Theo truyền thống văn hoá của người Việt Nam, tình cảm, sự yêu thương và gắn bó của các thành viên trong gia đình bao giờ cũng là gốc rễ, là căn nguyên sâu xa tạo nên những mối quan hệ xã hội tốt đẹp, mà ở đó, đặc biệt những nét đẹp và giá trị văn hóa sâu sắc nhất lại biểu hiện trong mối quan hệ ứng xử trực tiếp giữa con cháu với những người lớn tuổi trong gia đình.
Hình ảnh của những các cụ, ông, bà, cha, mẹ trong gia đình được tôn vinh, phụng dưỡng không chỉ là một thứ tình cảm đặc biệt thiêng liêng, được lưu giữ qua nhiều thế hệ người Việt, mà còn trở thành đạo lý chung của dân tộc từ gia đình đến xã hội. Đó chính là “Đạo hiếu”. Không chỉ “Đông con là nhà có phúc” như câu nói cửa miệng của người Việt, mà trong quan niệm, suy nghĩ, nếp sống của mình, người Việt cũng khẳng định nếu gia đình có nhiều người cao tuổi được phụng dưỡng, chăm sóc, được chung sống và khỏe mạnh với con cái thì gia đình đó cũng được coi là đại phúc.
Việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi không chỉ được hiểu đơn thuần là trách nhiệm của gia đình trong chăm lo về sức khoẻ, thể chất (ăn uống, nghỉ ngơi, chữa bệnh…) cho người cao tuổi mà nó còn bao hàm cả sự chăm sóc về nhu cầu tinh thần, duy trì, củng cố các mối quan hệ tâm lý, tình cảm, giao tiếp trong gia đình và xã hội đối với người cao tuổi. Để đáp ứng được nhu cầu đó, các thành viên cần ý thức tạo ra môi trường sống tốt đẹp ngay trong gia đình, đồng thời kết hợp với sự quan tâm của các tổ chức đoàn thể xã hội, tạo điều kiện cho người cao tuổi tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc và có cơ hội phát huy vai trò của mình trong các hoạt động có ích cho cộng đồng, xã hội. Có như vậy, người cao tuổi mới có thể sống vui, sống khỏe đúng với những tiêu chí về phát triển con người, tránh được tâm thế mặc cảm là nhóm người sống thừa, sống bám vào các thế hệ con cháu.
Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc Đổi mới, đời sống các gia đình không ngừng được cải thiện, tuổi thọ bình quân ngày càng cao, số lượng người cao tuổi ngày càng gia tăng, trong đó rất nhiều người cao tuổi còn sức khoẻ mong muốn tiếp tục được đóng góp sức lực vào sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội. Mặt khác, cùng với sự phát triển của xã hội, mô hình gia đình ít con đang chiếm ưu thế và lối sống công nghiệp với xu hướng đô thị hóa nông thôn đang diễn ra nhanh chóng dẫn đến hệ quả là người cao tuổi không kể ở nông thôn hay thành thị ngày càng rơi vào tình trạng sống xa con cháu, cần đến sự chăm sóc, phụng dưỡng nhưng lại ít có điều kiện được hưởng, hoặc tham gia các dịch vụ xã hội.
Đạo lý “Kính già” cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, được coi là một trong những thang bậc giá trị cơ bản và quan trọng của dân tộc Việt Nam, song trên thực tế do lao động kiếm sống đã và đang chiếm phần lớn thời gian của gia đình nên việc thực hiện đạo lý ấy đang bị sao nhãng và ít được quan tâm như trước. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, có không ít những người cao tuổi ở nước ta đang phải sống trong những hoàn cảnh thiếu thốn về kinh tế, phải tiếp tục lao động kiếm sống, thậm chí là những công việc vất vả, nặng nhọc. Nhiều người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa. Sự suy giảm về sức khỏe, thể lực, sư thiếu thốn về tinh thần, tình cảm, sự quan tâm chăm sóc của gia đình, xã hội đối với người cao tuổi đang trở thành những hiện tượng khá phổ biến… Chưa kể đến có những trường hợp người cao tuổi vẫn bị phân biệt đối xử, ngược đãi, bị bạo hành.
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX, đứng trước nguy cơ già hóa dân số, các nước phát triển đã đẩy mạnh dịch vụ chăm sóc người cao tuổi dưới hình thức xây dựng các trung tâm dưỡng lão, duy trì sức khoẻ và phát huy khả năng lao động, khai thác kinh nghiệm nhiều mặt của người cao tuổi. Các nước Bắc Âu và Tây Âu là những quốc gia tiên phong trong vấn đề này. Ở Châu Á, Nhật Bản là một ví dụ điển hình, với đặc thù địa lý khó khăn và sẵn tiềm năng kinh tế, Nhật Bản đã và đang xuất khẩu mô hình “Trung tâm dịch vụ chăm sóc người cao tuổi” bằng cách tổ chức đưa người già sang các nước khác để thực hiện dịch vụ chăm sóc với lý do tiết kiệm chi phí, nhất là việc trả công cho người lao động. Hiện nay, Nhật Bản đang có xu hướng đầu tư mạnh mô hình này ở các nước Châu Á, đặc biệt đối với Việt Nam, họ quan tâm hơn vì lợi thế về kinh tế, khí hậu và mức độ an ninh chính trị, an toàn xã hội của nước ta.
Nhìn chung vấn đề chăm sóc sức khoẻ và đời sống tinh thần của người cao tuổi ở các nước phát triển đã được Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ đặc biệt quan tâm với những hướng ưu tiên cơ bản như:
+ Tạo các cơ hội phù hợp để người cao tuổi tham gia vào các hoạt động kinh tế – xã hội, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển chung của quốc gia.
+ Tăng cường sức khoẻ và cải thiện cuộc sống về vật chất và tinh thần cho người cao tuổi.
+ Đảm bảo môi trường thuận lợi và các dịch vụ thiết yếu hỗ trợ đời sống người cao tuổi.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và mở rộng giao lưu văn hoá giữa các nước trong khu vực và thế giới, cùng với xu hướng già hoá dân số của nước ta hiện nay, Việt Nam cần quan tâm đến việc hoạch định lâu dài trong lĩnh vực dịch vụ người cao tuổi để đưa ra những chính sách phù hợp với những tiến triển của quá trình hội nhập, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước.
Gần đây ở nước ta nhiều loại hình dịch vụ Chăm sóc người cao tuổi được hình thành và hoạt động, đặc biệt là các mô hình tư nhân, mô hình liên kết bên cạnh các trung tâm bảo trợ xã hội do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý trước đây. Mặc dù hoạt động theo xu hương tự phát, song nhiều trung tâm hoạt động đã có kết quả ban đầu, đáp ứng được phần nào nhu cầu của người cao tuổi và gia đình. Tuy nhiên về mặt quản lý nhà nước dường như chúng ta chưa có những qui hoạch một cách tổng thể, chưa có cơ quan nhà nước đứng ra thống nhất quản lý thông qua việc ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn để điều chỉnh hoạt động của loại hình dịch vụ này, nhất là đối với các tổ chức dịch vụ phi Chính phủ, các công ty tư nhân, sự tham gia của cộng đồng và xã hội trong các dịch vụ dành cho người cao tuổi nên hiệu quả thực tiễn đạt được về kinh tế, xã hội và văn hóa chưa cao.
Việc tổ chức tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả hoạt động của các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi hiện nay ở Việt Nam hướng tới môi trường vận động, cải thiện chính sách đối với người cao tuổi là nhu cầu cần thiết để có thể đề xuất những biện pháp hữu hiệu về quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển đối với các loại hình dịch vụ này, tăng cường chất lượng dịch vụ, xã hội hóa và huy động sự tham gia của toàn thể cộng đồng, xã hội đối với công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

Hàn Vũ Linh, Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam, Nxb Dân trí, 2009
