Hiện nay các hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học ,công nghệ được các chủ thể là các bộ, ngành, địa phương thường xuyên tổ chức thông qua các sự kiện, hoạt động thực tiễn tại cộng đồng. Tuy nhiên để giám sát, đánh giá hiệu quả của các hoạt động và điều chỉnh chương trình truyền thông cần chú ý một số tiêu chí trong giám sát, đánh giá các hoạt động trong thực tiễn
Tiêu chí 1: Nắm vững nguyên tắc đo lường về hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ của các chủ thể thực hiện (có nhiều nội dung, loại hình tổ chức thành viên, các hoạt động phong phú và đa dạng)
Khác với việc đo lường các vấn đề, sự kiện xã hội hay đo lường về hoạt động của các nhóm xã hội, yêu cầu đo lường trong giám sát, đánh giá gắn với đo lường về quy trình truyền thông và loại hình tổ chức. Với một loại hình tổ chức các tiêu chỉ đo lường cần xác định: đặc điểm chính của tổ chức, bối cảnh thành lập và sứ mệnh tổ chức; cơ sở vật chất, tài sản, nguồn lực kinh phí; đội ngũ nhân lực; phương thức hoạt động và quản lý; các hoạt động chính; thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức…Với loại hình truyền thông, cần nắm rõ nội dung thông tin, nguồn phát, kênh phổ biến và nhận thức, tiếp nhận của công chúng.
Tiêu chí 2: Nắm vững nguyên tắc về triển khai phương pháp nghiên cứu định lượng, quy trình thao tác hóa khái niệm và đo lường trong giám sát, đánh giá gắn với các tiêu chí thống kê

Việc triến khai nghiên cứu hiệu quả truyền thông, giám sát, đánh giá hoạt động của các chủ thể truyền thông có hiệu quả hay không phải được xác định qua hệ thống các phương pháp định lượng; xây dựng bộ công cụ nghiên cứu, đánh giá, đo lường chuyên nghiệp, bài bản, gắn vào bộ công cụ thu thập thông tin (điều tra bảng bảng câu hỏi, bảng thống kê…), thiết lập quy trình xử lý số liệu trên các phần mềm thống kê chuyên dụng như SPSS, SAS…Trong quá trình xử lý, phân tích số lập, nghiên cứu để có thể triển khai các mô hình phân tích đa biến như phân tích hồi quy, phân tích nhân tố…
Tiêu chí 3: Nắm vững nguyên tắc về triển khai phương pháp nghiên cứu định lượng, quy trình thao tác hóa khái niệm và giám sát, đánh giá đo lường gắn với các tiêu chí thống kê.
Để đảm bảo căn cứ cho việc định nghĩa khái niệm, thao tác hóa khái niệm các biến số, chỉ báo và thang đo cần xây dựng hệ thống tư liệu cần thiết và đảm bảo cho việc xây dựng hệ thống đo lường đầy đủ, không bị thiếu thông tin như: sử dụng thư viện, sử dụng tổng quan các công trình nghiên cứu, đánh giá liên quan chủ đề Liên hiệp Hội, sử dụng các báo cáo, văn kiện, kỷ yếu hội nghị, hội thảo trong và ngoài hệ thống, trao đổi với các chuyên gia, người am hiểu vấn đề (những nhà nghiên cứu, đồng nghiệp, người trong cuộc).
Cần phân tích rõ mục tiêu, nhiệm vụ truyền thông, phổ biến kiến thức, các khái niệm chủ chốt cần đo lường, đưa ra các giả thuyết cần kiểm định thông qua đo lường, phân tích số liệu thống kê.
Tiêu chí 4: Đảm bảo tính hiệu lực của phương pháp, quy trình đo lường trong giám sát, đánh giá
Trong quá trình phát triển các phương tiện để đo các khái niệm trừu tượng, tính hiệu lực đo lường mang tính quyết định cho kết quả nghiên cứu. Tính hiệu lực của đơn vị đo phụ thuộc vào sự thích hợp giữa khái niệm và các chỉ báo thực nghiệm đo nó.
Hiệu lực về nội dung: là kiểm nghiệm tính hiệu lực cơ bản nhất, kiểm tra cẩn thận số đo của các khái niệm đã được thao tác thành biến số, chỉ báo, ý nghĩa của nó. Hình thức kiểm tra này là phương pháp hình thành nên hiệu lực về danh nghĩa trong đó câu hỏi đặt ra là liệu các chỉ báo thực nghiệm (các phép thử, thang đo, loại câu hỏi…) có đại diện đầy đủ nghĩa của khái niệm đang nghiên cứu (cần đo) hay không? Thực tế khái niệm càng trừu tượng thì càng khó có thể đạt được hiệu lực nội dung. Chính vì thế người ta hiếm khi thử nghiệm hiệu lực mẫu trong việc phê chuẩn các số đo của các khái niệm khoa học xã hội trừu tượng.
Hiệu lực tiêu chuẩn tương quan là một tiêu chuẩn có thể được đo đồng thời như một khái niệm. Trong trường hợp này phải có 2 số đo: số đo chính sự kiểm tra (một hệ thống các chỉ báo thực nghiệm) và tiêu chuẩn cho sự kiểm tra đó dựa vào. Thường quá trình này phải sử dụng mối tương quan giữa số đo và tiêu chuẩn để xác định hiệu lực tiêu chuẩn tương quan.
Hiệu lực xây dựng là hiệu lực dựa trên các giả thuyết về các khái niệm đang được đo và sau đó thử nghiệm các giả thuyết này và liên hệ các kết quả với số đo ban đầu.
Tiêu chí 5: Đảm bảo độ tin cậy, xác thực của thông tin giám sát, đánh giá trong đo lường
Độ tin cậy hay tính xác thực được coi như độ chuẩn của qúa trình đo lường trong quá trình thu thập thông tin. Hiểu đơn giản đó là những thông tin chính xác, khách quan được người trả lời cung cấp. Tuy nhiên thực tế có rất nhiều phép đo không đảm bảo được độ tin cậy do các câu hỏi trong quá trình thu thập thông tin quá nhạy cảm, do cách đặc câu hỏi, do tâm lý người cung cấp thông tin, bối cảnh điều tra khảo sát…Thậm chí khách quan do sự việc sự kiện thay đổi, nên cũng 1 chỉ báo đo trên 1 đối tượng, thời gian, bối cảnh khác nhau sẽ có kết quả khác nhau.
Độ tin cậy của thông tin phải được tính toán nghiêm túc, cẩn thận từ khi bắt đầu xây dựng các công cụ đo lường.
Tính hiệu lực và độ tin cậy luôn là 2 mặt của 1 vấn đề trong việc sử dụng phương pháp đo lường và 2 mặt này không hoàn toàn đồng nhất. Trong 1 số trường hợp nhà nghiên cứu có thể giảm tính hiệu lực để tăng độ tin cậy và ngược lại.
Tiêu chí 6: xây dựng bộ công cụ đánh giá tổ chức vững mạnh (hoặc chưa vững mạnh) tại thời điểm đánh giá, cần hướng đến nghiên cứu, xây dựng các chỉ số để có thể làm công tác đánh giá hàng năm về hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức toàn hệ thống và từng bộ phận cụ thể thuộc chủ thể tổ chức hoạt động truyền thông, phổ biến kiên thức.
Đặng Vũ Cảnh Linh chủ biên, Sổ tay truyền thông, phổ biến kiến thức, NXB Nông nghiệp 2024

