Nguyễn Hữu Chỉnh bi kịch của một nhà thơ tài hoa

          Trong văn học có khi chỉ một bài thơ cũng khiến tác giả trở thành nổi tiếng được ngàn đời truyền tụng, nhưng cũng có khi cả sự nghiệp cả những công trình lớn lao lại mãi mãi bị chôn vùi, đôi lúc oan uổng giữa đêm đen của lịch sử. Đó là trường hợp của Nguyễn Hữu Chỉnh (1741 -1788) nhà chính trị, nhà quân sự đảm lược, nhà thơ tài hoa ở thế kỷ VIII, khoảng thời gian đầy nạn binh đao chinh chiến và loạn lạc ở nước ta.

          Thời kỳ Nguyễn Hữu Chỉnh sống, không biết có phải những bi thương đầu rơi, máu chẩy, nước mắt, nụ cười đã làm rung cảm tâm hồn, thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật hay không, nhưng đây cũng là thời điểm thể hiện sự phát triển rực rỡ nhất của thơ ca Việt Nam với hàng loạt các tác giả nổi tiếng Đoàn Thị Điểm (1705 -1749), Lê Quý Đôn (1726 -1784), Nguyễn Gia Thiều (1741 -1798), Ngô Thì Nhậm (1746 -1803), Nguyễn Huy Lượng (1750 -1808), Nguyễn Du (1766 -1820), Lê Ngọc Hân (1770 -1799)… Khác với những nhà thơ này, do quan điểm và hành động chính trị độc đáo, táo bạo đôi lúc bất chấp cả thói thường, Nguyễn Hữu Chỉnh đã bị các nhà phê bình lịch sử đánh giá một cách khe khắt.

       Sử cũ ủng hộ triều Lê thì cho rằng Nguyễn Hữu Chỉnh là kẻ “Cõng rắn cắn gà nhà “, “Rước voi giày mả tổ”, nối giáo cho quân Tây Sơn. Nhà Tây Sơn lại coi ông như kẻ phản bội, kẻ “nghịch thần”, ăn ở hai lòng. Sử triều Nguyễn lại xem ông như kẻ cơ hội, “bất trung, bất nghĩa”. Cho đến nay có rất ít tài liệu khách quan để nhìn nhận con người đích thực của Nguyễn Hữu Chỉnh giữa công và tội, giữa đúng và sai, giữa tình và lý. Chỉ biết rằng một số tác phẩm còn lại của ông đặc biệt là những lời thơ thống thiết đã chứng minh ông không những là con người khí khái mà còn là một thi sĩ đa cảm, với những rung động khá sâu sắc và chân thực trước cuộc đời và nhân thế.

Danh tướng, ảnh internet

          Theo một số tài liệu lịch sử, Nguyễn Hữu Chỉnh quê ở làng Đông Hải, huyện Chân Phúc, tỉnh Nghệ An (nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An). Là người văn võ toàn tài, tuổi trẻ ông theo Hoàng Ngũ Phúc (1713 – 1776) và Hoàng Đình Bảo (1743 – 1782) đánh dẹp các xứ, lập nhiều chiến công và được cử giữ chức Tham quân. Sau hàng chuỗi các sự kiện thanh trừng trong cung Vua, phủ Chúa và loạn Kiêu binh, ông là một trong những sĩ phu Bắc Hà ít ỏi và đầu tiên bỏ vào Nam theo phong trào Tây Sơn, được thủ lĩnh Nguyễn Nhạc (1743 -1793) trọng dụng, đãi là thượng khách. Năm 1785, Nguyễn Hữu Chỉnh được cử làm Hữu quân đô đốc cùng Nguyễn Huệ (1753 -1792) kéo quân ra Bắc đánh đuổi họ Trịnh. Khi Tây Sơn rút quân, Nguyễn Huệ giao ông trấn thủ đất Nghệ An. Khi họ Trịnh trở lại hoành hành, ông một lần nữa khởi quân dẹp loạn, được vua Lê phong tước Bằng Công. Sau này do bất đồng với Tây Sơn, Nguyễn Hữu Chỉnh đã bị tướng Võ Văn Nhậm (1755 -1788) đánh, dẹp, bắt và giết năm 1787.

          Sinh ra trong một gia đình nhà Nho, ngay từ nhỏ Nguyễn Hữu Chỉnh đã tỏ ra là người thông minh và có học thức. Có lẽ ông đã viết rất nhiều, song phần lớn các tác phẩm đã thất lạc,  chỉ còn lại rất ít  như “Ngôn ẩn Thi Tập”, “Cung Oán Thi” , “Trương Lưu Hầu”, “Văn tế chị” và đặc biệt là bài phú “Quách Lệnh Công” được mọi người truyền tụng.

          Cả cuộc đời là những bi kịch tiếp nối, bị công danh ràng buộc, bị thời thế đẩy đưa, nhưng với bản tính phóng khoáng và rộng rãi Nguyễn Hữu Chỉnh không cho phép mình trở thành kẻ “ngu trung” tầm thường đối với một chế độ mà ông cho là quá mục nát, quá suy tàn cùng những ông vua ngồi không rũ áo, cùng những ông chúa ăn chơi phè phỡn, cùng những viên quan luồn cúi nịnh nọt. Ông muốn đứng cao hơn cuộc đời, cao hơn thói thường. Kiêu ngạo và ngang ngạnh, Nguyễn Hữu Chỉnh luôn tìm cho mình một con đường sự nghiệp riêng, một vị trí xứng đáng. Ông không tiếc lời ca ngợi những nhân vật anh hùng, có tài kinh bang tế thế trong lịch sử như Trương Lương (250 TCN – 186 TCN), Quách Tử Nghi (697 -781)… Ông cho rằng người anh hùng sinh ra trong thời loạn lạc phải có hùng tâm, tráng khí, trừ gian diệt bạo như Kinh Kha, Dự Nhượng, chứ không tầm thường dùng lời lẽ nguỵ ngôn mà cầu lấy công danh, sự nghiệp cho riêng mình như so sánh với trường hợp của Tô Tần, Trương Nghi:

” Trời đất thuở cát vàng, bụi tía, áng công danh không uốn lưỡi Nghi, Tần 3  

Nước nhà khi bể biếc, dâu xanh, mưu báo phục há kém tay Kha, Nhượng  ” 4        

                                                                      (Trương Lưu hầu phú)

          Không phải là mẫu người chỉ biết phấn đấu cho danh vọng, đạt được danh vọng bằng mọi giá để hưởng lạc thú cuộc đời, mà trái lại trong tâm thức sâu xa của mình, Nguyễn Hữu Chỉnh luôn mơ ước được “gác kiếm” được tiêu dao, nhàn hạ khi xã hội thái bình, thịnh trị như hình mẫu nhân vật Trương Lương luôn đeo đẳng bên ông, mà ông thực sự thấu cảm:

  ” Giá đã cao nên đủng đỉnh công hầu

          Mình được nhẹ nên tiêu dao ngày tháng

 (Trương Lưu hầu phú)

          Những vần thơ mà Nguyễn Hữu Chỉnh để lại, tuy ít ỏi nhưng cũng đủ cho chúng ta thấy một Nguyễn Hữu Chỉnh với khuôn mặt hoàn toàn khác khi các sử gia viết về ông. Ông là người có chí hướng lớn lao nhưng không lạnh lùng và tàn ác để đi tới mục đích như người ta lầm tưởng. Theo  đuổi danh vọng, song Nguyễn Hữu Chỉnh cũng bày tỏ thái độ khinh ghét những kẻ nào vì tư lợi mà bỏ mất những gì thiêng liêng, cao đẹp trong cuộc đời, bỏ quên ngay cả những người thương yêu của mình. Lên cao đến tột cùng danh vọng, nhưng dù ở bất cứ cương vị nào Hữu tướng quân hay Đại tư đồ, Bằng quận công, Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn luôn uống nước, nhớ nguồn, vẫn đau khổ, vẫn nhức nhối, vẫn tiếc thương, vẫn nhỏ lệ chan hoà với những nỗi đau cuộc đời. Những câu viết trong bài “Văn tế chị” đã trở thành nhữngcâu viết hay và cảm xúc nhất ở ông. Khóc cho người chị, người chăm bẵm, nuôi nấng minh thơ ấu, mà thật ra cũng là tiếng khóc bi thương về thân phận con người ví như bèo nổi, mây trôi giữa một xã hội nhiễu nhương, loạn lạc:

                 ” Ôi ! kiếp nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như lửa đá, như chiêm bao, giây phút nên không, dù nhẫn trăm năm cũng chẳng mấy.

                  Thương thay chị mới hai chín tuổi, cũng là kiếp hoá sinh. Gửi mình vào tài tử mười ba năm, đã giốc một lời nguyền, song cay đắng có nhau mà vinh hiển bao giờ chưa được thấy… ”  

                                                                        ( Văn tế chị )

          Tâm trạng Nguyễn Hữu Chỉnh trong thơ luôn là những nỗi niềm u uẩn, vừa phức tạp, vừa phá phách, vừa sầu thương, vừa đấu tranh, vừa dằn vặt giữa những trải nghiệm của cuộc đời danh tướng và thi nhân hàng ngày. Dường như ranh giới lẫn lộn trắng – đen, đúng – sai, tình – lý, thực – hư của một xã hội loạn lạc, đầy rẫy những thị phi khó phân biệt đã khiến cho nhiều hành động của Nguyễn Hữu Chỉnh không được chấp nhận trong cách nghĩ thông thường của người đời. Nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh đã bỏ lại những điều ấy sau lưng, gác lại những ô uế, trần tục để đến với thi ca, đên với những tấm lòng trong sáng, thuần khiết nơi duy dưỡng bản năng thiện của con người. Vượt qua những định kiến, ông giãi bày với “trời xanh” bằng những cảm khái về số phận và cười nhạo thói đời đen bạc:

      “Kẻ yêu nên ít bề cao hạ

             Người ghét càng nhiều tiếng thị phi

          Tay bé khôn bưng vừa miêng thế

             Giãi lòng ngay thảo cậy thiên tri”.

                                                           ( Than thân)

          Tất cả như một “Xác Pháo”, đó cũng là tên một bài thơ rất hay, thể hiện những triết lý về cuộc đời, sự sống, cái chết, những tâm trạng đã trở thành bản tuyên ngôn sống mang tên Nguyễn Hữu Chỉnh. Có một cái gì thật khó hiểu, thật huyền bí như một định mệnh vậy. Cái tràng pháo tan xác mà ông nêu lên đã trở thành chính cuộc đời ông mà ông không sao cưỡng lại được :

             ” Xác không vốn những cậy tay người

            Bao ngả công trình tạch tiếng thôi

              Kêu lắm lại càng tan xác lắm

           Thế nào cũng một tiếng mà thôi ” 

                                                                         ( Xác pháo)

          Để làm được một con người chân chính, sống cho có ý nghĩa trong cuộc đời không đơn giản chút nào. Cuộc sống mặc dầu như bóng câu qua cửa sổ, ngắn ngủi tới mức tưởng như vô nghĩa, nhưng lại luôn là sự đan quyện vào nhau giữa những điều tốt đẹp và xấu xa, thẳng thắn và gian dối, can đảm và hèn nhát, giữa kẻ tiểu nhân và người quân tử. Cần phải sống như thế nào đây? Nhà thơ Tô Đông Pha (1037-1101) đời Tống ở Trung Quốc thì cho rằng: Dù thiếu thốn và đói khổ đến đâu đi chăng nữa cũng phải trồng cây trúc trong cuộc đời, vì cây trúc gợi cho ta sự thanh cao và trong sạnh. Rất nhiều người đã ví cuộc sống của mình với cây Tùng,  cây Bách. Cụ Nguyễn Công Trứ (1778 -1858) thì khẳng định rằng:

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

           Thi sĩ – anh hùng Cao Bá Quát (1808 -1855) thì nói rằng: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa“. Tức là suốt cuộc đời của mình, thi sĩ họ Cao chỉ biết cúi đầu trước sắc đẹp, “tương kính” đóa hoa mai trong trắng, thuần khiết kia mà thôi.

          Tuy nhiên so sánh cuộc đời với một xác pháo Nguyễn Hữu Chỉnh thì quả là độc đáo có một không hai trong lịch sử.  Để làm đẹp cho cưộc đời, mua vui được cho thiên hạ cũng không phải dễ, phải chịu biết bao khó khăn gian khổ, tốn biết bao công phu rèn luyện. Nhưng rồi tất cả những công phu ấy dường như cũng chẳng bao giờ đủ. Có một loài ve sầu kim tương truyền rằng: mỗi lần cất lên tiếng kêu trong vắt của mình, làm rộn rã cuộc đời thì nó cũng tự rút ruột của mình ra mà chết. Làm đẹp cho cuộc đời đôi lúc cũng phải có sự dâng hiến tới cả tính mạng của mình nữa. Đó cũng là trường hợp quả pháo của Nguyễn Hữu Chỉnh:

                                      “Kêu lắm lại càng tan xác lắm”

Đốt pháo, ảnh internet

           Và bi kịch của cuộc đời lại chính là ở sự “tan xác” hoá thân ấy. Đã là những con người chân chính thì lại khó mà tránh được sự hy sinh này. Muốn sống cao thượng và tốt đẹp, càng muốn dâng hiến nhiều cho cuộc đời thì sự hy sinh mất mát của họ lại càng to lớn và bi thương. Trong cuộc đời đã có mấy ai hiểu được như vậy và nếu hiểu được như vậy thì đã có mấy ai có đủ can đảm và đức hy sinh để làm được như vậy.

Tục đốt pháo xưa

        Nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh thì khác, những bước thăng trầm trong cuộc đời sóng gió và không kém phần bi thương, hào hùng của ông chứng tỏ ông đã cố gắng như thế nào để đi theo cái phương châm sống rõ ràng đó của mình. Bao nhiêu là gian khó và hiểm nguy, bao nhiêu là mất mát và đắng cay, trộn lẫn với những vấp váp và sai phạm trong nhận thức và hành động đã làm nên bi kịch của chính cuộc đời ông.

          Bởi lẽ đối với Nguyễn Hữu Chỉnh thế nào cũng một tiếng mà thôi. Dù là một tiếng nổ đanh thép, hay một tiếng chuông thức tâm nơi Phật môn thì cũng là phương thức đưa con người về với bản ngã, để có thể cảm nhận một cách chân thực nhất về giá trị giữa những thứ phù du, hư ảnh trong cuộc sống. Văn chương, sự nghiệp và những xác pháo của chính cuộc đời Nguyễn Hữu Chỉnh đã nhiều năm tháng qua rồi vẫn còn làm rung động biết bao nhiêu tâm hồn có sự đồng cảm với ông, đồng thời cũng trở thành bài học sâu sắc cho hậu thế

——————————–

Một số chú thích :

  1. Phạm Lãi : Tướng nước Việt cuối thời Xuân Thu, giúp vua Việt diệt nước Ngô, sau khi thành công từ bỏ quan tước đi ẩn ở Ngũ Hồ.4. Nghi Tần : Tô Tần, Trương Nghi hai người nhờ tài du thuyết mà được làm Tướng quốc ( Tể tướng ) thời Chiến Quốc.
  2. Kha Nhượng : Kinh Kha, Dự Nhượng hai thích khách nổi tiếng thời Chiến Quốc.
  3. Gửi mình vào tài tử mười ba năm : Chị Nguyễn Hữu Chỉnh lấy Phạm Nguyễn Du (1739 -1786) là danh sĩ cuối thời Lê, chung sống được 13 năm.
Hàn Vũ Linh, tháng 7/1994, đăng trên Tạp chí Truyền thống và Phát triển số tháng 10/2012

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan