Thật khó mà tưởng tượng được hình ảnh một ông già hơn 75 tuổi, với nỗi đau tê tái và những giọt nước mắt đầm đìa ngồi làm thơ tình về một người phụ nữ. Ông già ấy lại là một nhà Nho can trường, một đấng trượng phu đầy khí phách và nổi tiếng với tinh thần chống ngoại xâm- nhà thơ Lục Du (1125 -1210) đời Nam Tống ở Trung quốc.
Suốt cuộc đời mình, Lục Du dường như không làm thơ tình và ông nổi tiếng cũng không phải vì thơ tình. Sinh ra trong thời buổi loạn lạc, triều Tống suy yếu và nhu nhược, bọn ngoại xâm từ bốn phía chèn lấn, giặc giã nổi lên khắp bốn phương, đời sống nhân dân cơ cực lầm than. Lục Du thật ít có điều kiện để nghĩ đến tình yêu và làm thơ về tình yêu. Cũng như Đỗ Phủ (712 -770) đời Đường trước đây, thơ của ông gần gũi với nhân dân, thấm đượm được chất bụi bặm của dân dã, tràn đầy lòng yêu nước, thương dân. Tuy nhiên, có lẽ chính ông cũng không ngờ rằng vào một ngày nào đó ở những năm tháng cuối cùng khi đã già nua yếu ớt, chân mỏi mắt mờ, ông lại làm thơ tình, làm với tất cả sự thôi thúc từ nỗi đau đớn không kìm chế nổi của trái tim và khi nhỏ lệ xuống những dòng chữ của mình, chính ông cũng không biết rằng nỗi đau của ông sẽ làm rung động bao nhiêu thế hệ, bài thơ của ông sẽ được xếp vào hàng những bài thơ tình hay nhất thế giới, hay nhất trong mọi thời đại.
Câu chuyện về bài thơ tình có tên là Thẩm viên (Vườn Thẩm) của Lục Du kể về mối tình thời trẻ ông và một người con gái tên là Đường Uyển. Họ đã yêu nhau tha thiết và trở thành vợ chồng, tuy nhiên nhưng sau này do những bất đồng trong cuộc sống hàng ngày, nàng bị mẹ chồng ghét bỏ, rồi đuổi đi. Cuộc tình ngăn cản đã làm Lục Du vô cùng đau khổ, nhưng càng đau khổ hơn khi ông nghe tin nàng đã lấy chồng khác. Một lần đến chơi Vườn Thẩm nơi thuở xưa hai người làm chỗ hẹn hò, ngẫu nhiên lại gặp nàng. Hai người lặng lẽ nhìn nhau trong tâm sự u uất không thể bày tỏ được. Nàng trở về nghĩ ngợi sinh bệnh rồi chết. Tương truyền, hơn bốn mươi năm sau khi đã ngoài 75 tuổi có dịp trở lai thăm vườn xưa, lối cũ nhớ tới câu chuyện đau buồn thuở trước, Lục Du hết sức xúc động và làm nên những vần thơ này để kỷ niệm một mối tình chung thuỷ.

Bài thơ Thẩm viên nguyên tác gồm hai bài, mỗi bài gồm hai kỳ, có nhiều bản dịch khác nhau. Bài Thẩm viên I được người đời sau truyền tụng, không chỉ vì một nhà Nho dám dũng cảm, vượt qua luân lý Nho giáo để “xé rào” viết về những cảm xúc trai gái, mà còn vì những tình cảm và thủ bút nghệ thuật sâu sắc của tác giả đã vượt trên lẽ thường để đến với những xúc cảm chân thật nhất của con người. Nguyên tác bài Thẩm viên I chữ Hán như sau :
I
“Thành thượng tà dương hoạ giác ai,
Thẩm viên phi phục cựu trì đài.
Thương Tâm kiều hạ xuân ba lục,
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai.
II
Mộng đoạn hương tiêu tứ thập niên,
Thẩm viên liễu lão bất xuy miên.
Thử thân hành tác Kê sơn thổ,
Do điếu di tung nhất huyễn nhiên”
Bài thơ đã được nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch là:
I
“Bóng xế thành hôm ốc, gọi sầu
Đài ao Vườn Thẩm dấu xưa đâu
Dưới cầu sóng biếc trông đau ruột
Đây bóng hồng soi thoảng lúc nào
II
Mộng dứt hương tan bốn chục thu
Liễu già Vườn Thẩm chẳng bay tơ
Thân này vùi đất kê sơn nữa
Vẫn nhỏ dòng châu khóc dấu xưa” .
Toàn bộ bài thơ mang một nỗi buồn man mác với cảnh chiều tà, cây xanh sóng biếc, đài ao nơi Vườn Thẩm lẫn trong những ngổn ngang cảm xúc, những kỷ niệm thực hư và huyền hoặc. Bốn mươi năm đã qua đi, những điều tưởng tượng đã quên mà không quên, những điều tưởng vẫn nhớ mà đã đổi màu sương gió… Những còn, những mất, những đổi thay hoà vào nhau trong một nỗi đau tê tái không cùng. Gặp lai từng chiếc cầu, dòng nước, đài ao góc vườn xưa cũ, Lục Du cảm thấy vừa thân quen vừa ngỡ ngàng và hầu như tất cả đều phảng phất một hình bóng của người con gái ngày xưa. Nhưng không, mộng đã dứt, hương đã tàn từ lâu lắm rồi, có còn chăng chỉ là sự mất mát lớn lao không thể bù đắp được. Tại sao lại không dằn vặt, không đau khổ, không ân hận khi chính mình đã để nước chảy bèo trôi, đã để cho người mình yêu bị dập vùi không xót thương trong cái xã hội nhiễu nhương loạn lạc này. Nhưng dù sao cũng quá già rồi. Tất cả thế là hết, cái còn lại duy nhất chỉ là những giọt nước mắt. Nước mắt sẽ chảy mãi chẳng bao giờ dứt, dù có chết, thân xác có chôn ở núi Cối Kê hay bất cứ ở nơi đâu thì nó vẫn cứ nhỏ trên những dấu vết xưa…

Tấm bi kịch trong tình yêu và nỗi lòng cay đắng của Lục Du trong Thẩm viên đã trở thành nỗi đau của người đọc thành một bài học mang ý nghĩa sâu xa cho hậu thế. Ngày nay nó càng khẳng định sự cao đẹp của tình yêu. Tình yêu là hạnh phúc thiêng liêng, nhưng cũng là nỗi đớn đau, sự ân hận. Để gìn giữ và bảo vệ tình yêu cũng cần phải có sự dũng cảm và nghị lực to lớn. Tình yêu không có chỗ cho những kẻ yếu mềm và nhu nhược.

