Khái niệm và lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc người cao tuổi (người cao tuổi và mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi phần II)

MỘT SỐ KHÁI NIỆM

Khái niệm người cao tuổi

Người cao tuổi là một khái niệm lịch sử, gây nhiều tranh cãi trên bình diện tiếp cận của các khoa học, trình độ phát triển của xã hội và các nền văn hóa. Trong Nho giáo truyền thống, Khổng Tử quan niệm 50 tuổi hiểu thấu quy luật trời đất (Ngũ thập nhi tri thiên mệnh), 60 tuổi cái gì cũng thuận theo (Lục thập nhi nhĩ thuận), 70 tuổi xưa nay hiếm (thất thập cổ lai hi), có nghĩa là người cao tuổi được xác định trong độ tuổi từ 50 trở lên.

Trong bài thơ Lên lão, nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) có viết “Ông chẳng hay ông đã tuổi già, năm lăm ông cũng lão đây mà”. Như vậy 55 tuổi nhà thơ đã xưng là “lão” và điều này cũng phản ánh quan niệm ở nông thôn Việt Nam xưa từ trong độ tuổi này đã được xã hội nhìn nhận là người già.

Sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc có chép về lịch sử nước ta từ thời Trần về trước, những người từ trên 50 tuổi đã được miễn mọi loại sưu dịch và gia đình, làng xã đã có thể tổ chức lễ thượng thọ cho các cụ khi đến độ tuổi này. Nhiều Hương ước nhiều Làng xã còn lại cũng cho thấy những quy định từ 50 tuổi trở lên người ta làm lễ khao vọng Lên lão và có thể tham gia vào Hội đồng Kỳ Lão của làng.

Ngày nay, trên thế giới và Việt Nam việc xác định độ tuổi của người cao tuổi vẫn là vấn đề gây tranh cãi và có nhiều quan niệm khác nhau. Trong cuốn Từ điển Xã hội học của G.Endrweit và G.Trommsdorff (Nhà xuất bản Thế giới) trang 727 phần “Xã hội học người cao tuổi” – hay còn gọi là lão học xã hội nghiên cứu những người cao tuổi trên 65, nhưng tuy nhiên nhiều trường hợp những người từ 50-60 tuổi cũng được coi là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành này

Trong cuốn Bách khoa quốc tế về xã hội học (International encyclopedia of sociology) phần Người cao tuổi và sự quan tâm của các tổ chức xã hội khi đưa ra khái niệm về người cao tuổi (the elderly), các tác giả có phân chia theo độ tuổi như sau: từ 65 đến 74 tuổi gọi là nhóm người cao tuổi trẻ (Young-old), từ 75-84 tuổi gọi là nhóm trung cao tuổi (Middle-old) và từ 84 tuổi trở lên gọi là nhóm già (Verry-old).

Ở Việt Nam, theo định nghĩa của các nhà Dân số học, những người trên 60 tuổi, không phân biệt nam nữ, được gọi là người cao tuổi. Trong các cuộc điều tra dân số, các chuyên gia phân loại dân số theo lứa tuổi, người cao tuổi thuộc nhóm tuổi bằng hoặc trên 60. Điều này khác với nhiều nước trên thế giới nhất là những nước phát triển, tuổi thọ trung bình trên dưới 70 tuổi, bởi vậy người ta cho rằng người cao tuổi là những người trên 65 tuổi.

Thực tế cho thấy trong hoạt động xã hội ở các địa phương, nhiều người chưa đến 60 tuổi vẫn được gia nhập vào các Hội thọ, Hội lão và do đó mà vẫn được được kết nạp vào Hội Người cao tuổi. Vì vậy, các số liệu thống kê chính thức về người cao tuổi theo ý nghĩa dân số đã cho thấy những con số thấp hơn so với con số thống kê các hội viên Hội Người cao tuổi.

Về mặt Pháp luật chung quy định người cao tuổi là công dân nước CHXHCN Việt Nam từ 60 tuổi trở lên. Tuy nhiên quy định này không thống nhất với Bộ luật lao động hiện hành. Qui định về tuổi về hưu của Luật Lao động Việt Nam có sự phân biệt giới với 62 tuổi đối với nhóm nam và 60 tuổi đối với nữ. Như vậy, có những nhóm phụ nữ tuy đã nghỉ hưu những lại chưa được xác định là nhóm người cao tuổi và chưa phải là hội viên Hội Người cao tuổi.

Mặc dù còn có khá nhiều quan điểm khác nhau phổ biến về độ tuổi của người cao tuổi, tuy nhiên thực tế công tác người cao tuổi cho thấy việc phân nhóm người cao tuổi còn phải được xem xét trong những trường hợp cụ thể với các chỉ báo về tình trạng sức khỏe, điều kiện và môi trường sống gắn với các điệu kiện kinh tế – văn hóa – xã hội.

Chăm sóc người cao tuổi

Theo trang web của Hội đồng biên soạn Từ điển bách khoa quốc gia khái niệm “Chăm sóc” được định nghĩa như sau: Chăm sóc là hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mỗi người dân. Đây là một định nghĩa khá đầy đủ với cách nhìn nhận chăm sóc là một nhiệm vụ quan trọng không những của ngành y tế mà còn của mọi ngành, mọi cấp, của toàn xã hội và của bản thân mỗi người dân.

Chăm sóc người cao tuổi được hiểu là các hoạt động tổ chức chăm sóc sức khoẻ, đời sống vật chất và tinh thần cho nhóm người cao tuổi trong xã hội, đảm bảo cho họ những quyền lợi cơ bản như quyền được nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, quyền được tiếp cận các dịch vụ y tế, văn hóa xã hội, có môi trường sống tốt đẹp trong gia đình và xã hội. Đây là những hoạt động không chỉ nằm trong trách nhiệm của người cao tuổi, gia đình người cao tuổi, ngành y tế mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội.

Tiếp cận Y học – xã hội

Y học xã hội quan tâm tới việc nghiên cứu mối quan hệ giữa một mặt là các hiện tượng “xã hội” và một bên là “sức khoẻ” “bệnh tật”. Cách tiếp cận y học xã hội đã giả thiết rằng các điều kiện xã hội ảnh hưởng tới sự xuất hiện và phát triển các loại “bệnh tật”, góp phần tạo điều kiện để nó hình thành, hay ít nhất là tạo ra hình thái xuất hiện của nó. Mặt khác, bệnh tật cũng để lại những hậu quả xã hội theo những dạng khác nhau, dưới nhiều hình thức và ở mức độ khác nhau. Bởi vậy xã hội học phải quan tâm tới ảnh hưởng tác động giữa xã hội và bệnh tật theo cả hai chiều tương tác nói trên.

Toàn bộ những tác dụng hai chiều này rất phức hợp và phân tán. Để có thể tạo được một “hình mẫu” mô tả được, y học xã hội đã xây dựng hai loại mô hình: Thứ nhất, mô hình có thể mô tả được mối tương quan đã nêu của các hiện tượng, dựa trên giả thiết về các mối quan hệ như “nguyên nhân”, “điều kiện”, “hậu quả” “tác dụng”, để sao cho trong mô hình này, có thể tranh luận, biện luận hợp lý và thậm chí có thể tính toán được. Thứ hai, mô hình sắp xếp những hiện tượng từ mối quan hệ tác dụng đã nêu theo đề mục như “tính xác thực”, “có ý kiến” thành những kiểu mẫu có thể mô tả được.

Vận dụng lý thuyết này để lý giải về các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, chúng ta thấy tình trạng sức khoẻ của người cao tuổi và bệnh tật của người cao tuổi ngoài những nguyên nhân về mặt thể chất, chế độ sinh hoạt còn có những nguyên nhân từ phía xã hội. Một trong những nguyên nhân mang tính xã hội là tình hình chăm sóc người cao tuổi, mà trong nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến. Ngược lại, sức khoẻ và bệnh tật ở người cao tuổi cũng có những tác động và ảnh hưởng đến xã hội. Vấn đề đặt ra là: Làm thế nào để đảm bảo đời sống vật chất tinh thần cho người cao tuổi? Làm thế nào để chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi? Vai trò của Nhà nước, cộng đồng, gia đình và bản thân người cao tuổi trong hệ thống an sinh xã hội như thế nào?

Lý thuyết chức năng

Về cơ bản thuyết chức năng trong xã hội cho rằng muốn giải thích sự tồn tại và vận hành của xã hội cần phải phân tích cấu trúc- chức năng của nó tức là chỉ ra các thành phần cấu thành và cơ chế hoạt động của chúng. Các luận điểm cơ bản của thuyết chức năng đều nhấn mạnh tới tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc. Thuyết này cho rằng, một xã hội tồn tại và phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc. Bất kỳ một sự thay đổi nào ở các thành phần cụ thể cũng đều kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác. Các nhà xã hội học theo thuyết chức năng cũng lưu ý rằng: Chức năng xuất phát một cách tự nhiên từ chính sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống gồm các bộ phận cấu thành một cấu trúc nhất định đáp ứng nhu cầu, tạo lợi ích và thoả mãn yêu cầu xã hội.

Theo cách tiếp cận này, các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển của toàn xã hội. Ngày nay, khi tình trạng già hoá dân số đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới thì các loại hình dịch vụ này càng phải được phát triển hoàn thiện và nhân rộng. Việc phát triển loại hình dịch vụ này không những đáp ứng nhu cầu về việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và sức khoẻ cho người cao tuổi để giải quyết các vấn đề xã hội do tình trạng già hoá dân số gây ra mà còn thể hiện được sự phát triển ngày một hoàn thiện của toàn bộ hệ thống xã hội trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người.

Lý thuyết xung đột

Theo các nhà xã hội học, xung đột xã hội là các quan hệ và các quá trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hoặc nhiều cá nhân hoặc nhóm có quyền lợi đối lập nhau trong cách giải quyết vấn đề nhất định. Có ba loại xung đột: Xung đột về trật tự thứ bậc (vị trí, vai trò), xung đột về phân phối và xung đột về quy tắc, giá trị.

Quan điểm của thuyết xung đột cho thấy xã hội hình thành như là quá trình xã hội hoá của nhiều tổ chức, cá thể và tập thể. Sự liên kết giữa các thành viên của nhóm xã hội không bao giờ mạnh tới mức mà bất kỳ lúc nào đường xung đột cũng giao hoà với đường thống nhất; nhưng cũng không bao giờ yếu tới mức có thể làm nổ ra một cuộc chiến hỗn loạn. Trong bất kỳ quan hệ xã hội nào, dù đang đạt tới độ nhất trí cao cũng chứa đựng tiềm năng của sự xung đột. Xung đột được coi như động lực, nguồn gốc của sự biến đổi và phát triển của xã hội.

Xung đột trong quan hệ giữa các thế hệ hiện nay bắt nguồn cơ bản từ xung đột về quy tắc giá trị, sự xung đột giữa những chuẩn mực, giá trị mới và những chuẩn mực giá trị cũ về nếp sống, văn hoá ứng xử. Mỗi thế hệ được sinh ra và lớn lên trong những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội không giống nhau nên việc tiếp thu và lĩnh hội những nội dung giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội cũng không giống nhau.

Do vậy, xung đột đã xảy ra giữa các thế hệ trong gia đình (giữa ông bà và cha mẹ, giữa ông bà và con cháu, giữa cha mẹ và con cái) khi một bên thì muốn vươn lên tự khẳng định mình bằng những giá trị mới, còn bên kia thì muốn duy trì trật tự thang bậc giá trị cũ. Ngoài ra, xung đột cũng còn xảy ra ở ngay trong từng thế hệ nói riêng và ở bản thân mỗi con người chúng ta.

Theo cách tiếp cận này, người cao tuổi là lớp người đi trước trong xã hội. Họ được sinh ra và trưởng thành trong môi trường với những chuẩn mực giá trị khác với thế hệ trẻ ngày nay. Đó chính là một trong những lý do tạo nên xung đột giữa các thế hệ trong một gia đình: Con cháu không coi trọng vị trí và vai trò của người cao tuổi, người cao tuổi cũng cảm thấy không bằng lòng với lối sống của lớp người trẻ tuổi. Lý do chính để lựa chọn lý thuyết xung đột vào việc tiếp cận các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi là: xung đột giá trị giữa các thành viên trong gia đình là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa những người cao tuổi trong gia đình và thế hệ trẻ. Điều này, một phần nào đó, làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ và trách nhiệm chăm lo phụng dưỡng người cao tuổi của thế hệ trẻ. Chính sự xung đột này đã làm tăng khoảng cách cả về quan điểm và cung cách sinh hoạt giữa các thế hệ. Việc cho ra đời và phát triển các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi sẽ phần nào giải quyết được tình trạng nêu trên. Con cháu người cao tuổi hoặc không có điều kiện trực tiếp để chăm lo, phụng dưỡng người cao tuổi, hoặc xung đột trong quan điểm và cung cách sinh hoạt của người cao tuổi, hoặc người cao tuổi muốn tự do, muốn tự chăm sóc cho bản thân là nguyên nhân của việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc người cao tuổi.

Tiếp cận từ các khoa học truyền thông

Thuật ngữ truyền thông chỉ quá trình tiếp nhận, duy trì và trung chuyển thông tin biểu hiện qua nhận thức và hành vi giữa con người với con người trong xã hội. Như vậy, có thể hiểu truyền thông như là phương diện tương tác của xã hội, làm sáng tỏ các nghĩa mang ý chủ quan của một hành động xã hội, theo cách nói của nhà xã hội học nổi tiếng M. Weber. Nói cách khác, truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sử hiểu biết lẫn nhau (thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát- người mang nội dung thông tin đến với người nhận – người nhận thông tin).

Các lý thuyết truyền thông [mô hình truyền thông]:

– Mô hình truyền thông đầu tiên là của Claude shannon (Mỹ). Mô hình này thể hiện truyền thông theo kiểu đơn tuyến. Shannon đưa ra 3 vấn đề:

+ Những kí hiệu truyền đi có đúng mẫu hay không [vấn đề kỹ thuật].

+ Những kí hiệu truyền đi có mang đầy đủ ý nghĩa hay không [mặt nội dung].

+ Thông tin tác động thế nào lên ứng xử của đối tượng [vấn đề hiệu lực].

– Mô hình truyền thông của Lasswell tập trung về thu thập và phân tích các yếu tố:

+ Ai nói: Địa vị của người nói trong xã hội, vị thế, vai trò của anh ta hay một cộng đồng dân cư, đặc điểm nhân khẩu học xã hội.

+ Nói gì: Nội dung thông tin, thông điệp chứa đựng những gì, những nội dung cần truyền đến đối tượng và nhu cầu của người tiếp nhận thông tin], từ đó lựa chọn khái niệm —-> mã hoá —–> qui chiếu về văn bản nội dung dó.

+ Kênh truyền thông nào: là phương tiện kỹ thuật để truyền tải thông điệp (kênh truyền thông đại chúng, kênh truyền thông trực tiếp, kênh truyền thông giáo dục, kênh truyền thông dư luận)

+ Nói cho ai: người tiếp nhận là ai, những đặc điểm của đối tượng tiếp nhận là gì [đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm tín ngưỡng tôn giáo].

+ Hiệu quả như thế nào: phân tích nhận thức, hành vi hiểu quả của truyền thông đến đối tượng và phản hồi của đối tượng như thế nào.

– Mô hình truyền thông của Gerbner [1956]:

Lý thuyết này chú ý đến mặt ý trí chủ quan của con người về mặt tiếp nhận thông tin, cân đối cả hai yếu tố về mặt vật lý và kỹ thuật. Người biên tập các sản phẩm truyền thông cảm nhận các nội dung, người tiếp nhận thông điệp cũng cảm nhận các hình ảnh, âm thanh theo một cách khác nhau.

Sự kiện ban đầu của nhà truyền thông và sự kiện của người tiếp nhận có thể là khác nhau như sau:

Theo các tác giả trong trường phái này, mục đích của giao tiếp thực chất là để duy trì mối quan hệ xã hội, bởi vậy thông tin không có ý nghĩa riêng lẻ mà nó là sự tổng hợp các dữ liệu tạo thành một trường ngữ nghĩa. Các biểu tượng giao tiếp phải cùng nằm trong một trường ngữ nghĩa đó để có thể hiểu được kí hiệu thông tin cần truyền đạt. Mỗi kí hiệu có một điểm nằm trong từ trường và một vectơ cho biết chiều hướng của ngữ nghĩa đó nói về cái gì và độ lớn của nó ra sao.

Lý thuyết truyền thông được áp dụng trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu người già ở chỗ cần phải coi truyền thông như là một công cụ để nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động và phổ biến các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi. Truyền thông gắn liền với các hoạt động phát triển cộng đồng, tổ chức các hoạt động của người cao tuôi. Muốn loại hình này phát triển, đặc biệt là ở một xã hội truyền thống như ở nước ta- nơi người cao tuổi thường được kính trọng và chăm sóc trong gia đình hơn là việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc bên ngoài xã hội, thì việc áp dụng các mô hình truyền thông có vai trò to lớn. Nó góp phần giới thiệu về hoạt động cũng như hiệu quả của các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, phổ biến các kiến thức y tế lão khoa cho bản thân người cao tuổi, gia đình có người cao tuổi và xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.

Lý thuyết phát triển

Phát triển là một quá trình, trong đó, con người áp dụng những công nghệ hiện đại của khoa học và công nghệ vào những mục tiêu của mình qua các trung gian khác nhau và quá trình này có tính chất không thể đảo ngược.

Từ những năm 1970 đến nay khái niệm Phát triển bền vững đã được Liên hiệp quốc sử dụng rộng rãi trong tiêu chí nhìn nhận sự phát triển của mọi quốc gia, cộng đồng trong sự thống nhất của ba thành tố: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Do đó, phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không xâm hại đến việc làm thoả mãn nhu cầu của thế hệ tương lai.

+ Yếu tố Kinh tế: Khi xét khía cạnh kinh tế của phát triển có nghĩa là chúng ta phải xem xét đến việc những nguồn tài nguyên được sử dụng như thế nào để đáp ứng những nhu cầu, mong muốn của xã hội. Quá trình tăng trưởng kinh tế, quản lý, phân công lao động, phân phối sản phẩm, các quy luật hàng hóa và cung cầu, được xác định bằng các chỉ số cụ thể tuy nhiên trong quan điểm phát triển hiện đại lại phải gắn liền với các tiêu chí về phát triển xã hội và môi trường.

+ Yếu tố Xã hội: Đây là những yếu tố tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống con người nhằm định hướng cho quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì mục đích cuối cùng của sự phát triển kinh tế cũng là phát triển xã hội, phát triển bền vững hướng tới là nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Nhu cầu tiếp cận các dịch vụ xã hội của con người phải được nhìn nhận là những quyền cơ bản của con người được nhà nước đảm bảo bao gồm: Y tế, giáo dục, an ninh, giải trí, ăn uống, nước sạch, việc làm, thông tin, văn hóa… Đó là những nhu cầu cần thiết của mọi người để duy trì một cuộc sống lao động, cống hiến cho xã hội. Phát triển xã hội, tiến bộ xã hội chính là việc tạo ra những chính sách y tế, giáo dục, an sinh phúc lợi xã hội tiến bộ, góp phần điều chỉnh những mặt trái từ quá trình phát triển kinh tế.

+ Yếu tố Môi trường: Khi xét vấn đề môi trường của phát triển nghĩa là chúng ta xét đến việc bảo vệ và sử dụng những nguồn tài nguyên xung quanh chúng ta, cả những tài nguyên tái tạo được và không tái tạo được. Đó là những cái giúp chúng ta tồn tại và duy trì cuộc sống một cách khoẻ mạnh và tốt đẹp. Bảo vệ tài nguyên và môi trường cũng hướng đến mục đích phát triển con người và các thế hệ mai sau.

Như vậy, quan niệm chủ đạo trong lý thuyết phát triển đưa ra là quan điểm về sự phát triển bền vững của một xã hội, dựa trên sự phát triển đồng đều và cân đối giữa ba yếu tố: Xã hội, Kinh tế và Môi trường. Nói đến dịch vụ chăm sóc người cao tuổi chính là đề cập đến quan hệ giữa ba yếu tố này, đặc biệt trong xu hướng tư nhân hóa, xã hội hóa những loại hình dịch vụ này chúng ta rất cần nhìn nhận vấn đề từ những quan điểm phát triển bền vững.

Hàn Vũ Linh, Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam, Nxb Dân trí, 2009

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan