HƯƠNG CAO THÔN

          Không sôi nổi, ồn ào như tranh Đông Hồ, lụa Hà Đông, gốm Bát Tràng, gỗ Đồng Kỵ, đồng Đại Bái…mà vẫn có đâu đây những bông hoa dịu dàng, e ấp nhưng cũng không kém phần khoe sắc và quyến rũ giữa mảnh vườn trăm hoa của nghề truyền thống Việt Nam. Đó là Hương Cao thôn, một trong những làng nghề lâu đời và nổi tiếng nhất tỉnh Hưng Yên.

          Cái tên gợi nên một sự thanh bình, một sự huyền ảo, mê hoặc nào đó, không xác định, không định hình. Và chỉ khi con người rũ bỏ đi chiếc áo thường ngày bụi bặm nơi đô thị, cuộc sống phồn hoa và những đua tranh, họ mới có thể cảm nhận từng dư vị, từng hơi thở ngọt ngào giữa một cái tên vừa giản dị, vừa mộc mạc nhưng lại không kém phần tao nhã, thanh cao đến vậy. Một góc tâm linh nhưng cũng là một góc tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc cùng bao điều thành kính và thiêng liêng.

          Dù chỉ cách thành phố Hưng Yên 7km, lọt thỏm giữa những khu phố xá, giữa con đường Quốc lộ xe qua lại tấp nập, nhưng Hương Cao Thôn vẫn yên ả như thách thức thời gian và những thăng trầm thế sự. Vẫn là những hương thơm tỏa ra từ những ngôi nhà xen lẫn làn khói hòa quyện sương mê say lòng người. Vẫn là những hương thơm thoang thoảng lan ra khắp vùng từ một ngôi làng cổ có tới mấy trăm năm làm nghề – một thứ nghề thật độc đáo, hiếm gặp, nhưng thực sự cao quý – Nghề làm hương.

          Tương truyền, tổ nghề làm hương là một phụ nữ. Chẳng biết vì lý do nào, người phụ nữ xinh đẹp của Hương Cao thôn, rời quê hương sang Trung Quốc. Bà lấy chồng, theo chồng bôn ba khắp nơi và tình cờ học được nghề làm hương. Quyết tâm truyền một cái nghề độc đáo cho quê hương mình, bà đã mang 2 con trở về Việt Nam và dạy nghề cho dân làng. Bước đầu chỉ truyền bá cho những người trong họ, rồi từ đó truyền đến tất cả dân làng. Hàng trăm năm như vậy, ông truyền cho con, con truyền cho cháu, cháu truyền cho chắt, vừa học hỏi và vừa sáng tạo không ngừng để rồi nghề hương đã trở thành nghề truyền thống của Hương Cao thôn từ khi nào. Làng nghề ở đây thực sự có cái gốc.

          Và chính cái gốc lâu bền, vững chắc của tính truyền thống, của tay nghề, sự khơi dậy của tâm hồn phóng khoáng và sáng tạo vốn tiềm ẩn trong mỗi nghệ nhân, cùng những bí quyết độc đáo gia truyền của mỗi gia đình đã tạo nên những nhánh, những cành, phủ lá xum xuê, tỏa bóng đến nhiều miền đất nước từ gốc cây cổ thụ nghề làm hương và thương hiệu Hương Cao thôn.

           Chẳng có mấy người Hương Cao thôn rời làng mà phải băn khoăn, lo lắng kiếm nghề, học việc, tìm chỗ làm trong thời kỳ khủng hoảng tài chính này. Bởi mỗi người dân làng, trong họ đều mang những tinh hoa của một thứ nghề mà ai cũng cần, nhà nhà đều cần, đồng hành cùng bản sắc văn hóa người Việt, nhưng vốn lại một thứ nghề chẳng phải ai cũng có thể học và làm được, nếu không có tâm huyết, sự rèn luyện và những đúc rút cần thiết từ những phẩm chất truyền thống. Ở Hà Nội, có khoảng 250 hộ người Hương Cao thôn đang sản xuất, kinh doanh về hương, so với 218 hộ còn lại trong thôn. Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Nam Định…đều có người gốc Hương Cao thôn sinh sống và làm nghề.

           Đốt một nén hương, hướng tâm hồn, ký ức về ông bà, tổ tiên, ru mình vào cõi Phật, đánh thức tính thiện từ những suy tư bản ngã, rồi với những con người thật tinh tế, họ chợt nhận ra trong cái không gian tâm linh đặc biệt trước mặt, không thể thiếu được một mùi hương thuần khiết được tạo ra từ bàn tay khéo léo của những nghệ nhân làm hương. Mùi hương là quan trọng nhất và cũng là khó khăn nhất với nghề làm hương.

          Tất cả đều phải là thảo mộc, chứ không phải một hóa chất nào. Tất cả đều là học thuật truyền thống kết hợp với cảm giác, quá trình thực nghiệm của những người nghệ nhân chứ không phải một phòng thí nghiệm hóa học được tổ chức quy mô và bài bản nào. Làm mùi hương giống như người thầy lang kê đơn thuốc. Nhưng có thể lại là một đơn thuốc cầu kỳ có khi tới cả 120 vị khác nhau trộn lẫn vào nhau trong những tỷ lệ thật kỳ lạ tạo ra hương vị không thể nhầm lẫn. Tất cả đều giống như rất nhiều điều kỳ lạ trong thế giới tự nhiên này. Sự tương hợp với nhau giữa nhiều thứ tưởng như xa lạ, trong một công thức tưởng như ngẫu nhiên, nhưng thực tế cái ngẫu nhiên đó lại chính là quá trình nghiên cứu, thực hành rất lâu năm và nghiêm túc của con người để phát hiện ra quy luật, để vận dụng quy luật tự nhiên đó cải tạo cuộc sống của mình.

           Mỗi vị hương là vị thuốc để cứu người chứ không phải những hóa chất gây ra độc hại, được thử nghiệm từ đời này qua đời khác. Đốt hương cũng giống như sắc thuốc vậy, chỉ khác là chúng ta thưởng thức những vị thuốc bổ như trầm, đại hoàng, tùng, trác, bạch truật, bạch chỉ, xuyên đại hoàng, hoàng đàn…bằng khứu giác chứ không phải vị giác.

           Cầu kỳ và tinh tế trong làm mùi hương của nghệ nhân Hương Cao thôn nhưng những “đơn thuốc” lại không hề máy móc, đơn điệu khi trong chính suy nghĩ sáng tạo của các nghệ nhân bào chế luôn là một tôn chỉ: không nên giống người khác. Suy nghĩ thật giản dị, nhưng lại là minh triết cho sự phát triển nghề của Hương Cao thôn. Chẳng gia đình nào có công thức giống hoàn toàn với gia đình khác. Có người phát 5 vị, có người phát 10 vị, có người phát 50 vị, cũng có người phát 120 vị vừa để thể hiện cái riêng, cái bản sắc của mình, lại cũng vừa để đáp ứng nhu cầu thị trường, nơi quy tụ những khách hàng khắt khe và khó tính nhất.

           Mỗi nơi tiêu thụ hương của Hương Cao thôn lại ưa chuộng mùi, vị khác nhau và đặt nghệ nhân làm theo mùi, vị đó. Mùi hương có thể bào chế, sản xuất theo các loại ngửi xa, ngửi gần, thoang thoảng, đậm đặc, mùi nặng, mùi nhẹ dựa trên sự phối kết hợp các vị chủ đạo và vị phụ gia. Chủng loại thật đa dạng nhưng điểm chung là hương của Hương Cao thôn đã thắp lên rồi, thì những người khách nhớ người bán hàng chứ người bán hàng không nhớ hết được khách mua.

           Nghề hương gia truyền từng gia đình, từng dòng họ, từng cá nhân mà nếu không có chủ đích nào khác, các nghệ nhân chỉ truyền trực tiếp “đơn thuốc” cho con cháu mình. Nghề này nếu học lén, chỉ có thể học được cách làm ra nén hương thôi, chứ không thể làm ra được mùi vị. Nhưng ngược lại quy tắc đó lại không hề đúng với những nghệ nhân “cao cấp” . Chỉ cần châm nén hương, ngửi thoáng qua mùi vị là họ có thể phân loại, bình phẩm chẳng khác gì các Lưu Linh bình về rượu vậy. Một nén hương thắp lên, người ta bảo mùi này nặng mùi hắc hương hoặc hơi nặng mùi quế và chỉ thật sự “sành” mùi lắm mới dám nhận xét như vậy giữa những người làm nghề.  Thỉnh thoảng các nghệ nhân cũng tụ tập, như các Lưu Linh, trao đổi, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm nhưng cũng có khi là những cuộc tỷ thí công bằng xung quanh chuyện phương thức “phát thuốc”. Và tất cả đều được ngầm cam kết như chuyện “nội bộ” của người làng.

          Bên cạnh các vị thuốc thảo mộc, phần hồn của một nén hương, hai thành phần không thể thiếu để tạo nên chất kết dính và dẫn cháy là keo và mùn cưa trộn lẫn. Dây keo nhập từ Yên Bái, Lào Cai, Quảng Ninh, cũng có khi ở tận miền Nam xa xôi. Người dân tộc gọi dây keo là dây bời lời. Để làm thành nguyên liệu của hương, người ta phải phơi khô, dùng máy lớn xé và nghiền ra thành bột như bột mì sau đó đánh thử dây keo xem phát được mấy rồi mới đưa vào chế biến. Chẳng hạn người ta phát 10, tức là 1 cân keo phải được xác định trộn đều với 10 cân thuốc làm chuẩn.

           Đầu tiên là thí điểm, người nghệ nhân lấy 1 chén con với độ khoảng 10 chén bột khác đưa vào để đối chiếu. Nếu đúng đảm bảo phát 10 thì mới làm, vì phát 10 mới giữ được đúng vị trí nén hương từ khi châm đến khi tàn. Nếu phát nhẹ quá thì nén hương sẽ bị vỡ. Nếu làm nặng quá thì bị tắc, những vị thảo mộc cũng thành bột hết.

           Quy trình làm ra nén hương sẽ được bắt đầu bằng trộn thảo mộc với mùn cưa rồi trộn với keo. Mầu sắc thật hấp dẫn. Thành phẩm sánh, đặc và se lại như mật ong trộn bột nghệ. Có thể mầu vàng và có thể mầu nâu. Que hương thường được người dân gọi là “tăm”. Để làm ra nén hương đẹp và đảm bảo chất lượng, “tăm” cũng phải “chọn mặt, gửi vàng” tận Cầu Bầu, Thường Tín, Hà Tây với quy chuẩn của một làng nghề chẻ “tăm” truyền thống. Phát thuốc, trộn hương, bắn tăm rồi lại lần lượt xếp các sản phẩm “thô” vào những chiếc nong lớn đem ra sân phơi vài nắng để khô hẳn rồi mới đóng gói bao bì, chuyển đến nơi tiêu thụ.

          Một quy trình khép kín và các công đoạn thống nhất. Nghề làm hương xưa kia vất vả, những nghệ nhân một nắng hai sương, tỉ mẩn, cẩn thận với từng công đoạn, công việc vì trong tâm thức họ, nén hương biểu hiện sự thành khẩn, sự trang trọng, tôn nghiêm và lễ giáo. Các giá trị thủ công vẫn còn, các giá trị về ý thức và đạo đức vẫn còn đó nhưng cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, người dân đã  tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu để có thể cơ giới hóa quá trình sản xuất, làm ra nhiều sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường.

          Trộn nguyên liệu ngày nay đã có máy để trộn hương nhuyễn, đều, thấm sâu giữa các vị và keo. Với máy “bắn hương” giá thành từ 15 -20 triệu đồng, công suất có thể làm từ từ 2 đến 3,5 vạn nén/ ngày thay vì một lao động thủ công se nén hương chỉ được 1 vạn nén/ ngày. Hiện nay người ta chỉ cần cầm bó “tăm” đưa đều vào cái lỗ đồng tiền bên này là sẽ thành que hương ra từ cái ống hình phễu bên kia tương đối thuận tiện.

            Phơi hương phải phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết khi nắng, khi mưa. Hiện nay đã có một vài gia đình thử nghiệm lò sấy theo ý tưởng của một “kỹ sư” tự học – ông Nguyễn Văn Hồng. Để giảm bớt gánh nặng cho bà con và ổn định thời gian tạo ra thành phẩm, ông Hồng đã nghiên cứu lò sấy Long nhãn và áp dụng tạo ra lò than sấy hương, bằng cánh đốt lửa dẫn chung quanh và dùng lửa để táp cái hơi nóng khoảng 30,40 độ lên dàn phơi làm hương khô dần và đều. Chỉ dùng  hơi, áp suất của lửa nên hương sấy lò không bị mất mùi và không khác gì hương phơi dưới ánh nắng mặt trời.

           Nghề làm hương với người dân Hương Cao thôn đã không còn là nghề quá vất vả, đã không còn là nghề có thu nhập thấp, khi thị trường ngày càng mở rộng và thương hiệu ngày càng được lòng người tiêu dùng. Trước đây, nghề làm hương là nghề phụ cho nông nghiệp, còn bây giờ, ruộng đất bị thu hồi, quy hoạch thành phố, người dân lại mừng hơn vì họ không còn phải quá nặng với việc nhà nông nữa.

           Gia đình ông Cơ khá thành đạt với nghề của tổ tiên truyền lại. Ông là một trong những “thầy lang” kê đơn có tiếng ở làng. Chẳng những thế mà ông đã thích nghi và hội nhập nhanh với cơ chế thị trường thời mở cửa. Bán tri thức và chất xám, bán lao động thủ công miệt mài và cần mẫn nhiều năm, ông đã có một cơ ngơi đàng hoàng với kho hàng lúc nào cũng từ 1- 2 tỷ đồng với toàn hàng đặc vị và khách hàng nườm nượp từ Nam ra Bắc. Trường hợp gia đình ông Cơ cũng không phải quá hiếm ở trong làng.

          Lớp người trẻ Hương Cao thôn ngày càng nhạy bén với sản xuất và thị trường, đặc biệt là những kỹ năng quản lý, tổ chức sản xuất, thành lập doanh nghiệp và bán hàng. Nhà tranh, vách đất 10 năm trước đây đã thay bằng nhà cao tầng, to đẹp, kiên cố, thành nhà xưởng thuê hàng vài chục lao động từ nơi về làm. Trong làng có khoảng 25-30 hộ kinh doanh “lớn”  theo kiểu có nhà xưởng, nhân công như thế.

         Lang thang dọc đường làng, ghé thăm các hộ gia đình một cách ngẫu hứng vừa để thưởng thức mùi vị, hương thơm của các loại hương, vừa để tận mặt chứng kiến quy trình làm hương kỳ thú, tôi chợt nhận ra nghề nào cũng vậy, đều phải có những “trạng nguyên” của nó. Nhìn những khối hương vòng to người ta đặt cho đình – chùa, đốt cả tháng mới hết nhưng vẫn chưa đủ thú vị khi nghe các nghệ nhân nói họ có thể làm hương “hẹn” ngày một cách chính xác với đủ loại 3 ngày, 5 ngày, 10 ngày, nửa tháng, một tháng mà cũng có loại 24 tiếng. Hương xào to, hương xào vừa, hương xào nhỡ, hương xào bé và lại có cả loại hương nén nhỏ xíu. Có nghệ nhân còn bỏ công chế tác những bó hương trầm đặc biệt, suất dành cho những người sành chơi với giá thành 15.000đ/nén hương.

          Hương Cao thôn, cái tên thật đặc biệt. Cái nghề thật khó quên nếu một lần hiện diện trên mảnh đất này. Chẳng thế mà Phòng lưu trữ đài truyền hình VTV3 còn lưu trữ một bộ phim được làm cách đây khoảng 17, 18 năm về Hương Cao thôn với ý tưởng của anh Thắng, Viện Nghiên cứu Lịch sử Hưng Yên trong chủ đề “Tìm gốc làng nghề”. Chưa có dịp được xem bộ phim, nhưng lại thầm nghĩ chẳng có cái gốc nào lâu bền nếu cái ngọn không phát triển và không ngừng đổi mới, nếu cánh tay nó không tự vươn rộng và xa. Chẳng phải trời cho, chẳng phải trông chờ ở sự may mắn, càng không phải chỉ tiêu hoang phí những “tài sản” được thừa kế từ tổ tiên mà có được thành công. Tất cả đều là những công phu rèn luyện, những nỗ lực, mồ hôi, nước mắt chảy qua từng thế hệ con người mà thành. Hương Cao thôn chẳng phải vậy sao?

Hương cao thôn

Hàn Vũ Linh, tháng 7/2012

(bài đăng trên Tạp chí Truyền thống và Phát triển số tháng 11/2012)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan