Toàn cầu hoá và các tác động của nó đến phương tiện thông tin đại chúng đã nằm trong số những vấn đề được tranh luận nhiều nhất sau những biến động chính trị, kinh tế xã hội của thế giới những thập kỷ gần đây. Đi kèm với những sự giải thích khác nhau cả về ngữ nghĩa lẫn nội dung của khái niệm toàn cầu hoá là cả những cuộc đấu tranh gay gắt, thậm chí có cả biểu tình và đổ máu. Trên thực tế, “toàn cầu hoá” cùng với “ khu vực hoá” đã được coi là hai dạng thức của tiến trình hội nhập quốc tế của các quốc gia.
Không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự thống nhất chung về ý hướng phát triển, về sự bảo toàn cuộc sống tương lai của nhân loại trên hành tinh xinh đẹp, nhỏ bé và dễ bị tổn thương như trái đất của chúng ta, đang đòi hỏi ngày một khẩn thiết hơn việc con người văn minh phải xích lại gần nhau. Chính vì vậy, toàn cầu hoá không còn chỉ là một lời kêu gọi mà đã trở thành một nhu cầu của nhân loại. Tuy nhiên, vượt lên trên những ý tưởng về toàn cầu hoá được gói gọn trong ba từ đơn giản của ngôn ngữ là cả một hệ thống vấn đề phức tạp, mà chỉ một phạm vi nhỏ hẹp của nó cũng đủ để gây ra rất nhiều vấn đề cần phải được tranh luận và giải thích cũng trên phạm vi toàn cầu. Vậy là chính khái niệm toàn cầu hoá cũng đang trở thành vấn đề được toàn cầu hoá. Thực tế cũng cho thấy, quá trình toàn cầu hoá đã không chỉ diễn ra theo phạm vi không gian của các khu vực địa lý (chiều rộng), mà còn diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá…(chiều sâu). Toàn cầu hoá thâm nhập vào nhận thức và tư duy của con người, khiến cho lĩnh vực truyền thông trở thành một trong những khu vực bị tác động mạnh mẽ nhất của toàn cầu hoá. Con người trong thời đại thông tin đã không chỉ là công dân của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một khu vực địa lý mà còn là con người của toàn cầu, công dân toàn cầu, cùng chịu sự tác động và cùng đóng góp trách nhiệm đối với các vấn đề chung mang tính toàn cầu. Họ ngày càng quan tâm nhều hơn tới những vấn đề không chỉ liên quan tới cá nhân, gia đình, địa phương, khu vực, tổ quốc, mà còn cả những vấn đề liên quan tới vận mệnh chung của nhân loại như chiến tranh, hoà bình, khủng hoảng chính trị, suy thoái kinh tế, những vấn đề về môi trưòng sinh thái cũng như môi trường nhân văn.
Truyền thông trong bối cảnh của toàn cầu hoá cũng đang thay đổi và phát triển một cách mạnh mẽ. Truyền thông đang ngày càng mang tính chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, định hướng giá trị về tư tưởng, đạo đức và nhân cách sâu sắc. Sức mạnh của truyền thông được ví như sức mạnh của những cơn sóng thần, có thể cuốn hút sự tham gia của hàng triệu con người, trở thành một thứ vũ khí hiện đại trong việc tỏ chức và định hướng cho các hoạt động sống của con người.
Bản thân truyền thông trong cuộc cách mạng về thông tin cũng lớn mạnh không ngừng. Cơ sở vật chất và kỹ thuật phục vụ các hoạt động truyền thông ngày càng rộng lớn và hiện đại, hệ thống các phương tiên truyền thông cũng ngày càng đa dạng và rộng mở cùng với sự xuất hiện của internet và mạng lưới các phương tiện thông tin điện tử. Mạng lưới truyền thông cũng đang dần dần phủ kín toàn bộ bề mặt của hành tinh và trở thành một phần quan trọng của đời sống con người. Con người hiện đại đã quen với truyền thông, gắn bó với bầu khí quyển của truyền thông giống như với thực phẩm và không khí. Đối ngũ những cán bộ, nhân viên, kỹ thuật viên làm công tác truyền thông cũng ngày càng đông đảo. Họ có mặt khắp nơi trên hành tinh từ những điểm nóng bỏng của các cuộc chiến tranh, xung đột, đến những khu vực hẻo lánh xa xôi, những hoang mạc đầy cát bụi hay những vùng lạnh giá của bắc cực.
Truyền thông trở thành trận địa đấu tranh chính trị, kinh tế và văn hoá mang tính toàn cầu. Nó là vũ khí mà các nước mạnh sử dụng để chống lại và chinh phục các nước nhỏ. Truyền thông cũng trở thành phương tiện để các tập đoàn kinh tế lớn quảng bá và duy trì sự thống trị của mình trong các cuộc cạnh tranh kinh tế toàn cầu.Trong bối cảnh này, việc sử dụng sức mạnh của truyền thông để xây dựng và phát tiển đang trở thành mục tiêu mang tính chiến lược đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Trong những năm gần đây, công tác truyền thông ở nước đã được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, hệ thống truyền thông cũng không ngừng được mở rộng và phát triển mạnh mẽ với quy mô ngày càng lớn, trang thiết bị ngày càng hiện đại. Các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh truyền hình cũng ngày càng trở nên đa dạng và phong phú. Mạng lưới truyền thông điện tử cũng phát triển không ngừng. Các mục tiêu truyền thông cũng đã được xác định rõ, định hướng thống nhất vào việc xã hội hoá cá nhân, trong đó có các thế hệ thanh thiếu niên nhằm phát triển các nguồn lực con người, xay dựng đất nước trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Có thể nói, trong lịch sử phát triển của dân tộc chưa bao giờ người Việt Nam lại có điều kiện tiếp xúc nhanh chóng, mạnh mẽ và trực tiếp với một dung lượng thông tin lớn đến như vậy. Công tác truyền thông đặc biệt là các kênh media đã góp phần không nhỏ vào việc làm hình thành ý thức chính trị, tư tưởng và nhân cách con người trong đó có thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, chính sự phát triển cả về số lượng và chất lượng của mạng lưới truyền thông đại chúng ở nước ta hiện nay cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mới mẻ cần phải được nghiên cứu và phân tích, đặc biệt là những vấn đề mới mẻ nảy sinh từ quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng ta cần phải có sự thống nhất về quan điểm và hành động để có thể ngăn chặn vũ khí truyền thông từ các thế lực thù địch, sử dụng vũ khí truyền thông một cách khoa học và có hiệu quả, thông qua các hoạt động truyền thông mà phát triển chiến lược con người, xây dựng một thế hệ người Việt Nam có phẩm chất và nhân cách phù hợp với những đòi hỏi của sự phát triển đất nước.
Toàn cầu hoá – khía cạnh nhận thức phương pháp luận
Không phải đợi đến ngày nay, con người mới thực thi quá trình toàn cầu hoá. Bản chất sự sống của con người là sự mở rộng những liên kết không ngừng giữa họ với nhau thành xã hội. Lịch sử đã chứng minh rằng các nền văn minh bao giờ cũng làm giàu cho nhau qua những quá trình vay mượn, thẩm thấu, tiếp thu và tương tác văn hoá. Xã hội càng văn minh thì quá trình này càng rộng mở để phục vụ cho chính sự phát triển tiến bộ cuả con người.
Không phải ai khác mà chính Mác đã là ngưòi đầu tiên khẳng định tính khách quan của quá trình hội nhập của con người cá nhân vào một xã hội rộng lớn hơn, coi đó chính là “bản chất tự nhiên” của con người. Trong một tác phẩm được viết từ những năm còn rất trẻ, tác phẩm “Bản thảo kinh tế triết học 1844” , ở phần viết về sự tha hoá của lao động, Mác đã cho rằng sự liên kết giữa con người với con người trong hoạt động lao động là bản chất khách quan của xã hội. Nó giúp cho sự tồn tại của con người với con người bên cạnh nhau không giống như sự tồn tại của các bầy đàn sinh vật. Chính sự mở rộng không ngừng các quan hệ nói trên ở phạm vi mỗi ngày một rộng lớn hơn sẽ là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển thì những quan hệ nói trên sẽ càng rộng mở.
Ngày nay, trong những điều kiện của xã hội hiện đại, sự mở rộng các mối quan hệ xã hội trong lao động và sinh hoạt mà Mác nói ở trên đã trở thành những quan hệ mới thật đặc biệt. Nó không còn dừng lại ở những phạm vi nhỏ hẹp của các nhóm xã hội, các dân tộc và quốc gia mà đã ở phạm vi rộng lớn nhất- phạm vi toàn cầu. Toàn cầu hoá đã trở thành một tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển của các quá trình đan xen, hội nhập và tuỳ thuộc lẫn nhau trên phạm vi quốc tế. Có thể nói, chính nó đã là bằng chứng nói lên sự lớn mạnh không ngừng của nhân loại trong quá trình tự hoàn thiện mình.
Tuy nhiên, dù diễn ra dưới hình thức nào, trong phạm vi và mức độ ảnh hưởng ra sao, thì về bản chất, toàn cầu hoá bao giờ cũng là một quá trình lựa chọn các giá trị để có thể đi đến sự thống nhất chung. Sự lựa chọn này diễn ra khi êm ả, khi quyết liệt, lúc âm thầm ,lúc sôi động, nhưng bao giờ đó cũng là một quá trình vừa xây dựng vừa đào thải, vừa tiếp thu vừa loại bỏ- điều mà không ít các học giả lớn trên thế giới đã không ngần ngại gọi là một “cuộc tranh đấu”.
Sẽ thực sự là sai lầm nếu xem thường tính “tranh đấu” này trong sự chọn lựa các giá trị của quá trình toàn cầu hoá. Bởi lẽ trên thực tế, quá trình toàn cầu hoá, nếu ở lĩnh vực này có thể là sự mở rộng những giá trị tiến bộ và văn minh thì ở lĩnh vực khác lại chỉ là thoái bộ, là sự thâm nhập của những điều kỳ quái, thậm chí lạc hậu và phi nhân đạo, ở nơi này có thể thể gắn liền với sự tăng trưởng và phát triển nhưng ở nơi khác lại có thể là thảm hoạ, thậm chí huỷ diệt.
Bởi vậy, toàn cầu hoá, nói theo cách diễn đạt của Mác, cũng chính là một quá trình đang bị “tha hoá”. Nó có thể là luồng gió mát nhưng cũng không ít trường hợp lại là khí độc. Trong nhiều trường hợp, toàn cầu hoá còn hoàn toàn đồng nghĩa với sự xâm lược của các giá trị này đối với các giá trị khác, sự loại bỏ, thậm chí tiêu diệt bản sắc và sự đa dạng về văn hoá. Đó cũng chính là tính hai mặt của toàn cầu hoá, nó khiến cho sự tính toán các cách thức tiến tới toàn cầu hoá luôn luôn là khác nhau đối với mọi quốc gia
Giáo sư Jean-Marie Guehenno làm việc tại viện Nghiên cứu Quốc phòng Pháp trong một bài viết nhan đề “Mỹ hoá toàn cầu hay là toàn cầu hoá nước Mỹ” đã cảnh báo rằng về thực chất, hiện nay “toàn cầu hoá đang là một quá trình Mỹ hoá toàn cầu”, là “sự mở rộng giấc mơ Mỹ ra toàn bộ hành tinh”. Ông tự đặt câu hỏi là trong cái thế giới đang bị Mỹ hoá đó, liệu chính sách đối ngoại của Mỹ rồi có phải sẽ tới lúc chỉ còn là sự mở rộng đơn giản chính sách đối nội của nước Mỹ hay không ? Nếu toàn cầu hoá về bản chất là những sự lựa chọn giá trị, thì phải chăng trong thời đại hiện nay, đã đến lúc toàn cầu hoá chỉ còn có nghĩa là sự lựa chọn những giá trị của người Mỹ.
Nếu như vậy, đối với các dân tộc nhỏ bé nhưng có các giá trị văn hoá lâu đời và phong phú, vấn đề đặt ra là, liệu toàn cầu hoá có phải là một sự thử thách sống còn, một trở lực hay không. Toàn cầu hoá, do vậy có cần thiết phải gắn liền với ý thức cảnh giác, sự lựa chọn minh mẫn và sáng suốt các giá trị hay không ?
Có thể nói, sự lựa chọn các giá trị diễn ra trong quá trình toàn cầu hoá đang đặt nhân loại trước những thử thách lớn trên con đường phát triển và tự hoàn thiện mình. Vấn đề là ở chỗ cần phải làm sao để toàn cầu hoá sẽ đưa đến một kết quả tốt đẹp chứ không phải là một sự tha hoá, một sự huỷ hoại cho chính nhân loại. Toàn cầu hoá sẽ nâng nhân loại lên một tầm cao mới, đoàn kết thống nhất vì những quyền lợi chung gắn liền với những giá trị nhân đạo từ truyền thống và bản sắc của tất cả các nền văn minh.
Tuy nhiên trên thực tế, trong nhiều trường hợp toàn cầu hoá còn được sử dụng như một công cụ để các nước lớn can thiệp vào công việc nội bộ của các nước nhỏ, áp đặt tư duy chính trị của mình đối với các nước khác. Bởi vậy đối với nhiều nước, nói đến toàn cầu hoá người ta thường nhấn mạnh nhiều hơn tới toàn cầu hoá về kinh tế. Bởi lẽ trên lĩnh vực văn hoá, quốc gia dân tôc nào cũng muốn giữ gìn bản sắc của mình, chỉ có thể tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại chứ không muốn bị “đồng hoá” về văn hoá. Còn về chính trị, đa số các quốc gia đều không muốn bị phụ thuộc về chính trị, bị chi phối bởi các quốc gia khác…
Như vậy, về thực chất, toàn cầu hoá có thể đựơc xem như là một sự liên kết thế giới, theo đó những gì đang diễn ra ở một phần thế giới đêù có tác động đến môi trường kinh tế, xã hội, văn hoá và lối sống của các cá nhân, cộng đồng ở những nới khác trên thế giới.
Trên thực tế, toàn cầu hoá, là xu hướng được bắt đầu từ các nước phát triển. Nhưng cho đến nay, nó đã và đang kéo tất cả các nước, kể cả các nước chậm phát triển vào quỹ đạo của mình như một tất yếu lịch sử. Nó đang thiết định những nguyên tắc mới cho “cuộc chơi” trên bàn cờ Thế giới, chung cho tất cả các nước mà không phân biệt lớn hay nhỏ, phát triển hay kém phát triển.
Sự không phân biệt đó nhiều khi được giải thích một cách đơn giản, và phiến diện rằng đấy là sự bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế nó đang đặt các nước phát triển hoặc yếu kém trước hàng loạt thách thức nan giải khi giải quyết các vấn đề của mình. Song vì đây là xu hướng tất yếu, nên cho dù gặp nhiều khó khăn các nước chậm phát triển cũng không thể tránh được nó.
Toàn cầu hoá và hệ thống truyền thông quốc tế
Thực tế cho thấy, toàn cầu hoá đã không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế mà còn trên toàn bộ các vấn đề chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội trong đó có truyền thông.
Có thể nói rằng thuật ngữ “toàn cầu hoá” đã chỉ rõ một tiến trình mà trong đó sự chi phối của các nước có tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự , có bộ máy truyền thông lớn đối với các nước nghèo và nước nhỏ có hệ thống truyền thông yếu ớt. Nó phát triển dường như không giới hạn không chỉ trong lĩnh vực kinh tế chính trị mà còn mở rộng sang khía cạnh truyền thông về văn hoá- xã hội và lối sống trên phạm vi toàn cầu. Nó buộc các nước nhỏ và nước nghèo phải cảnh giác và luôn tìm mọi phương thức để có được những cách thức ứng phó tốt nhất nhằm bảo vệ chủ quyền và bản sắc dân tộc của mình.
Không còn nghi ngờ gì nữa, trong bối cảnh chung của quá trình toàn cầu hoá hiện nay, truyền thông có một vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng. Bản thân nó vừa chịu sự tác động trực tiếp của quá trình toàn cầu hoá lại vừa là tác nhân mạnh mẽ của quá trình này.
Lịch sử phát triển xã hội đã khẳng định vị thế và vai trò của các hoạt động truyền thông. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, truyền thông như đang dược chắp thêm một đôi cánh mới, trong một môi trường ngày càng rộng mở. Nó ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng đối với sự phát triển, định hướng giải quyết các mối quan hệ xã hội, xây dựng các giá trị và chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, đặc biệt là cuộc cách mạng về thông tin hiện nay, truyền thông lại càng có thêm sức mạnh. Chẳng thế mà nhiều nhà xã hội học đã khẳng định rằng thời đại chúng ta chính là thời đại được đặc trưng bởi sự phát triển không ngừng của hệ thống truyền thông.
Xét về một phương diện nào đó, truyền thông không trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng kinh tế, nhưng nó lại tác động trực tiếp vào con người và xã hội, thông qua hành vi của con người mà tạo nên sự tăng trưởng và phát triển. Có thể nói, truyền thông đã tác động trực tiếp tới việc xã hội hoá cá nhân thông qua việc hình thành các chuẩn mực và giá trị xã hôị, hình thành lối sống và nhân cách con người, qua đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tiến bộ của xã hội.
Các giải pháp vận dụng hệ thống truyền thông, dùng những phương thức đặc biệt để tuyên truyền, giáo dục, giúp con người có được những nhận thức và hành động đúng đắn đã không xa lạ đối với lịch sử phát triển của nhân loại. Những kỹ năng truyền thông, thông qua việc sử dụng ngôn từ và văn tự gắn liền với tài hùng biện của những tên tuổi vĩ đại như Platon, Aristotle, Socrate…Các lý thuyết truyền thông đều nhắc đến tên tuổi của các ông như là những người đặt nền móng cho khoa học truyền thông hiện đại. Bộ “Tu từ học” của Aristotle cho đến nay vẫn được coi là bộ giáo khoa đầu tiên của ngành truyền thông do chỗ nó đã đưa ra được các mô hình lý thuyết về truyền thông từ việc thai nghén các lý tưởng và lý lẽ đến việc giải quyết mối quan hệ giữa cách luận giải vấn đề với cảm xúc khi đưa thông tin đến người nghe.
Vấn đề truyền thông và vũ khí truyền thông cũng không hề xa lạ với các xã hội phương Đông cổ xưa, đặc biệt là hệ tư tưởng Nho giáo. Các nhà tư tưởng cổ xưa luôn luôn coi việc ghi chép, luận giải, truyền bá các chuẩn mực và giá trị sống cho thế hệ trẻ là điều quan trọng để xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong xã hội, duy trì sự ổn định xã hội.
“Ngũ kinh”, “ Tứ thư” cũng như các bộ sách cổ nhất của nho giáo đều là những tài liệu truyền thông phong phú và có giá trị khoa học cao. Ở bộ “Luận ngữ”, trong các mẩu truyện, những lời dăn dạy về đạo lý của người xưa, tác giả đã nêu lên những tấm gương sáng về cách xử thế trong cuộc đời cho những thế hệ tiếp theo. “Luận ngữ ” không chỉ là “kim chỉ nam” của đạo đức Nho giáo mà còn là cuốn sách giáo khoa vĩ đại về truyền thông. Chính sự tồn tại bền vững của hệ giá trị Nho giáo, theo dõi, kiểm soát, chế ngự nhận thức và hành vi của con người trong bao nhiêu thế kỷ qua ở Trung Quốc và các nước khác đã chứng tỏ rằng các phương thức truyền thông cổ xưa đã có hiệu quả mạnh mẽ như thế nào.
Hệ thống truyền thông truyền thống và những thách thức
Hệ thống truyền thông, theo cách hiểu truyền thống vẫn luôn được hợp thành từ ba khu vực chính:
Khu vực thứ nhất có thể được gọi là khu vực xác định mục tiêu và nội dung truyền thông. Ở đây mỗi tập đoàn và công ty truyền thông lại tuỳ theo mục đích và tôn chỉ hoạt động của mình mà tìm hiểu, nghiên cứu về đối tượng truyền thông, xác định những định hướng riêng về chính trị, tư tưởng, nhận thức và những mục đích cụ thể khác cho hoạt động truyền thông. Từ những mục tiêu cụ thể nói trên, người ta sẽ bàn bạc nhằm thống nhất về kế hoạch, nội dung và để hướng đối tượng tới việc tiếp nhận những thông tin cần thiết được đưa ra.
Những thách thức của toàn cầu hoá đối với khu vực này biểu hiện ở chỗ, các mục tiêu của truyền thông cũng như mục tiêu của toàn cầu hoá đang có nguy cơ bị lạm dụng bởi các nước có tiềm năng lớn về kinh tế cũng như bởi các tập đoàn kinh tế và tập đoàn truyền thông lớn. Trong trường hợp này, mục đích và nội dung của truyền thông nhiều khi đồng hành cùng với lợi ích của các nước và các tập đoàn nói trên.
Khu vực thứ hai của hệ thống truyền thông là khu vực chuyển tải thông tin, hoặc nói một cách cụ thể là khu vực hoạt động của các phương tiện thông tin, các kênh media, bao gồm hệ thống những phương tiện in ấn như xuất bản, báo chí, áp phích ,tờ rơi… những phương tiện phát thanh và truyền hình, qua hệ thống mặt đất, qua cáp hoặc qua vệ tinh…những phương tiện điện tử, video, đĩa compact, băng nhạc.. Các kênh media nói trên bao phủ lên toàn bộ đời sống xã hội, đi vào từng hang cùng ngõ hẻm, thâm nhập vào từng cộng đồng, từng nhóm xã hội, gia đình, với một sức mạnh khó mà lường hết được. Ngoài hệ thống các kênh media nói trên, trong thời đại ngày nay, chúng ta cũng không thể không nói tới lĩnh vực viễn thông và tin học vốn ngày càng được nối mạng rộng rãi, truyền đi đủ loại thông điệp đa dạng và phong phú tới toàn bộ xã hội. Ngoài hệ thống internet và các trang báo điện tử, chúng ta không thể không kể đến các dạng thông tin cá nhân từ các blog, các máy điện thoại di động, các thư điện tử…
Khu vực thứ hai trong cơ cấu của hệ thống truyền thông cũng là khu vực đang có nhiều xáo trộn to lớn hiện nay. Sự xáo trộn này gắn liền với sự xuất hiện của nhiều phương tiện đa dạng trong hệ thống truyền thông mà các nhà nghiên cứu về thông tin đại chúng gọi là “hệ thống truyền thông đa phương tiện”.
Khu vực thứ ba trong hệ thống truyền thông chính là khu vực của sự tiếp nhận truyền thông. Trong việc nâng cao hiệu quả của truyền thông, sẽ thật là sai lầm nếu chúng ta bỏ qua khu vực này cũng như chúng ta nghĩ rằng những người tiếp nhận truyền thông chỉ là những kẻ thụ động. Trên thực tế, các ý tưởng và nội dung truyền thông sau khi đi qua hệ thống các media mặc dù đều đã chịu nhiều biến dạng nhưng sẽ lại còn phải tiếp tục chịu biến dạng trong bộ lọc của đối tượng tiếp nhận.
Đối tượng tiếp nhận tuyên truyền không phải là một khối đồng nhất về địa vị xã hội, trình độ nhận thức chính trị và văn hoá. Họ lại càng không phải như nhiều người đã lầm tưởng, chỉ là một tờ giấy trắng tinh sẵn sàng thẩm thấu mọi sắc mầu của truyền thông. Chính trình độ nhận thức, quyền lợi và nhu cầu của đối tượng truyền thông quyết định khả năng họ sẽ tiếp nhận hoặc sàng lọc nội dung truyền thông như thế nào. Cách mạng thông tin hiện nay cũng đang xoá dần ranh giới giữa những người tiếp nhận thông tin với những sản xuất thông tin, tạo nên một bộ mặt mới trong trong mối quan hệ giữa các chủ thể và khách thể của hoạt động truyền thông.
Phân tích cơ cấu cơ bản của hệ thống truyền thông nói trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng những biến đổi to lớn của hoạt động truyền thông đã diễn ra trên khắp các khu vực cấu thành của hệ thống truyền thông đại chúng và do vậy nghiên cứu các giải pháp về truyền thông phải là những nghiên cứu toàn diện, từ nhiều hướng để nâng cao chất lượng của tất cả các khu vực cơ bản của hệ thống truyền thông trước những thách thức của toàn cầu hoá.
Về mặt phương pháp luận, chúng ta cần phải bắt đầu từ việc xác định rõ mục đích và nội dung của truyền thông, nâng cao tính chính trị, tư tưởng, tính định hướng của hoạt động truyền thông. Bên cạnh đó chúng ta phải phát triển không ngừng hệ thống các kênh truyền thông cả về chiều rộng và chiều sâu. Cần phải làm sao để hệ thống truyền thông có đủ khả năng truyền tải một cách đúng đắn, khoa học những nội dung cần thiết tới các đối tượng tiếp nhận. ở đây rõ ràng vai trò của việc trang bị kỹ thuật hiện đại cũng như việc nâng cao năng lực và phẩm chất của những cán bộ truyền thông là hết sức cần thiết. Sau cùng, chúng ta cần phải chú ý tới vai trò của truyền thông, nâng cao không ngừng tầm nhận thức và cảm thụ của đối tượng tiếp nhận truyền thông. Cần phải tạo điều kiện để các đối tượng truyền thông tham gia vào quá trình truyền thông không phải chỉ như là những kẻ cảm thụ thụ động, mà còn biết suy xét, chủ động, thậm chí những chủ thể sáng tạo .

Hàn vũ linh, in trong cuốn Toàn cầu hóa – cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của Truyền thông Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia 2009
