Trong lịch sử Trung Quốc, thật ít có những nhân vật nào lại thu được nhiều thành công và đồng thời cũng lại có quá nhiều sự đa dạng và mâu thuẫn như Tào Tháo (155-220). Tào Tháo nhà chính trị và Tào Tháo nhà thơ, Tào Tháo gian hùng và Tào Tháo nghệ sĩ, con người anh hùng trong sách sử và con người xấu xa trong tiểu thuyết, tất cả đã tạo nên một lớp sương huyền ảo, những thực hư xung quanh con người ông.
Cuộc đời và sự nghiệp của Tào Tháo, chất chứa hàng loạt những chiến công hiển hách, oai hùng khiến cho người đời vừa nể sợ, vừa khâm phục. Là một nhà quân sự tài ba, một nhà chính trị lỗi lạc, ông đã đóng vai trò là người xoay chuyển cục diện của cả một thời đại.
Nếu như những hành động của Tào Tháo trên vũ đài chính trị còn gây ra nhiều bàn cãi, nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu lịch sử, thì giới phê bình văn học lại thống nhất đánh giá cao sự nghiệp thơ ca của ông. Có thể nói sự nghiệp thơ ca của ông cũng hiển hách không thua kém gì sự nghiệp chính trị. Với những bài thơ tuy phát sinh từ chất diễm lệ của Nhạc Phủ đời Hán, song nhờ phong cách sáng tác độc đáo và sáng tạo mà ông đã đưa được những triết lý, tư tưởng xã hội sâu sắc vào thơ ca. Tào Tháo không chỉ lên tới đỉnh cao nhất của văn học thời Kiến An, được đời sau truyền tụng mà con người thi nhân của ông còn tỏa bóng cả một dòng văn chương đặc sắc: thơ Ngũ ngôn.
Không còn nghi ngờ gì nhiều, trên con đường chính trị, Tào Tháo là một người lạnh lùng và sắt đá. Để hoàn thành đại nghiệp, ông luôn biết kìm nén, che dấu những tình cảm riêng tư. Dường như trong cả cuộc đời mình, Tào Tháo chưa lần nào xử lý công việc trên phương diện tình cảm cả. Là người ủng hộ quan điểm chính trị của phái Pháp gia, đối với Tào Tháo, tất cả chỉ có thể là lý lẽ và luật pháp.
Chính quan điểm chính trị cứng rắn của ông đã tạo ra một sự tương phản gần như đối lập giữa hành động và tình cảm, giữa ý chí và cảm xúc, giữa quân sự và văn thơ của ông. Có thể nói, chỉ với thơ ca ông mới bọc lộ những cảm xúc đích thực của riêng mình. Mặc dù Tào Tháo làm thơ không nhiều, ông thật ít có thời gian dành cho việc sáng tác, song hầu hết các bài thơ của Tào Tháo làm ra đều chan chứa tình cảm, thể hiện những rung động sâu sắc của ông trước cuộc sống, trước xã hội và trước những biến động của lịch sử. Đến với thơ ca, lĩnh vực mà ít ai che dấu được lòng mình thì Tào Tháo cũng đã biểu lộ một trái tim thật nhậy cảm, cũng biết buồn thương và giầu lòng nhân ái, không hề thua kém gì những thi nhân khác.

Tào Tháo sống vào thời mà triều đại Đông Hán hủ bại, đang suy tàn và sụp đổ. Sự u mê, bất lực của những ông vua như Hoàn Đế, Linh Đế, đã để cho bọn hoạn quan “Thập thường thị” ngang nhiên hoành hành trong triều đình, tự ý thưởng phạt, phá vỡ kỷ cương, luật pháp. Bên ngoài thì bọn quan lại địa phương cấu kết với bọn cường hào cát cứ, xưng hùng, xưng bá, hà hiếp, bóc lột dân lành, rồi quay lại thôn tính lẫn nhau. Xã hội loạn lạc, ở đâu cũng máu lửa, binh đao, dân chúng phải chịu cảnh tủi nhục, tha phương, ly tán. Chính điều đó đã khiến không ít người dân phải đứng lên khởi nghĩa chống lại triều đình. Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa “Khăn vàng” của ba anh em Trương Giác (140-184), Trương Lương (?-184), Trương Bảo (?-184).
Tào Tháo đã từng làm quan, từng muốn đem hết tài năng và tâm huyết của mình ra thi thố, mong giúp dân, giúp đời, cải tạo xã hội. Song càng dấn thân vào chốn quan trường, Tào Tháo càng nhận thấy sự rối loạn của xã hội là do chính bọn quan lại gây ra chứ không phải những người nông dân khởi nghĩa. Chính vì vậy, ông đã nuôi chí hướng lập lại trật tự xã hội và bình thiên hạ riêng biệt. Tào Tháo đã dùng tài thơ phú để bày tỏ thái độ bất bình của mình trước hiện thực xã hội.
Trong nhiều bài thơ Tào Tháo đã thẳng thắn vạch mặt bọn quan lại thống trị đương thời. Trong hai bài “Giới Lộ Hành” và “Cảo Lý Hành”, hình ảnh bọn chúng nếu không phải là hạng bất tài, vô dụng, tham tàn như Đổng Trác (130-193), Lý Thôi (?-198), thì cũng là bọn tiểu nhân, xảo trá như “Thập thường thị”. Dưới con mắt khinh bỉ của Tào Tháo bọn chúng chỉ là :
“Mộc hầu nhi quan đới
Chí tiểu nhi mưu cường”.
(Bọn khỉ mặc đai áo
Chí nhỏ mọn mà tham vọng to lớn)
(Giới Lộ Hành)
Trong bài “Giới Lộ Hành” còn có đoạn kể tội bọn phản thần Đổng Trác đốt phá thành Lạc Dương :
“Tặc thần trì quốc bính
Sát chủ diệt vũ kinh
Đãng phúc đế cơ nghiệp
Tông miếu dĩ phiền tang”.
(Tặc thần cầm quyền bính
Giết vua hủy diệt kinh thành
Làm cho cơ nghiệp đế vương nghiêng đổ
Tông miếu phải cháy tan hoang )
Ở bài “Cảo Lý Hành”, Tào Tháo lại hài tội bọn quan lại chư hầu như Viên Thiệu (154-202), Viên Thuật (155-199), tranh thủ triều đình hỗn loạn, chiếm dụng đất đai xưng đế rồi gây ra những thảm cảnh chiến tranh, tang tóc. ở đây, thơ của ông cũng trĩu nặng nỗi đau về con người và thời cuộc :
“Bạch cốt lộ ư dã,
Thiên lý vô kê minh.
Sinh dân bách di nhất,
Niệm chi nhân đoạn trường”
(Xương trắng phơi ngoài nội
Tiếng gà vắng dặm trường
Trăm người còn sống một
Ai chẳng nghĩ đoạn trường)
(Cảo Lý Hành, Nguyễn Bích Ngô dịch thơ )
Trước những cảnh chiến tranh liên miên từ năm này qua năm khác, Tào Tháo đã đồng cảm sâu sắc với nhân dân, người đã phải gánh chịu những hậu quả nặng nề nhất. Nhìn tận mắt những cảnh dân chúng lầm than vì phu phen tạp dịch, Tào Tháo thốt lên :
“Lao dân vi quân
Dịch phú kỳ lực”.
(Làm khổ dân chính là vua
Bắt dân lao dịch vất vả
(Độ Quan Sơn)
Rồi trên đường bôn ba của mình, những cảnh dân chúng gào khóc chạy loạn, vợ chồng, cha con ly tán, nhà cửa ruộng đồng tan hoang, thành quách điêu tàn, khiến cho Tào Tháo không cầm được nước mắt. Ông đã đứng thật lâu bên thành Lạc Dương đổ nát, mà khóc cho những người dân bất hạnh, khóc cho xã tắc nhà Hán, như bài ca bi thiết, đau thương của kẻ trung thần Vi Tử thuở nào đã khóc khi nhà Thương sụp đổ.

Có không biết bao lần ngồi một mình uống rượu, Tào Tháo đã hoài cổ, đã tưởng nhớ về một xã hội yên bình nào đó xa xưa, với cảnh dân chúng an cư, lạc nghiệp, mùa màng tươi tốt, trẻ con đi học, người già nghỉ ngơi, có những bậc “Minh quân” sáng suốt, để ông có thể làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm “Lương tể” hết lòng phò tá :
“Vương giả hiền thả minh
Tể tương cổ quăng giai trung lương”
(Vua hiền và sáng suốt
Bề tôi toàn là cánh tay trung lương)
(Đối Tửu)
Nếu trong xã hội hỗn loạn, những cảnh thanh bình, yên ấm là khát vọng, là mơ ước của tất cả mọi người, thì riêng với Tào Tháo nó còn là một lý tưởng chính trị mà ông theo đuổi, quyết tâm thực hiện cho bằng được. Tào Tháo chủ chương để có ổn định xã hội thì cần phải dùng luật pháp. Theo ông, chỉ với luật pháp dân chúng mới tin tưởng vào triều đình, quan lại mới không dám làm càn, làm bậy. Xã hội nào có luật pháp vững mạnh, xã hội đó mới thanh bình và yên ổn :
” Phạm lễ phả,
Khinh trọng tuỳ hình.
Lộ vô thập di chi tư
Linh ngữ không hư
Đông tiết bất đoạn
Nhân mạo điệt
Giai đắc dĩ thọ trung”.
(Phạm lễ pháp,
Nặng nhẹ tuỳ hình phạt
Ngoài đường không có người nhặt của rơi
Nhà tù bỏ trống
Mùa đông bất tận
Những người già cả
Đều được hưởng thọ)
(Đối Tửu)
Là người mang nặng tư tưởng Pháp gia, song Tào Tháo vẫn đề cao tình cảm. Ông cho rằng xã hội phải có sự hòa đồng, sự yêu thương lẫn nhau. Ông quan tâm, chú trọng, học hỏi tư tưởng “Kiêm ái” của Mặc Tử (468 TCN-376TCN) trong việc trị quốc, an dân:
” Kiêm ái thượng đồng,
Sơ giả vi thích “
(Yêu thương, hòa đồng từ trên xuống dưới
Người sơ cũng như người thân thích)
(Độ Quan Sơn)
Sự yêu thương thể hiện ở đức độ, lòng nhân từ và tính cần kiệm của vua quan. Tào Tháo đặc biệt ca ngợi việc tuần thú, vi hành, quan tâm chăm lo đến đời sống nhân dân của những ông vua xa xưa như Nghiêu, Thuấn :
” Xa triệt, mã tích
Kinh vĩ tứ cực
Truất đẩu u minh
Lê thứ phồn tức “
(Vết bánh xe của thiên tử tuần thú
Rải khắp bốn phương
Giữa hai nẻo sáng tối
Thu thập được nhiều tin tức lê dân) (Độ Quan Sơn)
Với những lý tưởng củng cố trật tự xã hội của mình, khi bước lên cương vị Thừa Tướng, Tào Tháo đã cố gắng thực thi, ban hành nhiều chính sách theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên trên thực tế đã có nhiều điều ông chưa làm được. Nó mãi mãi vẫn chỉ là khát vọng, là mơ ước trong tâm tưởng của ông.
Tào Tháo chủ chương phải dẹp loạn thống nhất Trung Quốc trước, để rồi từ đó xây dựng một xã hội “Kiêm ái” sau. Là nhà chính trị không hèn yếu, nhu nhược, chờ thời, ông đã đi theo lòng dũng cảm trong tiếng gọi của người chiến sĩ. Nếu cuộc đời binh nghiệp đã đưa Tào Tháo đi từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam, với những trận chiến oai hùng, chém giết không hề run tay, có một không hai trong lịch sử, thì cuộc đời thi nhân đầy sầu cảm lại dường như khiến ông nhỏ lệ xuống mỗi bước đường đi ấy.
Rất nhiều bài thơ của Tào Tháo được sáng tác trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ và gay go. Nó phản ánh chân thực những cuộc chiến đấu đó, đồng thời toát lên ý chí kiên cường, không chịu khuất phục của Tào Tháo. Hình ảnh Tào Tháo cất quân đi dẹp loạn mang phong thái hiên ngang của một người anh hùng trước việc làm đại nghĩa :
” Quan Đông hữu nghĩa sĩ
Hưng binh thảo quần hung”
(Quan Đông có nghĩa sĩ
Dấy binh dẹp bọn hung ác)
(Cảo Lý Hành)
Mang trong mình một trách nhiệm, một sứ mạng nặng nề, Tào Tháo đã đi qua bao nhà cửa, ruộng đồng, làng mạc, vượt qua bao núi non trùng điệp, rừng rú hoang vu. Mỗi bước chân hành quân mang theo tiếng gọi của thiên nhiên, âm vang của rừng núi dường như hòa đồng trong một bài ca bất tận :
“Bắc thượng Thái Hàng sơn,
Gian tai hà nguy nguy!
Dương trường bang cật quật.
Xa luân vị chi tồi,
Thụ mộc hà tiêu sắt!
Bắc phong thanh chính bi ”
(Bắc lên Thái Hành Sơn
Tai ương và hiểm nguy
Đường Tràng Bản gấp khúc
Xe trượt vẫn đẩy đi
Lá thu nghe xào xạc
Gió Bắc thổi ai bi)
(Khổ Hàn Hành, Hàn Vũ Linh dịch thơ)

Với những cuộc viễn chinh trường kỳ nay đây, mai đó, với những vùng ma thiêng nước độc không hợp khí hậu, thủy thổ, với cuộc sống đói rét, tạm bợ, không hẹn ngày trở về, khó khăn và gian khổ cứ chất chồng lên trước mặt đoàn quân của Tào Tháo. Tất cả như muốn đùa dỡn, thách thức ý chí và lòng can đảm của con người. Tào Tháo đã liên tưởng cuộc hành quân của ông như chuyến đi dẹp loạn của Chu Công trong bản anh hùng ca “Đông Sơn” :
“Bạc mộ vô túc lâu.
Hành hành nhật dĩ viễn,
Nhân mã đồng thời cơ.
Đảm nang hành thủ tân,
Phủ băng trì tác my.
Bi bỉ “Đông Sơn” thi,
Du du linh ngã ai! “
(Chiều tà đâu đường cũ
Nhà đâu tránh gió sương
Ngày đêm hành quân gấp
Người ngựa đói thảm thương
Chém băng mong thành cháo
Xin ăn khắp phố phường
Nhớ bài “Đông Sơn” cũ
Làm thành khúc bi lương)
(Khổ Hàn Hành, Hàn Vũ Linh dịch thơ)
Tuy có bao khó khăn, gian khổ song trong những bài thơ của mình, Tào Tháo luôn bọc lộ ý chí phấn đấu, không chịu khuất phục. Ông đã tự ví mình như cánh chim Hồng Nhạn bay đi khắp bốn phương trời, chí hướng tung mây hoành gió chứ không cam chịu làm một kẻ hèn mọn tham sống sợ chết, như cây Chuyển Bồng chỉ biêt lựa thích nghi theo chiều gió :
“Trưởng dữ cố căn tuyệt,
Vạn tuế bất tương đương.
Nại hà thử chinh phu,
An đắc khu tứ phương!
Nhung mã bất giải yên,
Khải giáp bất ly bàng”.
(Sống lâu mà vô ích
Ngàn năm có đáng gì
Sao bằng người tráng sĩ
Bốn phương quyết ra đi
Thân không rời yên ngựa
Giáp trụ chí nam nhi)
(Khước Đông Tây Môn Hành, Hàn Vũ Linh dịch thơ)
Trong bài “Quy Tuy Thọ”, Tào Tháo đã khẳng định rõ ý chí tích cực phấn đấu của mình. Bài thơ bao trùm một triết lý nhân sinh, một tinh thần lạc quan mà Tào Tháo chủ chương càng về già, càng phấn đấu nhiều hơn nữa :
“Thần quy tuy thọ,
Do hữu cánh thì.
Đằng xà thừa vụ,
Chung vi thổ hôi.
Lão ký phục lịch,
Chí tại thiên lý;
Liệt sĩ mộ niên,
Tráng tâm bất dĩ.
Doanh súc chi kỳ,
Bất đãn tại thiên;
Dưỡng di chi phúc”
(Thọ như rùa thiêng
Cũng có lúc chết
Rồng cưỡi mây mù
Cũng ra tro hết
Ngựa già nằm chuồng
Chí ở bốn phương
Anh hùng luống tuổi
Hăng hái như thường
Khi thịnh khi suy
Không chi tại trời)
(Quy Tuy Thọ, Vũ Bội Hoàng dịch thơ)
Tào Tháo luôn tin tưởng vào chí hướng và lòng quyết tâm của bản thân mình. Có lần băn khoăn giữa hai trận đánh, giữa hai con đường tiến lên Đông Bắc hay quay xuống Đông Nam, Tào Tháo đã gạt bỏ những lời bàn cãi của các mưu sĩ để một mình trèo lên đỉnh núi Hát Thạch cao ngất, nhìn ra biển Đông. Ông muốn một mình thanh thản, dùng cảm hứng thi ca để quyết định ý chí quân sự của mình.
Chúng ta đều biết, có những người nghệ sĩ ngang tàng và phóng khoáng như Lý Bạch (701-762) đứng trước cảnh đẹp của thiên nhiên, tận hưởng tới cái đẹp tột cùng và muôn đời của tạo hóa, đã thốt lên :
” Dạ tĩnh bất kham đề tuyệt cú
Khủng kinh tinh đẩu lạc giang hàn “
( Đêm vắng không nỡ đề một câu thơ tuyệt cú
Sợ ngôi tinh đẩu sẽ kinh khiếp rơi xuống dòng sông lạnh )

Lý Bạch đã không muốn làm xáo động thiên nhiên bằng chính sự cảm nhận của mình. Bởi ông sợ rằng khi ngòi bút vung lên với tất cả sự cảm nhận và tài năng tuyệt vời của mình sẽ làm cho đất trời điên đảo. Còn đối với Tào Tháo là một người anh hùng, ông muốn chính sự rung cảm sẽ đem lại cho ông ý chí rời non lấp biển. Với ông, biển cả mênh mông, hùng vĩ, núi cao sừng sững, cây cối điệp trùng không hề khiến con người trở nên nhỏ bé mà còn làm họ lớn lên, bay bổng lên, vượt qua tất cả. Thiên nhiên và con người cùng hòa đồng trong một chí hướng lớn lao, một khí phách anh hùng, mà do đó cũng có thể làm cho đất trời phải đảo điên, nghiêng ngửa :
“Hồng ba dõng khởi
Nhật nguyệt chi hành
Nhược xuất kỳ trung
Tinh Hán xán lạn “
( Sóng lớn bắt đầu lên
Ra đi cùng nhật nguyệt
Nếu mà đi đúng hướng
Cả dải Ngân Hà sẽ sáng lạng)
(Quan Thương Hải)

Là một thi sĩ tài hoa, một mặt Tào Tháo đã đem tất cả lý tưởng chính trị, chí khí khảng khái anh hùng vào thơ. Song mặt khác cũng có những lúc ông tự dằn vặt, đau khổ với riêng mình khi trở về với nguồn cội của những sự cảm xúc ở một người nghệ sĩ thực thụ. Tâm trạng buồn thương man mác, tuy chỉ thoáng qua ngắn ngủi nhưng cũng được thể hiện trong nhiều bài thơ của Tào Tháo. Ở đây, những giọt lệ trên bước đường chinh chiến đã được ông nuốt thầm nhưng vẫn không thể dấu nổi trong thơ. Những lúc hành quân đến những vùng xa xôi, heo hút, trong lòng Tào Tháo bỗng dâng tràn một nỗi niềm thương nhớ quê hương da diết :
“Khê cốc thiểu nhân dân,
Tuyết lạc hà phi phi.
Diên canh trường thán tức,
Viễn hành đa sở hoài.
Ngã tâm hà phẫn uất?
Tứ dục nhất đông quy”
(Khe núi vắng người ở
Tuyết lạc bay muôn phương
Trong lòng buồn than thở
Mang tâm sự dặm trường
Hỏi sao lòng đau khổ ?
Hướng về Đông cố hương)
(Khổ Hàn Hành, Hàn Vũ Linh dịch thơ)
Rồi trong chính những cuộc hành quân đó, hình ảnh quê hương, sự hoài niệm, trở thành nỗi đớn đau không cùng đối với kẻ chinh phu, không hẹn ngày về :
“Nhiễm nhiễm lão tương chí,
Hà thì phản cố hương?
Thần long tàng thâm tuyền,
Mãnh thú bộ cao cương
Hồ tử quy thủ khâu,
Cố hương an khả vong!”
(Dần dần già đi mất
Cố hương mãi biệt ly
Rồng thần về suối ẩn
Mãnh thú trên đồi cao
Cáo chết quay về núi
Cố hương vọng nơi nào)
(Khước Đông Tây Môn Hành, Hàn Vũ Linh dịch thơ)
Có những cuộc thanh trừng đẫm máu, có những cái đầu vô tội đã rơi, có những cung điện đền đài bị đốt bỏ, có những lúc phải vượt qua mặt vua để xử lý việc nước, song có mấy ai hiểu được nỗi lòng của Tào Tháo. Nỗi sầu thương âm thầm đeo đẳng ông suốt cả cuộc đời. Chỉ trong bài “Đoản Ca Hành”, trong cơn say đầy cô đơn không dứt, ông mới buông hết được cõi sầu không cùng, không tận của mình :
“Đối tửu đương ca,
Nhân sinh kỷ hà:
Thí như triêu lộ,
Khứ nhật khổ đa.
Khái đương dĩ khảng,
Ưu tư nan vong
Hà dĩ giải ưu:
Duy hữu Đỗ Khang.”.
(Trước chén rượu ta nên ca hát
Kiếp con người sống thác là bao?
Ví như hạt móc sáng nào
Ngày qua, sầu khổ biết bao nhiêu lần
Ta đứng dậy, lòng thêm khảng khái
Lòng ưu sầu, đeo mãi không phai
Sầu kia sao được dãi bày
Ta cam mượn rượu quên ngay đất trời…)
(Đoản ca hành, Huỳnh Minh Đức dịch thơ)

Lời bài thơ mới phóng khoáng, rộng rãi làm sao, mà cũng chân thật cảm khái làm sao. Dù những việc làm của Tào Tháo là đúng hay là sai, đã làm được hay chưa làm được, dù ông đã phải hy sinh điều nọ để đạt lấy điều kia, song trong đoạn cuối bài thơ của mình Tào Tháo vẫn khẳng định tấm lòng hướng thiện thật tinh khiết của ông :
“Sơn bất yếm cao,
Thủy bất yếm thâm
Chu Công thổ bộ,
Thiên hạ quy tâm”
(Cao hơn nữa, núi xanh không sợ
Sâu hơn xưa, biển chứa mênh mông
Chiêu hiền, ta nhớ Chu Công
Mong sao thiên hạ một lòng về đây)
(Đoản ca hành, Huỳnh Minh Đức dịch thơ)
Chính sự chân tình, lòng nhiệt huyết và những cảm xúc không kém phần nhân hậu ở thơ Tào Tháo đã làm cho hình ảnh ông khác hẳn với những định kiến chính trị xấu về ông trong tiểu thuyết, nó khiến thơ ông, sống mãi trong lòng người đọc nhiều thế hệ ở Trung Quốc và Việt Nam.

