THƠ TÌNH YÊU TRONG KINH THI

          Từ lâu nay, “Kinh Thi” đã có vị trí nổi bật trên văn đàn Trung Quốc và thế giới. Nó được coi là một trong những bộ thơ ca đồ sộ và cổ xưa nhất của nhân loại còn tới ngày nay. Với tập thơ Quốc Phong, sự tập hợp của hàng trăm bài ca dao, dân ca thuộc 15 nước xung quanh lưu vực sông Hoàng Hà, Trường Giang, đã là một bức tranh toàn cảnh về hoạt động của con người và xã hội Trung Hoa cổ đại thời Chu. Bên cạnh sự phản ánh cuộc sống lao động hàng ngày, những lễ nghi, phong tục tập quán…, nhiều bài thơ trữ tình lãng mạn đã đi sâu vào đời sống nội tâm, đời sống tình cảm của con người, đặc biệt là đề cao tình yêu đôi lứa.

Kinh thi, ảnh internet

           Chúng ta đều biết, trong hệ giá trị của Nho giáo Trung Hoa, tình yêu được xếp ở một thang bậc thật giới hạn. Người chính nhân quân tử có biết bao nhiêu việc phải làm, bao nhiêu nghĩa vụ phải gánh vác, bởi vậy yêu đương chỉ là việc “nhỏ mọn” nếu không nói là “tầm thường”, tình cảm nam nữ là điều cần phải biết kìm nén, sắc dục phải là cái nên tránh.

           Những điều đó được duy dưỡng từ đời này sang đời khác đã tạo nên hình ảnh một xã hội Trung Hoa Nho giáo thật khe khắt đối với sự tự do yêu đương dù chỉ trong những rung cảm thuần khiết của các cặp tình nhân. Chính văn học Trung Hoa nhìn chung đã khẳng định điều đó.

           Tuy nhiên, “Kinh Thi” lại là một trường hợp khác, một trong những trường hợp gần như là ngoại lệ. Nó dường như là một sự cải chính đối với những nhận thức chưa thật đầy đủ về tình yêu của người Trung Hoa. Nó chứng minh rằng, dù là người Trung Hoa hay bất kỳ nước nào đi chăng nữa thì tình yêu cũng có những cảm xúc trong sáng và thiêng liêng muôn thuở của nó.

Nam nữ hẹn hò thời xưa, ảnh internet

           Thông qua nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống hàng ngày, các tác giả của “Kinh Thi” đã mạnh dạn nói lên những quan niệm của mình về tình yêu, gửi gắm vào đó những tâm sự, khát vọng về hạnh phúc miêu tả những biểu hiện trong tình yêu, những cảnh trai gái tự do hò hẹn… Chính những bài thơ tình hồn nhiên và chất phác đó đã góp phần làm nên sự thành công độc đáo của “Kinh Thi”, mà sau này người ta ít gặp hơn khi nền văn học có sự ràng buộc, chi phối bởi hệ tư tưởng Nho giáo.

           Xưa nay đã có rất nhiều loại thơ tình yêu vừa sâu sắc, vừa đa dạng, được viết ra từ nhiều con người thuộc các tầng lớp và hoàn cảnh khác nhau, mang những quan niệm và sự rung cảm khác nhau. Các tác giả của “Kinh Thi” cũng có những cái riêng của mình. Chẳng hạn, tác giả của tập thơ “Quốc Phong” phần lớn là những người lao động chân chất nên ngay từ những bài đầu tiên quan niệm của họ về tình yêu cũng đã thật giản dị và mộc mạc. Với họ, tình yêu là tình cảm tự nhiên của con người, nên việc nam nữ tự do yêu thương, tự do lựa chọn là điều đáng được tôn trọng, đáng được ngợi ca. Người ta không cảm thấy ngần ngại hay xấu hổ khi phải bầy tỏ nỗi lòng của mình với người yêu:

“Phiếu hữu mai, kỳ thực thất hề.

Cầu ngã thứ sĩ, đãi kỳ cát hề”

( Mơ rụng quả, mười phần chỉ còn bảy phần.

Chàng trai nào muốn hỏi ta làm vợ, hãy mau đến dạm hỏi cưới xin cho kịp ngày lành tháng tốt )

( Xiếu Hữu Mai- Thiệu Nam )

           Trong bài “Dã Hữu Tử Huân- Thiệu Nam”, hình ảnh người con trai đến tỏ tình với người con gái cũng được miêu tả với một tâm trạng đàng hoàng và tự nhiên:

“Dã hữu tử huân,

Bạch mao bao chi.

Hữu nữ hoài xuân

Cát sĩ dụ chi”

( Ngoài đồng có một con Chương chết

Chàng trai đem gói với lá Bạch Mao

Có cô con gái ôm ấp mộng xuân tình

 Thì chàng trai đẹp đẽ ấy mang con Chương đến dụ dỗ nàng )

       Mặc dù quan niệm về tình yêu phóng khoáng, thoải mái, được phép lựa chọn người mình yêu tự do như vậy song các tác giả của “Kinh Thi” không hề cho phép tồn tại một thứ tình yêu tô thiển, dung tục. Họ vẫn đề cao những sự rung động đích thực nơi trái tim và sự đồng cảm của hai tâm hồn. Điều đó được khẳng định trong hàng loạt bài thơ tả cảnh trai gái đến với nhau từ những buổi lao động mệt nhọc, hay những lúc nô đùa, hát múa cùng nhau :

“Bỉ mỹ thục cơ,

Khả dĩ ngộ nghiên (ngôn)”

( Kìa người con gái hiền thục kia

Có thể cùng nàng ca hát mà hiểu hết lòng nhau )

( Đông Môn Tri Trì 3- Trần Phong )

Hay như:

“Thúc hề! Bá hề!

Xướng dư huệ họa nhữ”

( Chàng Thúc Bá ơi!

Hễ chàng khởi xướng em sẽ họa cùng chàng )

( Thác Hề 1 – Trịnh Phong )

       Người phụ nữ trong bài “Khiên Thường 1- Trịnh Phong” còn mạnh dạn nói lên những tình cảm vừa đằm thắm, thiết tha, vừa mạnh mẽ của mình. Nàng sẵn sàng chủ động vứt bỏ mọi thứ để đi cùng người yêu, nhưng lại không chịu chỉ hy sinh một cách mù quáng. Lời thơ như đùa bỡn với người yêu nhưng ý tứ lại chân thật, sâu xa:         

“Tử huệ tư ngã,

Khiên thường thiệp Trăn

Tử bất ngã tư,

Khỉ vô tha nhân ?

Cuồng đồng chi cuồng dã thư! “

(Chàng còn thương yêu mà nhớ đến em

Thì em sẽ xắn quần qua sông Trăn theo chàng

Chàng mà không nghĩ, nhớ đến em

Thì em há không còn người khác (để theo hay sao)

Chàng bé bỏng ngông cuồng thật là điên khùng vậy

(không biết lẽ ấy hay sao).

Cô gái vùng nội Mông, ảnh internet

     Một khi đã có những quan niệm rộng rãi và khoáng đạt đối với tình yêu, cũng như đối với sự lựa chọn người yêu, các tác giả cũng lên án những thói xấu xa, bạc ác, trong tình yêu. Họ đề cao những mối tình chung thủy, sâu sắc. Ở bài “Bào Hữu Khổ Riệp 4 – Bội phong”, tác giả đã mượn lời người con gái chế riễu người lái đò, để khẳng định điều đó:

“Thiều thiều chu tử

Nhân thiệp ngang phủ

Nhân thiệp ngang phủ

Ngang tu ngã hữu

(Người lái đò dáng kêu gọi ai

Mọi người đều đi qua còn ta thì không

Mọi người đều đi qua còn ta thì không

Ta phải chờ bạn ta gọi ta (ta mới chịu theo cùng)

     Tình yêu cũng luôn được đặt ở vị trí thiêng liêng, cao quý hơn mọi thứ danh vọng, bạc tiền và dường như không một thế lực nào, một khó khăn nào có thể ngăn cản được nó. Để đến với tình yêu đích thực, nếu người Việt Nam thường nói rằng “dù tam tứ núi cũng trèo” thì người Trung Hoa trong “Kinh Thi” cũng vậy. Họ cũng sẵn sàng vượt qua tất cả những khó khăn, thử thách, vượt qua những cảnh ngang trái, nghịch lý của đời thường để đến với tình yêu, đi cùng tình yêu như trong bài “Bắc Phong- Bội Phong”:

“Bắc phong kỳ lương

Vũ tuyết kỳ phương (bàng)

Huệ nhi hiếu ngã

Huề thủ đồng hàng (hành)

 (Gió bấc lạnh lùng

Mưa tuyết xuống nhiều 

Những ai đã thương yêu và thân hảo với ta,

Hãy dắt tay nhau mà cùng đi)

Trang phục vùng Tây Tạng, ảnh internet

        Cùng với những quan niệm về tình yêu còn mang nhiều cảm tính, bộc phát tự nhiên, các tác giả của “Kinh Thi” cũng đã diễn tả khá sâu sắc những biểu hiện phong phú và đa dạng trong tình yêu. Những buổi hẹn hò, gặp gỡ của các đôi trai gái được khắc họa dưới ngòi bút sinh động và đặc sắc. Từng cặp tình nhân rủ nhau đi dọc bờ sông Trân, sông Vĩ, nô đùa, hái hoa Lan làm ước hẹn, gửi trao nhau ân tình. Những cô gái ném Mộc Qua sang tặng chàng trai. Chàng trai đáp lại bằng món ngọc Cư đẹp đẽ.

        Chính cuộc sống tự do, phóng khoáng của những con người thời Tây Chu, gần gũi lao động, yêu quý thiên nhiên làm cho cảm xúc của những đôi trai gái trong “Kinh Thi” cũng trở nên nhẹ nhàng, vừa lãng mạn, bay bổng, vừa tha thiết, sâu đậm. Hình ảnh những cô sơn nữ hái rau Quyết trên đỉnh Nam Sơn, những cô gái ngồi giặt lụa bên sông Hoàng Hà, những con đường mòn một tà áo bay phấp phới, một mùi hương phấn thoang thoảng lẫn với mùi cỏ cây, hoa lá…Tất cả đã làm thành những buổi gặp gỡ, những ấn tượng không thể nào quên:

“Hữu mỹ nhất nhân,

Thanh dương uyển hề

Giải cấu tương ngộ,

Thích ngã nguyện hề”

( Có người con gái xinh tươi

Mày đẹp mắt trong đẹp đẽ

Không hẹn mà tình cờ gặp nhau

Thật là thích hợp ý nguyện của ta )

( Dã Hữu Man Thảo 1 – Trịnh Phong )

        Tâm trạng da diết, sự nhớ mong, đợi chờ người yêu đã đi vào những bi đốn củi, những ngày săn bắn, đi vào quang cảnh thiên nhiên, hoà đồng và trộn lẫn trong cảm xúc trước những đêm trăng sáng:

 “Nguyệt xuất hạo hề!

Giảo nhân liễu hề!

Thư yểu kiểu hề!

Lao tâm tiệu hề! “

( Trăng lên sáng đẹp,

Người đẹp yêu kiều

Làm sao (gặp nàng) cởi mở mối tình sầu uất, xa xôi

Cho nên ta phải nhọc tâm u sầu )

( Nguyệt Xuất 1 – Trần Phong )

      Gặp gỡ rồi xa cách, xum họp rồi phân ly, những éo le muôn thuở của tình yêu bao giờ cũng tạo nên biết bao sầu muộn cho những người yêu nhau:

“Thái thái quyển nhĩ,

Bất doanh khuynh khuông

Ta ngã hoài nhân,

Chí bỉ chu hàng”

( Rau Quyền hái rồi hái

Không đầy giỏ nghiêng

Ta nhớ người đi xa

Bỏ quên cái giỏ ở bên con đường lớn kia)

                                                                                        ( Quyền Nhĩ 1 – Chu Nam )  

        Những mối tình thời cách xa, những mối tình buổi ly loạn, sự  mong nhớ hòa đồng cùng nỗi lòng đau khổ, lo âu, dường như tất cả đã trở thành những hoài niệm, day dứt của cả một cuộc đời người:

“Tử sinh khiết thoát,

Dữ tử thành thuyết

Chấp tử chi thủ,

Dữ tử giai lão”

( Chết sống hay xa cách

Đã cùng nhau thề ước

Tay nắm tay nàng (thuở ấy)

ước hẹn sống chung nhau tới già )

                                                                                       ( Kích cổ 4 – Bội Phong )

        Với bao nhiêu tâm trạng, bao nhiêu nỗi lòng, bao nhiêu lời ước hẹn, thề nguyền, bao nhiêu niềm vui và sự đắng cay, tiếng cười đùa và những giọt nước mắt, các tác giả đã muốn gửi gắm vào “Kinh Thi” một mơ ước, một khát vọng về tình yêu, về hạnh phúc không cùng và giản dị như những con chim Thư Cưu hiền lành, con trống, con mái dịu dàng gọi nhau ngoài cánh đồng.

        Cùng với những nội dung phong phú và sống động, âm điệu và ngôn ngữ của thơ tình yêu trong “Kinh Thi” cũng được nhiều người đời sau chú ý. Người ta khó có thể coi nó là thơ, là nhạc, là họa, là một thứ âm hưởng ngôn ngữ giàu tính người hay chỉ là một loại phôi thai ban đầu của thơ. Điều đó thật khó mà xác định được rõ ràng, mà cũng không thể nào xác định được. ở đây không hề tìm thấy dấu vết của các kỹ sảo, các nét dáng trau chuốt, sự chọn lựa ngôn từ cầu kỳ. Tất cả tình cảm đều thật mộc mạc, chân tình, đi trực diện từ người sáng tác tới người cảm thụ.

      Nhiều nhà phê bình đã cho rằng nghệ thuật của thơ cổ Trung Hoa là sự kết hợp hài hoà giữa thi ca và âm nhạc, giữa ba hình thức biểu đạt: Phú, Tỷ và Hứng. Phú là diễn tả trực tiếp của sự vật muốn nói. Tỷ là so sánh, mượn sự việc kia để nói sang sự việc này. Hứng là mượn sự việc khác để gây xúc cảm rồi mới ngâm vịnh. Nhiều bài thơ trong “Kinh Thi” là sự kết hợp cùng một lúc cả ba ngôn ngữ: Phú, Tỷ và Hứng đặc sắc nói trên. Tuy nhiên những bài thơ viết về tình yêu trong “Kinh Thi” dù ở thể Phú, Tỷ hay Hứng, đều mang một điểm chung là tính chân thực và tự nhiên trong bút pháp.

        Nhiều nghệ sĩ thời xưa đã đi tìm những không gian hoang dã nơi rừng rú, chốn cùng cốc thâm sơn, nghe tiếng nước chẩy, tiếng muông thú gọi nhau để mà tìm cảm hứng viết nên những khúc nhạc trong sáng, thuần khiết. Có những người không phải là họa sĩ nhưng vẫn quên mình, say sưa vẽ lên vách đá, chạm trổ vào thân cây, chỉ với những đường nét ngoệch ngoạc, với những suy nghĩ hồn nhiên, mộc mạc mà đã tạo ra được những hình ảnh sống động về thế giới xung quanh.

       Phải chăng để viết nên những bài thơ tình yêu đặc sắc trong “Kinh Thi”, những người lao động cũng bằng những nhịp rung động, những cảm xúc đích thực tự nhiên trong trái tim mình mà đến với nghệ thuật, đến với thi ca. Và cũng vì vậy khi nhìn nhận, đánh gía những thành công của “Kinh Thi” về nội dung và nghệ thuật, người đời sau đã đặt nó ở vị trí ngang bằng với Hán Phú, Đường Thi, Tống Từ, Nguyên khúc và Minh, Thanh tiểu thuyết.

Hàn Vũ Linh, đăng trên Tạp chí Khoa học và Phụ nữ số 2/1996

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan