Ba lần đến Thung Nai – Bản Mu. Một lần đi cùng gia đình. Hai lần thì cùng anh em, bạn bè ở cơ quan. Ba sắc mầu, không gian và thời điểm khác nhau nhưng lại thống nhất trong một bức tranh đầy cảm xúc về Thiên – Địa – Nhân hòa hợp, mang đậm bản sắc văn hóa Mường – Việt.
Thung Nai
Chẳng biết cái tên có từ bao giờ? Ai đặt? Giai thoại ra sao? Có người bảo trước đây là thung lũng thơ mộng, nơi cư ngụ của nhiều loại nai rừng, không biết có phải vậy không? Nếu được tự mình đặt cho Thung Nai một cái tên, tôi sẽ gọi nó là Dải lụa ngọc sông Đà.
Non nước hữu tình, cảnh đẹp như vẽ. Thung Nai vốn như một dải lụa mềm, chạy dài tự nhiên, đính trên mình những hạt ngọc sáng lấp lánh. Thật khó tưởng tượng chỉ cách chốn kinh kỳ, ngựa xe náo nhiệt và cuộc sống xô bồ hàng ngày khoảng gần 100 km lại là nơi hội tụ của hơi thở thiên nhiên rộng rãi và khoáng đạt đến vậy. Người ta gọi Thung Nai bằng tình yêu là “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Nơi đây cũng có cảnh trên bến, dưới thuyền, cũng có cảnh nước, mây cùng dắt tay trôi lững thững bên những ngọn núi đá chênh vênh với nhiều hình thù nhấp nhô, kỳ bí. Tất cả như sự sắp đặt lạ lùng có đến triệu năm của tạo hóa kết hợp với sự sắp đặt thật ngẫu nhiên của những con người thực hiện xây dựng hồ thủy điện Sông Đà.
Đứng ở nơi đây để cảm nhận từng lời viết hào hùng Nguyễn Tuân về một dòng sông dài 910 km, vừa hùng vĩ, dữ dội mà cũng thật êm dịu, trữ tình và thơ mộng. Văn sĩ được luôn ông trời ưu ái, phú cho những năng lực tiên thiên nào đấy. Họ sinh ra để tích tụ cái đẹp, nhốt cái đẹp của đất trời vào chỗ sâu lắng nhất trong trái tim nhạy cảm, rồi dường như cỗ máy tự nhiên ấy lại tuôn trào trên những dòng thác lớn của ngòi bút – dòng thác cảm xúc. Và có lẽ chẳng bao giờ cảm xúc của con người lại tỏ ra nhỏ bé hay lép vế hơn cái thiên nhiên hào hùng, vĩ đại đã sản sinh ra nó.
Chỉ phải chi 500 ngàn đồng/buổi, chúng tôi đã có một chiếc thuyền máy chở hơn 10 người đi lòng vòng ngắm cảnh trên hồ, tự do thả cái cảm xúc trôi nổi muôn hình, muôn vẻ của mình trên những dòng nước xanh lấp lánh nắng vàng, hiền hòa uốn lượn quanh Thung Nai. Hóa ra đến giờ mới hiểu, chẳng phải đến tận những đại dương xa xôi mới thấy núi, thấy đảo. Trước mặt chúng tôi, núi và đảo lại có thể “mọc” lên tự nhiên trên sông, trên hồ, tạo ra những điều kiện sống, sinh tồn tốt lành cho vạn vật. Cái cảm giác con người hòa trong sơn thủy thật đậm đặc, thật gần gũi, thật giản dị, thật nên thơ giữa cái thung lũng nước xanh vì lá, đá trắng vì mây này.
Động Thác Bờ là điểm đến, đẹp như những hang động thường thấy ở Vịnh Hạ Long. Lòng hang rộng, cao, không chỉ non xanh, nhũ đá mà mỗi mùa nước lên còn có thể đi thuyền nổi vào trong hang tạo nên một cảm giác hoang sơ, huyền bí như lạc vào thời kỳ tiền sử. Bên trong động đã được cải tạo. Đá đã được bào mòn thành những bậc thang dưới bàn tay con người, dẫn dắt du khách lên đến đỉnh cao nhất để hướng tâm linh về nơi đặt pho tượng đức Phật Tổ Như Lai tọa Thiền.
Cách hang Bờ khoảng 10 phút đi thuyền là Đền bà chúa Thác Bờ nổi tiếng. Đền tọa lạc trên một ngọn núi thơ mộng giống như một đài quan sát thuyền bè qua lại khu vực này. Ngay từ bến thuyền, những người dân tộc đã tụ lại bày bán đủ các loại đặc sản của sông nước, núi rừng. Mùi thơm của cá nướng, lợn mường, ngô sắn, cơm lam hòa quyện với hình ảnh sinh động, bắt mắt, nhiều mầu sắc của các đồ trang sức, mỹ nghệ mang đậm phong cách Dao – Mường. Có dịp chứng kiến lễ “lên đồng” trên động Bà Chúa, chúng tôi mới có dịp khám phá cận cảnh nét kỳ lạ và huyền bí trong sinh hoạt văn hóa các dân tộc Việt. Không chỉ đơn thuần là hoạt động tâm linh của những người hành hương với người bản địa mà trong từng cách ăn mặc, lời ca, câu hát, điệu múa đều phản ánh sự pha trộn văn hóa đặc sắc của một vùng cửa ngõ Tây Bắc. Tương truyền động bà chúa thờ người phụ nữ có công lao giúp vua Lê Lợi và hi sinh trong kháng chiến chống quân Minh thế kỷ XV, bà Đinh Thị Vân.
Không thể đếm hết những ngọn núi, hòn đảo, những cụm cư dân sinh sống xung quanh hồ Thủy điện. Hiện nay đã có nhiều hòn đảo được các chủ đầu tư khai thác phục vụ dịch vụ ăn nghỉ, du lịch như đảo Dừa, đảo Cối xay gió. Làm quen với anh Duy, người chủ đảo Cối xay gió tốt bụng, chúng tôi đã có một bữa ăn trưa thật ấn tượng, với nhiều món ăn đặc sắc và lạ lẫm. Đặc biệt là có món cá và thịt hun khói được chế biến theo công thức do anh mang về từ nước Nga xa xôi. Hơn 10 năm vừa tập hợp anh em, vừa đầu tư, cải tạo, xây dựng các công trình, hạ mục lớn, nhỏ, hòn đảo của anh Duy, một người lính giải ngũ trở về, đã từ một khu đất hoang trở thành khu nghỉ tiện nghi, cao cấp nhưng không hề đánh mất những nét văn hóa và sinh thái vốn có của nó.
Nhập cuộc cùng những món ăn, những chén rượu nồng cay và ngây ngất còn có cả những câu chuyện kéo dài từ Hòa Bình đến tận Sơn La, Lai Châu, những tiết mục văn nghệ tự biên, tự diễn theo phong cách tùy hứng do chính anh Duy và những người nấu bếp, phục vụ đem lại. Hóa ra tất cả những người phục vụ ở đây đều là những người trong gia đình, người anh em và bạn bè của anh Duy. Họ đều là những “ẩn sĩ” bậc thầy trong lĩnh vực đàn ca, sáo nhị, đem đến cho chúng tôi những phút giây thật hào sảng, thăng hoa và cảm giác đến say lòng vì sự hiếu khách của Thung Nai.
Chia tay Thung Nai giữa một trời nắng, gió, chúng tôi lại có dịp chiêm ngưỡng từ xa vẻ đẹp của chiếc cối xay gió, một biểu tượng của phong cách Tây Âu nhưng tự nhiên lại có cảm nhận thật gần gũi, thật Việt Nam. Nó thực sự là nét chấm phá tinh tế trong bức tranh sinh động về Thung Nai thời kỳ giao lưu và hội nhập văn hóa.
Bản Mu
Còn chưa hết cảm giác hụt hẫng, tiếc nuối khi phải sớm chia tay thiên nhiên Thung Nai kỳ vĩ, thì cuộc hành trình của chúng tôi lại may mắn được dừng lại để khám phá Bản Mu, một trung tâm văn hóa Mường-Dao nằm trong lòng thung lũng.
Bản Mu nằm trên trục đường chính từ Thung Nai về Hòa Bình, chạy theo hình chữ T từ trục đường chính lên đến những dãy núi giáp chân mây. Không khí yên bình, trong sạch và thoáng đãng. Khoảng cách giữa những ngôi nhà Sàn hai bên đường thể hiện sự phân bố hợp lý trong không gian sống và sinh thái của các cư dân. Tất cả đều không nhộn nhịp, xô bồ nhưng cũng không quá tĩnh lặng, trầm mặc. Xen lẫn giữa chúng tôi là cây, rừng, suối, nhà cửa, vườn tược và sự thong dong đi lại của con người cùng những vật nuôi, gia súc.
Càng vào sâu bản Mu, đường đi bộ càng lên lên, xuống, xuống. Dốc không cao nhưng quanh co, uốn lượn như một con rắn khổng lồ đang cố bò lên phía Tây đỉnh núi mặt trời. Nhiều năm nay Bản Mu đã trở thành điểm du lịch cộng đồng và văn hóa, nên mỗi ngôi nhà bên đường người ta vừa ăn ở, sinh hoạt, vừa là cửa hàng, nơi mời khách vào trong để xem các thứ bày bán, từ các loại đặc sản rừng cho tới vật dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ trang trí thổ cẩm, quần áo, khăn quấn nhiều mầu sắc, dao kiếm đi rừng, chiêng trống, nhạc cụ của dân tộc Mường… Giá cả các món đồ tương đối hợp lý, phù hợp với túi tiền mọi người.
Tình cờ lang thang, chúng tôi bắt gặp một nhóm thanh niên Hàn Quốc đang chơi đùa, đá bóng cùng đám trẻ em trong bản. Cứ ngỡ là khách du lịch, nhưng hỏi chuyện mới biết đây là nhóm tình nguyện viên đã ở và dạy tiếng Anh cho lũ trẻ từ mấy tuần nay. Những người bạn Hàn quốc chia sẻ là họ rất yêu không gian sống hoang sơ ở bản Mu. Họ còn ghen tị là Việt Nam có tới 54 dân tộc, 54 nền văn hóa anh em cùng chung sống, giao lưu học hỏi lẫn nhau trong khi ở Hàn Quốc thì chỉ có dân tộc duy nhất là người Triều tiên.
Theo những số liệu điều tra thì chỉ sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, người Mường hiện nay có khoảng hơn 1,3 triệu người và sinh sống tập trung chủ yếu ở các thung lũng 2 bên bờ sông Đà. Bản Mu cũng là một trong những nơi cư dân Mường đông đúc và hội tụ văn hóa Mường nguyên thủy từ kiến trúc cho tới nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán. Một người dân bản đã chỉ và giải thích cho chúng tôi về chiếc quan tài gỗ treo dưới ngôi nhà sàn như sau: “những người dân có thể rất nghèo, những với họ về với cuộc sống ở thế giới bên kia rất quan trọng. Người ta dành dụm để và chuẩn bị sẵn cho mình 1 cây gỗ to rồi khoét bên trong để sau này làm nhà của mình khi về với đất”. Nhìn chiếc quan tài kỳ lạ, chúng tôi không khỏi thoáng rùng mình và như hiện ra một không gian huyền bí nào đó trong những tiếng gọi siêu nhiên từ núi rừng sâu thẳm.

Đêm bản Mường – đêm mà những người bạn lâu năm của chúng tôi: Anh Hậu, chủ nhà và anh Thiết, người có vợ đi lao động Đài Loan gần 10 năm vẫn chưa về, đội trưởng đội văn công bản, đã chuẩn bị thật chu đáo với thông điệp tất cả dành cho sự hội tụ về nguồn. Những chàng trai, cô gái đã rộn ràng xiêm áo cùng với đủ 12 bộ chiêng, trống lớn, trống nhỏ, đàn Nhị sừng trâu, đàn Đáy, tiêu, phách, sạp múa và rượu cần. Một số người chúng tôi cũng đã chung nguồn cảm hứng, khoác lên mình trang phục của người Mường để bắt đầu cho một đêm vui thực sự. Rượu tràn ly, thịt lợn nướng lá mắc mật, cơm nương cùng các loại rau rừng thơm ngọt hòa chung lời hát bén duyên tiếng Mường, hòa chung những điệp múa sạp, khăn hoa lộng lẫy và tiếng chiêng Hơ, chiêng Nay vang động núi rừng. Cùng nắm tay, cùng hát, cùng múa, cùng say những câu chuyện đêm bất tận. Đêm của Dải lụa Ngọc sông Đà – Đêm của núi rừng Bản Mu – Đêm của chuyến đi dài cảm xúc từ trái tim đến tâm hồn…mà con đường đó sẽ không bao giờ có lời nói chia tay…
Hàn Vũ Linh, tháng 8/2012
(bài đăng trên Tạp chí Truyền thống và Phát triển số tháng 9/2012)
