Để có thể nghiên cứu tác động của toàn cầu hoá tới các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay, chúng ta cũng cần phải làm rõ được những vấn đề lý luận và phương pháp luận phân tích những nguyên nhân và xu hướng biến đổi trong cơ cấu hoạt động của chính hệ thống truyền thông toàn cầu. Nói một cách cụ thể là chúng ta cần phải tìm hiểu hoạt động truyền thông trong bối cảnh toàn cầu hoá như là một hệ thống, có cơ cấu tồn tại và vận hành thống nhất. Hệ thống đó bao gồm nhiều khu vực cấu thành đang biến đổi không ngừng, đa dạng và phức tạp, có vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ nhất định trong toàn bộ mạng lưới truyền thông.
Sự phát triển của truyền thông đại chúng gắn liền với sự phát triển của các phương tiện truyền thông. Không có sự phát triển đa dạng của các phương tiện truyền thông thì cũng không thể có sự phát triển của truyền thông. Chính vì vậy, nói đến sự biến đổi và phát triển không ngừng của hệ thống thông tin đại chúng ngày nay, chúng ta không thể không nói đến sự phát triển của các phương tiện truyền thông. Chính sự biến đổi và phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông mà, hệ thống truyền thông ngày nay đã được gọi là “hệ thống truyền thông đa phương tiện”, cơ cấu hoạt động “đa phương tiện” đã trở thành một đặc trưng cơ bản của truyền thông hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hoá.
Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng chính sự xuất hiện của tiếng nói và ngôn ngữ cách đây 36.000 năm đã là sự mở đầu vĩ đại nhất cho một cuộc cách mạng về thông tin kéo dài suốt lịch sử của loài người (1). Tuy nhiên, cũng phải tới thế kỷ XV với sự phát minh của Gutenberg ra chiếc máy in đầu tiên nhằm in các loại sách thánh thì truyền thông đại chúng mới thực sự có được những công cụ hữu hiệu của mình. Chính sự phát minh này “đã mở màn cho hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật, những kỹ thuật đã làm biến đổi hệ thống thông tin một cách bền vững và sẽ tiếp tục biến đổi trong tương lai sau đấy và với một tốc độ ngày càng nhanh”. (2)
Sự ra đời của những máy in đã là điều kiện cho những “tờ báo” đầu tiên của nhân loại, vốn được viết bằng tay như những tờ tin kiểu tờ “News” ở Anh Quốc thế kỷ XVI được thay thế bằng những tờ báo thực thụ được in bằng máy. Cũng chính máy in đã giúp cho tờ báo nổi tiếng đầu tiên, tờ “English Mercury” (người đưa tin Anh Quốc) có điều kiện để thông tin rộng rãi cho công chúng về những sự kiện quốc tế quan trọng. (3)
Ngày nay, bên cạnh những chiếc máy in, dù được cải biến một cách triệt để nhưng vẫn là một phương tiện truyền thống để truyền bá thông tin, cuộc cách mạng về công nghệ đã mang lại cho các phương tiện truyền thông một diện mạo hoàn toàn mới. Công nghệ truyền thông đã phát triển một cách vượt bực so với nhiều ngành công nghệ khác. Nhiều nhà nghiên cứu còn đưa ra một sự so sánh thú vị giữa công nghệ thông tin với công nghệ sản xuất xe hơi để thấy rõ hơn sự phát triển của công nghệ thông tin. Họ cho rằng trong vòng 30 năm qua nếu như công nghệ sản xuất xe hơi đạt được mức phát triển tương đương với công nghệ thông tin thì mỗi chiêc ô tô ngày nay sẽ chỉ còn có giá bán bằng giá của một bao diêm.
Chính sự phát triển của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông đã khiến cho hệ thống truyền thông đại chúng trên thế giới có được một bộ mặt khác, trước hết là ở các hình thức truyền thông. Ngày nay, sự phát triển về kỹ thuật thu nhận và truyền dẫn thông tin đã đưa vị thế, vai trò và cách thức hoạt động của truyền thông đại chúng sang một trang mới. Sự xuất hiện của thông tin điện tử, thông tin mạng đã góp phần mạnh mẽ vào sự phong phú trong diện mạo hoạt động được gọi là “đa phương tiện” của truyền thông.
Công nghệ máy tính cùng với sự xuất hiện của các đường truyền dẫn siêu tốc như mạng cáp quang, các vệ tinh viễn thông (mà nhiều quốc gia và tập đoàn truyền thông đã trang bị riêng cho mình) và các hệ thông thông tin đường dài, đã thâm nhập sâu sắc vào hệ thông truyền thông kiểu cũ, làm đảo lộn tất cả, từ nhận thức đến hành vi hoạt động của những người tham gia vào hệ thông truyền thông đại chúng. Tính “đa phương tiện” trong truyền thông đã làm đảo lộn cả cách thức hoạt động của những tập đoàn truyền thông lớn.
Các phương tiện thông tin cá nhân cũng tham gia trực tiếp vào hoạt động truyền thông. Điện thoại, đặc biệt là điện thoại di động đã và đang góp tiếng nói mạnh mẽ vào truyền thông, tạo ra một cuộc cách mạng mới trong cách thức tiếp nhận và truyền dẫn thông tin. Những khoảng cách về không gian và thời gian bị thu hẹp lại. Ranh giới giữa thông tin đại chúng với thông tin cá nhân, giữa thông tin chính thống với thông tin dư luận, giưa những nhà truyền thông chuyên nghiệp với những sứ giả truyền thông “nghiệp dư”, giữa người gửi và người nhận thông điệp đã không còn cách biệt.
Sự xuất hiện và lên ngôi của báo điện tử đã đã tạo ra một sự biến động lớn trong hệ thống truyền thông toàn cầu hoá. Nó đã khiến cho không ít những tập đoàn và công ty truyền thông do thiếu sự nhạy bén với thời cuộc mà lâm vào sự khủng hoảng. Hệ thống báo in hoạt động theo phương thức truyền thống đang tỏ ra lúng túng trong việc xử lý cái mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là “cú sốc Internet”.
Một nghiên cứu xã hội học vào tháng 3-2005 của Hiệp hội báo in Hoa Kỳ ( NNA) đã cảnh báo về một hiện tượng mà những nhà nghiên cứu gọi là “báo in ngày càng trở thành một phương tiện truyền thông lỗi thời và thất thế”. Cuộc điều tra đã cho thấy trong những năm gần đây hầu hết các tờ báo lớn của Mỹ như New York times, Washington Post, Los Angeles times đều đã phải giảm số lượng phát hành. Mặt khác, số lượng những người đọc các báo này qua mạng đã cao hơn hẳn số người đọc qua báo in . Chẳng hạn, New York times có 12,8 triệu người đọc qua mạng so với 5 triệu đọc báo in, Washington Post : 7,8 triệu người đọc qua mạng so với 1,8 triệu đọc báo in, Los Angeles times : 4,3 triệu người đọc qua mạng so với 2,4 triệu đọc báo in. (4)
Cũng theo một nghiên cứu của Viện Carnegie, Hoa Kỳ, giới trẻ ngày nay hầu hết đều sử dụng Internet làm nguồn thu nhận thông tin chính thức của họ, trong khi báo chi giấy và truyền hình ngày càng ít được sử dụng. Có 44% số người được hỏi đã nói rằng họ thường dùng các “new portal” như Yahoo ít nhất một lần một ngày, 37% sử dụng truyền hình địa phuơng, trong khi đó báo in là 19%. (5)
Tờ báo nổi tiếng của Mỹ là US New đã cho biết, trong khi báo in của họ đã chịu những sự thua thiệt thảm hại thì báo điện tử của họ thì lại phát triển tới mức bùng nổ. Nói về điều này, trang điện tử “Washingtonian.com” nhận xét: “báo in của US New and World Report chỉ còn mỏng đến mức nó chỉ giống như một tờ newsletter (một tờ bản tin) hơn là một tờ báo”. Trước thực trạng này, US New đã phải cho nghỉ việc một số lượng lớn nhân viên và đầu tư hơn 2 triệu USD cho các phương tiện truyền thông mới và thuê thêm người điều hành các website. Họ cũng đưa ra một công thức hoạt động mới của tờ báo, đó là “đa phương tiện và ít nhân viên” . (6)
Tình hình cũng diễn ra tương tự như trên đối với các tờ báo giấy tại châu Âu. Trong những năm gần đây, số lượng các tờ báo in tại châu Âu đã sụt giảm trông thấy. Trong bài phân tích nhan đề “Báo châu Âu đi về đâu” trên một trang báo điện tử, các tác giả đã đưa ra con số cho thấy, số lượng phát hành báo in tại các nứoc EU đã giảm đi rõ rệt. Chẳng hạn từ năm 2000 đến năm 2005 tỷ lệ này đã giảm 5,26%. Chính điều này cũng đã dẫn đên những cuộc tranh luận bất tận về cách thức sử dụng các phương tiện truyền thông trong tương lai. Câu hỏi được thảo luận là, chúng ta nên tập trung vào báo in, báo hình hay vào mạng và còn những phương tiện thông tin nào khác nữa.
Bruno Patino, với tư cách là giám đốc điều hành các dự án về hoạt động trực tuyến và số hoá của tờ báo tiếng Pháp nổi tiêng Le Monde đã cho rằng trong bối cảnh của toàn cầu hoá và truyền thông đa phương tiện, những người làm truyền thông đại chúng nên có sự phân công rõ ràng hơn đối với việc sử dụng các phương tiện thông tin. Chẳng hạn, báo in nên tập trung vào những bài điều tra sâu, báo mạng sẽ tập trung vào những thông tin nhanh và ngắn gọn, tức là vào các đối tượng có ít thời gian.
Tuy nhiên, thực tế cuối cùng cũng diễn ra theo chiều hướng không quá bi quan. Cho đến nay không ít những người tham gia vào công tác truyền thông đại chúng lại nhận ra một thực tế là, chỉ có những kẻ bám giữ vào cách thức tư duy cũ mới bi quan về cái gọi là “sự khủng hoảng của báo in” hay “cú sốc của Internet” mà thôi. Những người hội nhập nhanh chóng với “thông tin đa phương tiện” đều cho rằng việc hướng tới và chấp nhận “thông tin đã phương tiện” sẽ là một bước tiến mới của ngành truyền thông.
Giáo sư Neil Henry, giảng viên khoa báo chí trường Đại học Berkeley, California, khi được hỏi về việc ông có lo lắng tới điều mà người ta tiên đoán về cái chết của báo in hay không, đã viện dẫn về việc trước đây câu hỏi này đã được đặt ra khi xuất hiện thế giới phong phú và đa dạng của thông tin truyền hình. Ông cho rằng, nếu trước đây truyền hình đã không giết chết được báo in thì ngày nay báo điện tử cũng khó mà có thể làm được điều này. Người ta vẫn mong muốn được ngồi uống cà phê cùng với một tờ báo bay lất phất hơn là với một chiếc máy vi tính, lại càng không muốn mang chiếc máy tính này lên giuờng ngủ. Vậy vấn đề là ở đâu, theo Neil Henry, chúng ta cần phải sửa mình để chung sống với truyền thông đa phương tiện, bởi chính truyền thông đa phương tiện sẽ mang lại cho truyền thông những sức mạnh mới. (7)
Nhận ra tính tất yếu của xu hướng truyền thông đa phương tiện, giới truyền thông toàn cầu đang cố gắng chuyển hướng đầu tư sang các phương tiện phong phú của truyền thông bên ngoài báo in, đặc biệt là đầu tư cho các công nghệ truyền thông mới.
Chẳng hạn, tờ Washington Post ở Mỹ đó có một loạt các thử nghiệm trên báo điện tử của họ trong nhiều năm qua để thu hút thêm lượng độc giả: “đưa kết nối đến các blogs về một bài báo, cho phép người đọc chat trực tuyến với tác giả một bài báo, cho phép các cộng tác viên đăng các blog của mình trên trang chính để độc giả có thể đối thoại gần như trực tiếp với từng cộng tác viên. Tác dụng của các sáng kiến này đối với danh tiếng và sự chuyên nghiệp báo chí cũng như tính đáng tin cậy của tin tức thì còn phải bàn cãi thêm, nhưng rõ ràng những hoạt động trực tuyến này đó khiến cho người đọc cảm thấy gần gũi thân thiết hơn với tờ báo điện tử, nhờ vậy thu hút được một lượng độc giả trung thành lớn”. (8)
Sự việc cũng diễn ra tương tự như vậy với tờ Wall Street Journal, một trong những tờ báo có số lượng độc giả lớn nhất nước Mỹ. Báo này đang có những nỗ lực gắn kết báo điện tử với báo in. Báo điện tử của họ đã ký thỏa thuận để đăng các “tít” quan trọng của các tờ báo châu Á và châu Âu trong mục “Across Asia” và “Across Europe”. Từ đó, người đọc có thể sẽ được dắt đến link của các tờ báo này. Còn các mục tương ứng của tờ báo in thì được thu ngắn lại và có các “pointers” để chỉ đến các web link. Thêm vào đó những người trả phí để đọc báo điện tử sẽ truy cập vào được những phần truyền thông đa phương tiện chỉ có trên mạng mà không có trên báo giấy, đồng thời họ cũng có thể truy cập qua điện thoại đa chức năng Blackberry và qua hệ thống phần mềm tổng hợp thụng tin RSS. (9)
Thực tế trên đã cho thấy, sự chuyển hướng từ các phương tiện truyền thông truyền thống sang hệ thống truyền thông đa phương tiện đã không chỉ bao hàm ý nghĩa về một sự thay đổi hình thức chuyển tải thông tin, mà còn quan trọng hơn, báo hiệu một cuộc cách mạng lớn về phong cách làm báo. Bất kể một công ty truyền thông nào, nếu muốn thành công thì đều phải nhận thức, đón đầu và phát triển sự chuyển biến này.
Truyền thông đa phương tiện cũng thâm nhập vào chính hành vi nghề nghiệp của các nhà truyền thông. Phương tiện tối thiểu của người làm báo bây giờ không còn chỉ là cây bút và chiếc máy ảnh đơn thuần, mà còn là những chiếc máy tính có bộ nhớ siêu việt. Họ phải làm quen với rất nhiều kỹ thuật và công nghệ truyền thông mới, các phương tiện thu nhận và truyền dẫn thông tin có khả năng truy cập và chuyển tải một khối lượng thông tin đồ sộ trong một thời gian ngắn.
Phương tiện và kỹ thuật truyền thông mới cũng thâm nhập vào hệ thống biên tập của các cơ sở truyền thông, báo chí và xuất bản. Hệ thống công nghệ mới xuất hiện cũng tạo điều kiện cho các biên tập viên có thể dễ dàng thu thập, soạn thảo, lưu giữ và quản lý các thông tin. Các biên tập viên và phóng viên có thể ngồi trước màn hình vi tính được nối mạng, nhanh chóng chuyển tải thông tin, kiểm tra và thay đổi dữ liệu, kết nối trực tiếp tới tổng biên tập cũng như tới bạn đọc. Nó cho phép các biên tập viên có thể nhanh chóng điều chỉnh, thêm bớt hoặc cắt bỏ các thông tin ngay tại bàn làm việc.
Truyền thông đa phương tiện cũng đòi hỏi những vấn đề mới có liên quan đến bộ khung pháp lý, những vấn đề về bản quyền thông tin, về việc chuyển giao các dịch vụ truyền thông, về sự độc quyền và cạnh tranh trong giữa các công ti, các tập đoàn, các nhóm xã hội và cá nhân tham gia vào hoạt động truyền thông. Đây cũng chính là những xu hướng mới trong hoạt động truyền thông.
TRÍCH DẪN
(1), (2) Claudia Mast (2006) Truyền thông đại chúng. Những kiến thức cơ bản. NXB Thông tin, Hà Nội
(3). Dương Xuân Sơn (1996) Báo chí nước ngoài. NXB Văn hoá thông tin Hà Nội
(4), (5), (6), (8), (9) Hoàng Minh (2005) Báo Mỹ khủng hoảng, báo điện tử lên ngôi. Vietnamnet. ngày 7-11-2005
(7) Thời báo kinh tế Saigon (20/10/2007) : Báo chí Mỹ – Cú sốc internet 5. Thông tấn xã Việt Nam. ngày 27-10-2007. Bản tin về Đại hội lần thứ 2 các hãng thông tấn toàn thế giới.

Hàn vũ linh, in trong cuốn Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb Dân trí 2009
