ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỔ BIẾN KIẾN THỨC CỦA LIÊN HIỆP HỘI VIỆT NAM VÀ CÁC HỘI THÀNH VIÊN GIAI ĐOẠN 2008 -2018 (Bài 3)

BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CÔNG PHỔ BIẾN KIẾN THỨC CỦA LIÊN HIỆP HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 -2018

1. Bài học kinh nghiệm từ thành công

1.1 Vận động chính sách là tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho thông tin, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ là hoạt động ưu tiên hàng đầu của Liên hiệp Hội Việt Nam.

Một trong bài học kinh nghiệm thành công của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động thông tin, truyền thông và phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ là không ngừng vận động chính sách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các nhà khoa học triển khai các chương trình dự án phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.

Là cơ quan đại diện cho tiếng nói của trí thức khoa học và công nghệ của cả nước, Liên hiệp Hội Việt Nam trong những năm qua liên tục tổ chức hàng loạt các hoạt động lấy ý kiến trí thức, các nhà khoa học có uy tín, đầu ngành, tham mưu đóng góp trực tiếp cho việc xây dựng, ban hành các văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy các hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.

Lãnh đạo Liên hiệp Hội Việt Nam luôn coi quá trình vận động chính sách là ưu tiên số một trong hoạt động của Liên Hiệp Hội Việt Nam. Bằng nhiều nỗ lực và sự kiên trì, Liên hiệp Hội Việt Nam thông qua việc tổ chức các hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học, gửi các văn bản kiến nghị quan trọng đến các cơ quan hoạch định chính sách, các cơ quan chức năng, các bộ ngành trung ương và địa phương liên quan để có những chính sách được ban hành thuận lợi và sớm đi vào thực tiễn.

Trong khoảng 10 năm gần đây, quá trình vận động chính sách của Liên hiệp Hội Việt Nam đã đem lại hiệu quả cao trong việc xây dựng và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước liên quan đến hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức, trong đó phải khẳng định những đóng góp quan trọng của trí thức Liên hiệp Hội Việt Nam như Chỉ thị số 42-CT/TƯ ngày 16-04-2010, Hiến pháp nước Cộng hòa xã Hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi năm 2013)…Đặc biệt lần đầu tiên ý nghĩa và tầm trọng của hoạt động phổ biến kiến thức đã được khẳng định trong các điều 48, 50 của Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi năm 2013).

Minh họa internet

Cũng trong hoạt động vận động chính sách, từ năm 2010 đến nay, Các Hội ngành toàn quốc cũng đã tăng cường thực hiện Chỉ thị 42 thông qua các hoạt động vận động cơ chế phối hợp, liên kết, ký kết các văn bản thỏa thuận, hợp tác chặt chẽ với các Bộ, Ngành Trung ương và địa phương trong lĩnh vực hoạt động của mình, ưu tiên các hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ. Tổng hội Y Dược phối hợp với Bộ Y tế trong việc ký kết thỏa thuận hợp tác, huy động mạng lưới chuyên gia, hội viên biên soạn các tài liệu, ấn phẩm truyền thông về phổ biến kiến thức, huy động  mạng lưới Hội viên trải rộng đến thôn bản tham gia công tác tuyên truyền về các Chương trình Mục tiêu Y tế Quốc gia, phòng chống bệnh dịch trong nhân dân. Tổng Hội Xây dựng phối hợp với Bộ xây dựng trong các hoạt động đào tạo, tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng hành nghề cho kỹ sư thi công, giám sát công trình…Nhiều Hội Ngành toàn quốc cũng đã có những ký kết hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên Môi trường trong các chương trình, dự án phổ biến kiến thức phục vụ mục tiêu phát triển nông thôn mới, công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững…

Đối với các địa phương, nhiều Liên hiệp Hội địa phương cũng đã thành công trong việc vận động chính sách, xây dựng cơ chế hỗ trợ, phối hợp của Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành, các cơ quan chức năng đối với hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, thông qua các chương trình, dự án được các tỉnh/thành trực tiếp phê duyệt giao các nhiệm vụ cho Liên hiệp Hội. Các địa phương đi đầu trong các hoạt động này phải kể đến Liên hiệp Hội Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bá, Đà Nẵng …

Minh họa internet

Đặc biệt tháng 8 năm 2014, Liên hiệp Hội tỉnh Bắc Ninh đã vận động được UBND tỉnh ban hành Quyết định số 358/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phổ biến kiến thức của Liên hiệp Hội tỉnh giai đoạn 2015-2020 với nguồn kinh phí nhiều tỷ đồng, nhằm nâng cao kiến thức và năng lực thực hành cho các hội viên và cộng đồng về phát triển kinh tế gắn với ứng dụng các tiến bộ khoa học – công nghệ. Theo đề án được phê duyêt, Liên hiệp Hội tỉnh Bắc Ninh sẽ tổ chức từ 80 – 90 hội thảo khoa học và trên 90 buổi chuyển giao giải pháp sáng tạo kỹ thuật, đề tài khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm phục vụ sản xuất và đời sống của hội viên cũng như nhân dân trong tỉnh với hình thức và phương pháp thực hiện phố biến kiến thức phù hợp với đối tượng, đặc thù kinh tế – xã hội của từng địa phương như: tuyên truyền miệng, tập huấn, xuất bản ấn phẩm, bản tin, tập san. Bên cạnh đó, thực hiện 81 chương trình phổ biến kiến thức giai đoạn 2015-2020 thuộc các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; công nghiệp và thương mại; bảo vệ và phát triển môi trường bền vững; cải cách hành chính, xây dựng, kiến trúc và giao thông; văn hóa; y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng; thông tin đại chúng.

1.2. Không ngừng đổi mới, nội dung, phương pháp, cơ chế hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, sự sáng tạo, sáng kiến và ứng dụng của các nhà khoa học trong lĩnh vực này.  

Tổ chức Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội, đại diện cho trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam, ngày càng tập hợp và quy tụ đông đảo các trí thức, chuyên gia đầu ngành, có chuyên môn cao, kinh nghiệm làm việc trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, tâm huyết đối với sự nghiệp truyền bá, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ nói riêng, sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ nói chung.

Với đội ngũ chuyên gia hùng hậu được tổ chức theo nhiều cấp từ cơ quan trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam cho tới các Hội ngành toàn quốc, liên hiệp hội địa phương, các tổ chức khoa học và công nghệ đã không ngừng đổi mới các nội dung và phương pháp truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực, gắn khoa học và công nghệ với đời sống lao động sản xuất của nhân dân, tận dụng ưu thế của các phương pháp truyền thống như hội thảo, tập huấn, biên soạn và phân phát tài liệu với các phương tiện truyền thông hiện đại như kết nối truyền thông qua mạng internet, truyền thông đa chiều, đa phương tiện.

Những tiêu chí đặt ra của các dự án phát triển ngày nay, đặc biệt từ tiêu chí huy động tối đa sự tham gia của cộng đồng phối hợp với các nhà khoa học trong các hoạt động dự án thì các hoạt động thông tin, truyền thông và phổ biến kiến thức cho cộng đồng dường như là hoạt động không thể thiếu trong các dự án. Để có sự tham gia tiến tới làm chủ các hoạt động dự án và làm chủ cuộc sống của gia đình, cộng đồng, địa phương hướng tới các dự án phát triển bền vững, người dân cần có các kiến thức và kỹ năng cần thiết, đặc biệt là tri thức khoa học và công nghệ. Qua báo cáo nhiều tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam, các hoạt động thông tin, truyền thông nhằm nâng cao năng lực cộng đồng đảm bảo cho cộng đồng có thể xử lý được các vấn đề đang đặt ra với họ và dự án. Các nhà khoa học luôn chú trọng việc tổ chức các khoá tập huấn dành cho các đối tượng khác nhau ở các địa phương thực hiện dự án. Các khóa tập huấn không chỉ cung cấp các kiến thức khoa học mới mà còn thảo luận xung quanh các vấn đề của địa phương, tìm cách tháo gỡ và đưa ra các giải pháp khoa học phù hợp với địa phương.

Trong mười năm qua, tài liệu phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ luôn được các nhà khoa học coi trọng, biên soạn công phu, cẩn thận phù hợp với từng nhóm đối tượng cần truyền thông, các nhóm hưởng lợi từ các chương trình, dự án truyền thông và phổ biến kiến thức. Đã có hàng ngàn loại tài liệu mang tính chất ”cầm tay chỉ việc” ở các cấp độ và lĩnh vực khác nhau được các nhà khoa học biên soạn phục vụ cộng đồng và đem lại hiệu quả thực tiễn, nâng cao kiến thức, năng lực cho các cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng miền.

1.3. Không ngừng mở rộng hệ thống tổ chức Liên hiệp Hội Việt Nam, xây dựng bộ máy từ trung ương đến các hội ngành, xây dựng mô hình các đơn vị có bộ máy tổ chức gọn nhẹ, hoạt động linh hoạt, hiệu quả

Trong những năm qua, hệ thống tổ chức thành viên của Liên hiệp Hội Việt Nam trải rộng tới cộng đồng, làng xã: Các Hội ngành toàn quốc, Liên hiệp Hội tỉnh/thành phố có chi hội trực thuộc, hội ở địa phương rộng khắp trên cả nước, thậm chí có một số Hội ngành toàn quốc còn có hệ thống 4 cấp từ Trung ương đến địa phương, nhiều tổ chức khoa học và công nghệ triển khai các dự án tại cộng đồng. Do vậy, hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN ngày càng được triển khai, nhân rộng tới cấp cộng đồng thôn xóm, tới từng người dân, góp phần đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, đời sống và nâng cao dân trí. Nhiệm kỳ 2010 -2015, đã chứng kiến việc thành lập, phủ sóng 100% cơ quan Liên hiệp Hội trên 63 tỉnh/thành phố của cả nước.

Nghiên cứu khoa học phục vụ đời sống, minh họa internet

Khác với các tổ chức khoa học và công nghệ ở khu vực công lập về chức năng và mô hình tổ chức, các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam hoạt động trên nguyên tắc tự chủ, tự hạch toán về tài chính. Các tổ chức này, từ góc độ pháp lý không được nhà nước hỗ trợ tài chính cho các hoạt động hành chính, tổ chức, cũng như các chương trình, dự án họ thực hiện. Việc tiếp cận các nguồn ngân sách cũng khá khó khăn phải thông qua quá trình đấu thầu các chương trình, đề tài, dự án hoặc sẽ được nhà nước đặt hàng nếu chứng minh được các chương trình, dự án đó là cần thiết và giải quyết được các vấn đề mà nhà nước quan tâm.

Việc hình thành tổ chức khoa học và công nghệ tại Liên hiệp Hội Việt Nam theo mô hình phi chính phủ, đa phần là đóng góp của các thành viên sáng lập, hoặc vận động các nhà tài trợ. Trong quá trình vận hành các chương trình hành động của mình, các tổ chức lại hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện và phi lợi nhuận nên khác hẳn với mô hình kinh doanh của doanh nghiệp. Qua khảo sát các tổ chức khoa học và công nghệ phi chính phủ thuộc VUSTA, kết quả cho thấy đa phần các tổ chức có kinh phí eo hẹp, nên họ phải tìm kiếm các nhà tài trợ trong nước và quốc tế để thực hiện các dự án truyền thông, phổ biến kiến thức của mình. Cũng vì kinh phí hạn chế nên hầu hết các tổ chức có mô hình quản lý gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ chủ yếu gắn kết nhau trong các hoạt động dự án và đặt tiêu chí hiệu quả công việc lên hàng đầu thay cho mô hình quản lý hành chính như các tổ chức khu vực công lập.

Mặc dù với nguồn lực hạn chế nhưng vai trò nhiều tổ chức thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam trong việc huy động các nguồn lực tài chính để thực hiện các chương trình dự án của mình theo phương châm thấy cần thì cứ làm trướcrồi tìm kiếm tài trợ sau”. Trường hợp Làng Kinh tế sinh thái của Viện Kinh tế tế sinh thái là ví dụ điển hình. Những dự án ban đầu gần như không có tài trợ, hầu hết các nhà khoa học thực hiện dự án trên tinh thần tình nguyện và thuyết phục sự hỗ trợ của chính quyền, người dân địa phương. Tuy nhiên sau một thời gian thực hiện các dự án thu được thành công và hiệu quả trong thực tiễn Eco-Eco đã được các tổ chức quốc tế quan tâm và hỗ trợ tài chính cho các hoạt động dự án. Nhiều dự án làng kinh tế- sinh thái đã nhận sự tài trợ của chính phủ Hà Lan thông qua IUCN Việt Nam, các tổ chức quốc tế như CCFD, GEF/SGP (UNDP). Theo báo cáo của Eco-Eco, các dự án không được các nguồn tài trợ lớn mà chỉ ở mức trung bình và nhỏ. Dự án lớn được khoảng tài trợ khoảng 50.000 USD và dự án nhở được khoảng 10 -15.000USD. Do thành công của các dự án, Eco-Eco cũng đã từng được Bộ Khoa học và Công nghệ đặc cách hỗ trợ kinh phí.

Thực tế phân tích tính hiệu quả và thành công trong các dự án truyền thông, phổ biến kiến thức của các tổ chức thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam cho thấy vai trò điều phối nguồn lực của các tổ chức khá phong phú, đa dạng. Không sử dụng ngân sách, giảm tải áp lực cho nhà nước, ưu điểm nổi bật của các tổ chức là việc thu hút được các nhà tài trợ trong nước và quốc tể để thực hiện các dự án phát triển. Ngoài các chi phí về nghiên cứu, đo đạc, kiểm tra thực tế địa phương, kinh phí dự án thường được tập trung vào việc mua các giống cây trồng, vật nuôi, truyền thoongm phổ biến phương tiện kỹ thuật, cung cấp đến từng hộ gia đình tham gia dự án và là đối tượng hưởng lợi của dự án.

Như vậy, có thể thấy từ quá trình tự chủ về tài chính, các tổ chức thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã tạo nên tính năng động trong việc tìm kiếm dự án, tìm kiếm các nguồn tài trợ chi trả cho tổ chức, chuyên gia, đồng thời có những khoản đầu tư, hỗ trợ cần thiết cho cộng đồng, để chứng minh cho những ý tưởng khoa học và hiện thực hóa những ý tưởng đó trong thực tiễn, bằng những kết quả thành công thu được từ những dự án họ đã và đang thực hiện.

2. Bài học kinh nghiệm rút ra từ những khó khăn, hạn chế và một số giải pháp

2.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ khó khăn, hạn chế

Bên cạnh những bài học kinh nghiệm từ thành công được nêu trên, công tác thông tin, truyền phổ biến kiến thức của Liên hiệp Hội Việt Nam còn nhiều hạn chế, yếu kém cần phải rút kinh nghiệm và tiếp tục hoàn thiện trong những năm tới, đó là:

– Nhiệm vụ phổ biến kiến thức KH&CN tuy đã được quy định cụ thể trong các văn kiện của Đảng, một số văn bản của Nhà nước và Điều lệ của Liên hiệp Hội Việt Nam, nhưng công tác vận động chính sách còn chưa đáp ứng được kỳ vọng, yêu cầu của Liên hiệp Hội Việt Nam. Nhiều địa phương, hội ngành chưa thực sự chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng tham mưu Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể để phát huy vai trò của các hội thành viên, hội viên và nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN trong nhân dân. Các bộ, ngành còn thiếu sự quan tâm cần thiết trong việc tham mưu Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách đối với hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN của Liên hiệp Hội Việt Nam. Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Tài chính chưa xác định được một cơ chế tài chính chi tiêu rõ ràng cho các hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN.

– Liên hiệp Hội Việt Nam chưa hoàn thiện chiến lược, chương trình tổng thể, tầm nhìn dài hạn cho hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức KH&CN. Nhiều chương trình hoạt động còn mang tính tự phát, do vậy việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phổ biến kiến thức trong toàn hệ thống chưa được triển khai bài bản; các hội thành viên và các đơn vị trực thuộc mạnh ai nấy làm, hoạt động phân tán, thiếu liên kết, thiếu định hướng, thiếu kinh phí dẫn đến kết quả và hiệu quả đạt được còn ở mức hạn chế.

– Nội dung để truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ chưa được chọn lọc, chưa sát với nhu cầu của đông đảo người lao động, chưa có trọng tâm, trọng điểm. Các hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ chưa được đổi mới, nâng cao, thiếu sáng tạo, chưa phù hợp với từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội. Việc áp dụng các sáng tạo của khoa học và công nghệ nhận được ít sự quan tâm của các tổ chức, các doanh nghiệp. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động phổ biến khoa học và công nghệ còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

– Hệ thống các cơ quan trực thuộc, trong đó có các cơ quan báo chí của Liên hiệp Hội Việt Nam tuy có số lượng lớn, nhưng do thiếu kinh phí, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp trong công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức KH&CN. Một số tạp chí có lượng xuất bản lớn, thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả trong cả nước, nhưng còn nhiều tạp chí chuyên ngành chỉ xuất bản với số lượng ít, kén độc giả, phạm vi và mức độ ảnh hưởng đối với đại đa số người dân không nhiều.

2.2. Một số giải pháp

Phổ biến kiến thức KH&CN là nhiệm vụ quan trọng, ưu tiên hàng đầu của Liên hiệp Hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khẳng định vị thế, vai trò của Liên hiệp hội Việt Nam với cộng đồng và xã hội. Để tăng cường hiệu quả của các hoạt động truyền thông và phổ biến kiến thức, Liên hiệp Hội Việt Nam cần tiếp tục tăng cường vai trò chủ động, tích cực trong việc vận động chính sách, tham mưu, phối hợp với các cơ quan chức năng của chính phủ Chính phủ hướng tới ban hành Quyết định của Thủ tướng chính phủ cho hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức, tham mưu và vận động chính sách hướng tới xây dựng Thông tư liên tịch giữa bộ Khoa học và công nghệ và Bộ Tài chính để tạo cơ chế sử dụng và chi tiêu ngân sách hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.

Liên hiệp Hội Việt Nam cần xây dựng các chương trình dài hạn và ngắn hạn cho hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, dựa trên ý kiến đề xuất của các tổ chức thành viên, các nhà khoa học, tham mưu, phối hợp với các cơ quan chức năng hướng tới xây dựng chương trình quốc gia về phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ. Việc xây dựng chương trình phải gắn với việc cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, đặc biệt là Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 -2020, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ phải bám sát bối cảnh của thực tiễn phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam và thế giới, tập trung vào các thành tựu, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn sản xuất và đời sống của nhân dân, bảo đảm tính khoa học, khả thi và tận dụng tối đa các nguồn lực hiện có. Bên cạnh đó các chương trình phải bám sát mục tiêu, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Liên hiệp Hội Việt Nam, đảm bảo yêu cầu đoàn kết, tập hợp trí thức, phát khả năng lao động, sáng tạo của trí thức, khắc phục được những hạn chế, bất cập hiện nay về công tác truyền thông phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, củng cố đội ngũ làm công tác này, nâng cao chất lượng các tài liệu, sản phẩm, phổ biến kiến thức, đổi mới, đa dạng hóa các hình thức, biện pháp phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp giữa Liên hiệp hội Việt Nam với các Bộ, các ngành có liên quan.

Xây dựng các chương trình phổ biến kiến thức của Liên hiệp Hội Việt Nam cần dựa trên các tiêu chí tiêu chuẩn hóa, đại chúng hóa, đó là các kiến thức đã được chứng minh, kiểm định, có khả năng ứng dụng, áp dụng trên diện rộng đem lại hiệu quả trong thực tiễn. Chương trình Phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ cũng cần áp dụng  mô hình kết hợp kiến thức với thông tin, đảm bảo tính cập nhật, đa chiều, có cấp độ từ thấp đến cao, từ kiến thức phổ thông đến kiến thức chuyên sâu trong từng lĩnh vực phát triển cụ thể. Mỗi cá nhân, tổ chức vừa là chủ thể vừa là đối tượng của hoạt động phổ biến kiến thức trên diện rộng.

Liên hiệp Hội Việt Nam cần tổ chức, huy động tốt mọi nguồn lực và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống Liên hiệp hội Việt Nam bao gồm các Hội ngành trung ương, Liên hiệp hội địa phương, các tổ chức trực thuộc hệ thống Liên hiệp hội tham gia vào công tác phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, huy động sự tham gia của các cá nhân, tổ chức, các nhà quản lý, các nhà sáng tạo và nhà khoa học, thanh niên học sinh, sinh viên, để các hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ ngày một được xã hội hóa sâu rộng và đem lại hiệu quả trong thực tiễn, huy động các nguồn lực tài chính, đóng góp của cá nhân, tổ chức để từng bước xã hội hóa các hoạt động này.

Danh mục tài liệu tham khảo

  1. Đặng Vũ Cảnh Linh (2014) Hoạt động Phổ biến kiến thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Báo cáo phục vụ Báo cáo số 393/BC-LHHVN ngày 27/5/2014 của Liên hiệp Hội Việt Nam về Tình hình hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam trong thời gian qua)
  2. Đặng Vũ Cảnh Linh, Tô Bá Trọng (2013) Hoạt động thông tin và phổ biến kiến thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ( Báo cáo chuyên đề phục vụ hoạt động kỷ niệm 30 năm thành lập Liên hiệp Hội Việt Nam).
  3. Đặng Vũ Cảnh Linh (2014), Thực trạng hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giai đoạn 2010-2014, đề xuất định hướng hoạt động trong thời gian tới (Báo cáo chuyên đề Phục vụ văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam)
  4. Đặng Vũ Cảnh Linh (2017), Một số kinh nghiệm về hoạt động thông tin, phổ biến kiến của Liên hiệp Hội Việt Nam từ khi thành lập đến nay thuộc nhiệm vụ Trên cơ sở bài học kinh nghiệm sau 30 năm hoạt động đề xuất hướng phát triển của Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam trong thời gian tới.

Đặng Vũ Cảnh Linh, Chuyên đề tổng kết hoạt động phổ biến kiến thức của Liên hiệp hội Việt Nam 2018

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan