là trí thức hoá công, nông tạo điều kiện thuận lợi để mỗi người lao động có thể nâng cao học vấn và địa vị xã hội của mình. Quá trình “trí thức hoá” sẽ cần phải được phát triển đồng hành với quá trình phát triển công nghệ và kỹ thuật, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, hướng tới sự phát triển của nền kinh tế tri thức.
  6. Thanh niên nước ta là lực lượng lao động chủ yếu trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, là nguồn vốn con người (Human Capital). Nguồn vốn đó sẽ chỉ có giá trị lớn nếu được quan tâm giáo dục và đào tạo đầy đủ. Vì vậy, tăng đầu tư cho giáo dục để tăng vốn con người tuy là rất cần thiết nhưng chưa đủ để cho nguồn vốn đó phát triển mạnh. Vấn đề là ở chỗ bản thân thanh niên cũng phải nhận thức được về tầm quan trọng của việc học tập thường xuyên, liên tục và học tập suốt đời. Chỉ có sự tham gia tích cực của thế hệ thanh thiếu niên vào học tập, chúng ta mới có được một xã hội học tập.

Đặng Vũ Cảnh Linh, tham luận hội thảo khoa học Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, 2007

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

(1) Vũ Oanh (2005), Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng xã hội học tập, Báo Nhân dân, ngày 17 tháng 5 năm 2005
(2), (3) GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn (2003), Bước đi để xây dựng xã hội học tập, Báo khoa học và đời sống. Ngày 18/8/2003.
(3), (4) Quốc hội (2005), Luật Giáo dục,NXB Chính trị quốc gia. HN – 2005, tr 37
(5), (6) Phạm Tất Dong, Thanh niên với xã hội học tập, Bài phát biểu tại Hội thảo về Đoàn thanh niên với vấn đề học tập ngoài nhà trưòng.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan