Trong văn học Trung Quốc, người phụ nữ luôn được nhắc đến, họ là đề tài gần gũi của các thi nhân và những người nghệ sĩ. Người ta đã từng bắt gặp nhưng người phụ nữ yêu lao động, yêu thiên nhiên có cuộc sống thuần khiết và bình dị như trong “Kinh thi ”. Họ cũng được biết đến vẻ đẹp huyền ảo, thanh thoát và quyến rũ của người phụ nữ Trung Hoa qua bút pháp lãng mạn, ảo diệu của Tào Thực (192-232) trong “Lạc Thần Phú” của Lý Bạch (701-762) trong “Thanh Bình điệu”… Những tâm sự bi ai, đau khổ của người thiếu phụ bị bỏ rơi đã làm thành khúc “Trường môn phú” nổi tiếng của Tư Mã Tương Như (179 TCN-117 TCN) …
Tuy nhiên đó chỉ là những nét chấm phá sơ sài, là những bức chân dung dang dở về người phụ nữ. Xã hội phong kiến Nho giáo đặt địa vị của người phụ nữ ở chỗ thấp kém nhất. Để viết về họ đã có mấy ai hiểu tường tận những nỗi khổ đau mà họ phải gánh chịu, cảm thông và chia xẻ cùng họ.
Trong một chừng mực nhất định nào đó, cùng với sự phát triển của hình thức Tạp kịch đời Nguyên, người phụ nữ trở thành đề tài được khai thác một cách toàn diện hơn. Xuất phát từ địa vị xã hội thấp kém của mình, các tác giả của tạp kịch, đã phần nào gạt bỏ những cái nhìn khe khắt về người phụ nữ, đánh giá những suy nghĩ và hành động của họ tương đối khách quan, từ đó chính minh rằng họ cũng có những phẩm chất tốt đẹp. Mặt khác trước những bất công, những định kiến hẹp hòi của xã hội với người phụ nữ, các tác giả đã mạnh dạn đứng về phía phụ nữ, đặc biệt ca ngợi tinh thần phản kháng, đấu tranh của họ.
Đề cao tinh thần phản kháng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến quả là một sự liều lĩnh và không dề dàng gì. Tuy nhiên khác với thơ văn, yêu cầu của tạp kịch là phản ánh những hình ảnh sinh động, chân thực và toàn diện trên sân khấu, gần gũi với đời sống và tư tưởng trong xã hội hiện thực. Vì vậythông qua ngôn ngữ đối thoại của tạp kịch, và việc khắc hoạ cá tính nhân vật, các soạn giả đã dễ dàng hơn khi biểu lộ tinh thần phản kháng của phụ nữ.
Sự ra đời của hàng loạt các vở tạp kịch nổi tiếng tập trung vào chủ đề phụ nữ trong quan hệ tình yêu và hôn nhân đã là sự đả phá kịch liệt vào hệ thống giá trị “Tam tòng tứ đức” đối với người phụ nữ. Bên cạnh đó việc Nho giáo quy định một số quy tắc trong tình yêu và hôn nhân là con cái không có quyền tự do chọn lựa, phải phục tùng tuỵệt đối theo sự xếp đặt của cha mẹ, thì nhiều vở kịch đã vượt lên hẳn thang bậc giới hạn đó.

Điển hình nhất là vở kịch “Tây Sương ký” của soạn giả nổi tiếng Vương Thực Phủ. Dựa vào cốt chuyện “Oanh Oanh chuyện” của thi hào Nguyên Chẩn (779-831) thời Đường, Vương Thực Phủ đã thành công trong việc điển hình hoá cá tính nhân vật và khái quát hoá những mâu thuẫn cơ bản trong tình yêu ở xã hội phong kiến. Nhân vật chính của vở kịch là Thôi Oanh Oanh con gái quan tướng quốc đã quá cố. Nàng sống với mẹ và là một tiểu thư nền nếp, gia giáo, thông hiểu đạo lý. Tuy nhiên, qua mấy lần gặp gỡ, nàng thầm yêu chàng thư sinh tài hoa Trương Quân Thuỵ trọ học ở trường Phổ Cứu, cạnh nhà quan tướng quốc. Trước một hành động nghĩa cử của Trương Quân Thuỵ trong việc chống lại bọn cướp núi, bảo vệ gia đình Oanh Oanh, bà mẹ chấp nhận tình cảm của hai người và hứa gả Oanh Oanh cho Quân Thuỵ. Sau đó nghĩ tới gia cảnh không cân xứng bà lại khéo léo từ chối và tìm cách chia rẽ hai người.
Bằng tình yêu chân thành và mãnh liệt của mình, Oanh Oanh đã gạt bỏ đi thân phận của Quân Thuỵ thấp kém hơn mình là một tiểu thư khuê các, chủ động đưa thơ hẹn hò tình tự với Quân Thuỵ ở dưới Mái Tây Hiên. Nàng cũng không chờ lệnh mẹ mà đã trao thân gửi phận cho Quân Thuỵ. Bà mẹ biết chuyện nổi trận lôi đình, song Oanh Oanh kiên quyết đấu tranh với mẹ để bảo vệ hạnh phúc của mình.

Bằng ngọn bút tài tình và khéo léo, Vương Thực Phủ đã miêu tả thành công sự biến chuyển tâm lý của nhân vật Oanh Oanh trong màn “Lật hẹn” khi bà mẹ bác bỏ lời cầu hôn của Quân Thuỵ, cho tới màn “Đáp thư” khi Oanh Oanh hẹ hò cùng Quân Thuỵ. Từ buồn bã, lo ngại, sợ sệt dần dần nàng trở nên kiên quyết và đầy bản lĩnh “ không ham hào kiệt, chẳng thiết giầu sang, chỉ nguyện chung chăn gối chết cung mồ ” với người nho sĩ mà nàng đã trao gửi trái tim. Bên cạnh diễn biến tâm lý của Oanh Oanh, ngay từ đầu, Vương Thực Phủ đã xây dựng nhân vật Hồng Nương, tỳ nữ của Oanh Oanh có một cá tính quả cảm và cương quyết. Chính Hồng Nương là người đóng vai trò quyết định trong việc giúp đỡ mối tình của Oanh Oanh và Quân Thuỵ. Trong màn “Khảo Hoa” khi bà mẹ nổi cơn thịnh nộ thì Hồng Nương trở thành nhân vật đối kháng trực tiếp. Nàng đã không chỉ bênh vực Oanh Oanh bằng những lý lẽ rạch ròi, xác đáng mà còn khẳng định: “Chẳng phải là tội của Trương Sinh , của tiểu thư hay của Hồng Nương mà là lỗi của bà lớn”. Màn “Khảo Hoa” đã biến bà lớn, người đại diện cả lễ giáo phong kiến định xử tội đôi nam nữ yêu nhau trở thành kẻ bị cáo bị Hồng Nương kết tội. Kết thúc vở kịch là màn tiễn Quân Thuỵ đi thi và bà mẹ buộc chấp nhận cho hai người tổ chức đám cưới khi Quân Thuỵ trở về.

Bên cạnh vở “Tây Sương Ký” một tác phẩm khác của Vương Thực Phủ là vở kịch “Phá đao ký” cũng đã thành công và gây được ấn tượng cho người đọc. Khác với Oanh Oanh trong “Tây Sương ký”, Lưu Nguyệt Nga nhân vật chính của vở kịch là một thiếu nữ có cá tính cứng rắn và quyết đoán. Ngay từ lúc còn thơ, mặc dù sinh trưởng trong gia đình Lưu Viên ngoại giàu sang quyền quý, song Nguyệt Nga tự ý rời bỏ gia đình theo chàng thư sinh là Mông Chính về nơi lều tranh dột nát. Nàng thẳng thắn rãi bày quan điểm của mình với chồng: “túp lều đó tuy người ta không thèm ở song thiếp thấy hơn cả gác tía lầu son”, “Vợ chồng ăn ở với nhau thì xá gì giầu nghèo”… Khi bị gia đình ruồng bỏ, khinh bỉ Lã Mông Chính là “kẻ ăn mày”, Nguyệt Nga vẫn âm thầm chịu đựng, sớm khuya làm lụng nuôi chồng ăn học. Tuy vậy vở kịch vấp phải một hạn chế ở màn cuối khi tác giả cố ý điều hoà mâu thuẫn, cho gia đình xum họp, khi Lã Mông Chính đỗ đạt làm quan.
Cùng với chủ đề người phụ nữ với tinh thần phản kháng kiên quyết đấu tranh bảo vệ tình yêu, từ một góc nhìn khác vở “Tường Đầu Mã Thượng” của soạn giả Bạch Phác đã đưa ra những ý tưởng độc đáo. Thông qua việc ca ngợi sực phản kháng chính đáng của thanh niên. Bạch Phác đã không chỉ nhấn mạnh đến việc trai gái có quyền tự do yêu nhau, mà còn thể hiện xu hướng đòi dân chủ, bình đẳng trong hôn nhân. Lý Thiên Kim nhân vật chính của vở kịch cũng bỏ nhà theo chàng thư sinh Bùi Thiếu Tuấn, song chàng lại là con trai quan thượng thư. Xung đột lớn nhất của vở kịch thể hiện ở màn Lý Thiên Kim thẳng thắn đối thoại trực tiếp với bố chồng: “Thượng thư …hừ, mi thật là đồi bại như ả Vô Diệm, thật là mèo đàng chó điếm, trốn chúa lộn chồng ”.
Lý Thiên Kim : – Con chỉ biết một mình chàng Bùi Thiếu Tuấn thôi. Thượng thư ( nổi giận ): “chẳng đã có câu “gái cốt chính chuyên, trai cần tài giỏi, đến làm vợ theo làm hầu đó ư ? Sao mi không về nhà mi đi”.
Lý Thiên Kim đáp: “ tơ duyên này chính là trời se đó ”.
Khác với Vương Thực Phủ và Bạch Phác (1226-1306) chuyên khai thác đề tài là tình yêu của những tiểu thư khuê các, Quan Hán Khanh (1240-1310?) nhà soạn kịch vĩ đại thời Nguyên, trong các tác phẩm của mình đã xây dựng những nhân vật nữ chính của tác phẩm là những người có địa vị xã hội bình thường, từ đó ông dễ dàng bênh vực cho những hành động phản kháng của họ. Bắt đầu từ thân phận rồi đến xây dựng cá tính nhân vật, qua các mối quan hệ trong tình yêu và xã hội, Quan Hán Khanh đã thể hiện một cái nhìn xuất sắc về phụ nữ trong hàng loạt các vở kịch: “Cửu Phong Trần”, “Vọng Giang Đình”, “Bái Nguyệt Đình ”, “Điều Phong Nguyệt”…
Sự thành công của nhân vật nữ của Quan Hán Khanh chính là việc những người phụ nữ này đã dũng cảm vượt qua thân phận của mình để đến với tình yêu chân chính. Yến Yến nhân vật chính của vở “Điều Phong Nguyệt” là một ví dụ điển hình. Là một cô gái xinh đẹp, thông minh song về địa vị cô chỉ là thị tỳ cho một gia đình quý tộc. Thầm yêu mến Tiểu Thiên Hộ một vị công tử giầu có. Yến Yến đã gặp bao đau khổ, cay đắng và ngay cả hiểm nguy đến tính mạng. Song cuối cùng với tinh thần kiên quyết đấu tranh nàng đã chiến thắng và giành được tình yêu của Tiểu Thiên Hộ.
Nếu như “Điều Phong Nguyệt” hay nhiều vở kịch viết về tình yêu của các tác giả khác tập trung vào mâu thuẫn có tính chất đối kháng giữa tình yêu và lễ giáo, thì hai vở kịch “Vọng Giang Đình” và “Cửu Phong Trần” của Quan Hán Khanh lại đặt tình yêu trong hoàn cảnh mâu thuẫn với xã hội hiện thực, từ đó toát lên tinh thần phản kháng mạnh mẽ của người phụ nữ. Trong vở kịch “Vọng Giang Đình”, Đàm Kỷ Nhi nhân vật chính là một phụ nữ goá bụa, xinh đẹp. Song những đau khổ và thất vọng về tình yêu và cuộc sống đã khiến nàng quyết định cắt tóc đi tu để xa lánh chuyện đời. Từ khi gặp Bạch Sĩ Tung một viên quan trẻ tài hoa, tình yêu nảy nở làm nàng thay đổi ý định. Nhận lời lấy Bạch Sĩ Tung, Đàm Ký Nhi chuyển dần từ tâm trạng bi quan, chán trường sang lạc quan hy vọng, đón chờ hạnh phúc. Trong màn ba của vở kịch thể hiện sự phản kháng của Đàm Ký Nhi khi tên tham quan Dương Nha Nội xuất hiện định bức hại Bạch Sĩ Tung và phá vỡ cuộc hôn nhân của nàng. Trở nên mưu trí và bản lĩnh, lợi dụng tính háo sắc và nát rượu của Dương Nha Nội, Đàm Ký Nhi đóng giả chị đánh cá lừa lấy tất cả bằng chứng buộc tội, từ đó đã thành công trong việc bảo vệ hạnh phúc của mình.
So với “Vọng Giang Đình” thì vở kịch “Cửu Phong Trần” có nhiều tình tiết phức tạp và đặc biệt hơn. Xoay quanh cuộc đời các kỹ nữ Triệu Miện Nhi, Tống Dẫn Chương, Quan Hán Khanh muốn đề cập tới sự phản kháng của những người phụ nữ có địa vị thấp kém nhất. Với khát vọng đi tìm hạnh phúc và mong muốn nhanh chóng thoát khỏi cảnh tủi nhục, Tống Dẫn Chương đã không nghe lời bạn, lầm chọn tên công tử Chu Xá làm chồng. Những tưởng sẽ có một cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc, song trái lại làm vợ Chu Xá, Tống Dẫn Chương phải chịu một só phận bi thảm hơn cả khi ở lầu xanh. Chỉ sau hai tháng lấy nhau, Chu Xá đã để lộ bộ mặt thật là một kẻ tiểu nhân, tham lam, đểu giả và độc ác, không chỉ bỏ rơi Dẫn Chương mà còn đối xử với nàng một cách tàn tệ hơn cả kẻ hầu người hạ.
Khác với Dẫn Chương, Miện Nhi là một cô gái am hiểu cuộc sống, giầu bản lĩnh và lòng hiệp nghĩa. Được chứng kiến cảnh ngộ của bạn, Miện Nhi không kể đến thân phận của mình. Quyết tâm đấu tranh với tên vô lại Chu Xá. Bằng sắc đẹp, sự thông minh và mưu trí của mình, Miện Nhi đã khéo léo lừa cho Chu Xá say mê và không đề phòng. Khi Chu Xá thề non hẹn biển nàng đã bắt hắn làm giấy cam kết ly dị với Tống Dẫn Chương. Cuối cùng gậy ông đập lưng ông. Chu Xá phải trả giá cho một kết cục tiền mất tật mang.
Qua chủ đề tình yêu, Quan Hán Khanh, Vương Thực Phủ, Bạch Phác, ba trong “Tứ đại gia” của tạp kịch, đã thể hiện một khuynh hướng sáng tác tiến bộ chống lại trật tự bảo thủ của lễ giáo phong kiến với những nhân vật nữ để lại ấn tượng sâu sắc cho người xem và người đọc.
Không chỉ dừng lại ở mối quan hệ trong tình yêu và hôn nhân, mà rất nhiều vở kịch đã là sự thể hiện tinh thần phản kháng của người phụ nữ trong các mối quan hệ xã hội khác. Xuất phát từ một câu chuyện có thật, cảm động, Quan Hán Khanh đã soạn ra vở kịch “Đậu Nga Oan” nổi tiếng, làm chấn động dư luận xã hội thời kỳ này. Thông qua hình ảnh một người phụ nữ bị áp bức, bị chết oan, vở kịch đã thể hiện sự phản kháng mạnh mẽ của những con người có địa vị thấp kém đối với toàn bộ hủ bại, thối nát của bọn thống trị trong xã hội phong kiến.
Đậu Nga là một cô gái chịu nhiều bất hạnh, bị cuộc đời đưa đẩy, 3 tuổi mất mẹ, 7 tuổi bị cha bán làm dâu nuôi cho gia đình bà Thái, một bà chủ chuyên cho vay nặng lãi. Được 10 năm chồng chết, cuộc đời của Đậu Nga và bà Thái rơi vào cảnh khốn cùng, hai người goá phụ phải dựa dẫm vào nhau để lo chuyện mưu sinh. Sự biến động trong gia đình bà Thái bắt đầu từ việc, một con nợ Lang Trại Lô không có tiền trả mưu toan thắt cổ bà Thái. Hai bố con tên lưu manh Trương Lư Nhi được dịp, nhân cơ hội cứu bà Thái đã tự tiện dọn đến ở trong gia đình bà. Thực chất trước đây chúng đã có ý định dòm ngó tiền của và ngay cả bản thân hai người goá phụ này.
Với bản tính thật thà và cương trực của mình Đậu Nga đã cương quyết từ chối lời tỏ tình của Trương Lư Nhi, đây có thể coi là lần phản kháng đầu tiên của nàng. Quyết định dùng một thủ đoạn tàn ác Trương Lư Nhi bỏ thuốc độc giết bà Thái, song bố hắn uống nhầm và trở thành nạn nhân. Khi bố chết, Trương Lư Nhi không tỏ ra hối hận lại trở mặt vu cáo Đậu Nga để bắt ép nàng làm vợ hắn. Đây là lần phản kháng thứ hai của Đậu Nga, nàng cự tuyệt và nhất định đòi ra cửa quan, sự xuất hiện của hai tên thái thú tham tàn Đào Ngột chính là cao trào của vở kịch. Nhìn thấy Trương Lư Nhi hắn vội vàng quỳ xuống và nghĩ : “Những kẻ đến kiện cáo đều là cha mẹ cho ta cơm ăn, áo mặc ”. Chính vì “cơm áo” đó mà Đào Ngột sẵn sàng bẻ cong cán cân công lý, thẳng tay trừng trị một người phụ nữ yếu ớt.
“ Đòn roi tan tác
Vừa tỉnh đã lại hôn mê
Chịu nghìn trùng khảo đá
Bị muôn nỗi ê chề
Ngọn hèo rơi
Dòng máu đổ
Da thịt tơi bời ”
( Cổn Tú Cầu – Hồ Luỹ dịch)
Mặc dù chịu đủ cực hình, tra tấn xong Đậu Nga vẫn quyết tâm phản kháng, đấu tranh. Nàng không nhận là kẻ giết người. Đào Ngột dùng một thủ đoạn khác là hành hạ bà Thái. Cuối cùng vì thương mẹ Đậu Nga đành phải nhận và chịu án tử hình. Đây không phải là thất bại trong sự phản kháng của Đậu Nga, cũng như không phải của tầng lớp những người phụ nữ mà nàng là đại diện. Trước một bọn lưu manh, lòng người dạ thú, không từ một thủ đoạn độc ác nào, Đậu Nga hoàn toàn không sợ hãi. Hình ảnh chịu nhận tội chính là sự thể hiện những phẩm chất cao đẹp nhất của người phụ nữ: Lòng thương người và đức hy sinh.

Bi kịch của Đậu Nga đã vượt ra ngoài khuôn khổ tư tưởng của một thời đại, nó chính là bi kịch của tất cả những người dân lương thiện bị đè nén, bị áp bức. Sự phản kháng của Đậu Nga chính là sự phản kháng của Quan Hán Khanh và nhà tạp kịch tiến bộ, chống lại nền chính trị hủ bại, thối nát của triều đình phong kiến. Lời gào thét thống thiết của Đậu Nga trên đường ra pháp trường, phải chăng cũng chính là lời than của Quan Hán Khanh trước sự đen bạc của nhân tình thế thái :
“ Người lành chịu bần cùng mệnh đoản
Kẻ ác hưởng phú quý thọ dên
Đất hỡi đất lẫn lộn vàng thau ngán thay phận đất
Trời hỡi trời không phân trong đục đâu xứng ngôi trời ”
(Cổn Tú Cẩu – Hồ Luỹ dịch)
Trong rất nhiều vở kịch viết về chủ dề phụ nữ phản kháng lại xã hội phong kiến, một vở kịch khác đáng được chú ý là vở “Thu hồ hí thê” của tác giả Thạch Quân Bảo. Khác với bi kịch “Đậu Nga Oan” của Quan Hán Khanh, “Thu hồ hí thê” có tính chất hài kịch vui nhộn và xen nhiều tình tiết hấp dẫn, độc đáo, La Mai Anh, nhân vật chính của vở kịch là vợ chàng Thu Hồ nghèo khổ. Khi họ cưới nhau được ba hôm, bà mối đem tiền xui nàng bỏ chồng để lấy một người giầu có, nàng thẳng thừng từ chối. Tức giận bà Mối thông đồng với bọn quan nha sai người đến bắt Thu Hồ đi lính, Mai Anh liền chửi mắng “Đồ đầu trâu mặt ngựa, vác gậy đâu đến hống hách, sao mà ác thế ?” Khi Thu Hồ đi lính, cha mẹ nàng tham tiền bàn với mẹ chồng nàng, gả nàng cho tên nhà giầu họ Lý. La Mai Anh không chỉ cự tuyệt mà nàng còn lên án việc làm hồ đồ của cha mẹ, đồng thời trách giận cả mẹ chồng. Tên họ Lý đến tán tỉnh, nàng đã tát thẳng vào mặt hắn: “Ta nói nhà người có tiền thì chi bằng ôm lấy tiền mà ngủ”. Khi Thu Hồ trở về có ý thử vợ mình bèn hoá trang cho Mai Anh không nhận ra rồi chòng ghẹo nàng ở vườn dâu, Mai Anh tức giận quát: “Tên này giương mắt nhìn ta, ta chửi cái thây chết thối, giương mặt nhìn ta, ta rủa đến tổ tiên nhà nó”. Sau này biết kẻ đó là chồng mình nàng lại càng tức giận hơn, nhất quyết đòi ly hôn: Mẹ chồng phải xin mãi nàng mới chịu bỏ qua.
Tính cách của La Mai Anh là một phụ nữ lao động, có chủ kiến rõ ràng trong cuộc sống: hiền lành nhưng cũng rất cương quyết không chịu khất phục. Tinh thần phản kháng của nàng ở bất kỳ mọi chỗ, đối với bất kỳ ai có ý định áp bức, xâm phạm đến nàng. Mặt khác những phẩm chất của nàng cũng được tác giả đề cao : đó là sự chung thuỷ với chồng không chuyển lay bởi thế lực của đồng tiền và địa vị. Hình ảnh La Mai Anh đã trở thành một hình tượng nhân vật độc đáo trên sân khấu tạp kịch đời Nguyên.
Hàng loạt các vở tạp kịch phong phú đầu thời Nguyên, với những hình ảnh đặc sắc về phụ nữ đã cho thấy sự biến động to lớn trong lịch sử xã hội thời kỳ này. Sự xâm lược của ngoại tộc người Mông Cổ đã xây dựng nên triều đình Nguyên, làm cho những người dân Trung Quốc yêu nước trỗi dậy một tinh thần phản kháng, đấu tranh mạnh mẽ. Mặt khác tạp kịch lại là hình thức nghệ thuật có khả năng biểu hiện tư tưởng của tác giả vừa sâu sắc vừa toàn diện. Mặc dù là sự kết hợp giữa thơ và từ, song tạp kịch đã vượt ra ngoài văn học bằng ngôn ngữ và hành động biểu cảm trên sân khấu, bằng những nhân vật sống động như thực qua sự thể hiện xuất sắc của các diễn viên và qua những cây bút tài hoa của các soạn giả. Có thể nói rằng tạp kịch với đỉnh cao về mặt nội dung và nghệ thuật mãi gắn liền với thời đại Nguyên, và được công nhận là một bước phát triển lớn của văn hoá Trung Quốc.

