VỀ TÍNH NHỊ NGUYÊN TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT XƯA VÀ BÀI HỌC HÔM NAY

Kể từ khi người Việt bắt đầu công cuộc dựng nước, khai mở các mối quan hệ cộng đồng, gia đình và xã hội, thì luật pháp với những chuẩn mực, những quy ước sơ khai nhất cũng đã bắt đầu hình thành. Có thời kỳ khá dài, chúng ta chưa có pháp luật. Các quan hệ xã hội giữa cá nhân, gia đình cộng đồng được thực thi thông qua các chuẩn mực văn hóa, phong tục tập quán, các quy ước ứng xử giữa các thành viên trong cộng đồng. Việc pháp luật ra đời là một bước tiến bộ lớn trong lịch sử dân tộc. Nó nói lên sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội, sự phát triển trên một quy mô rộng lớn, chuyển từ công xã nguyên thủy sang trạng thái nhà nước của các bộ tộc Việt.

Những đặc trưng cơ bản trong quản lý xã hội của người Việt

Có thể khẳng định rằng, những nguồn gốc đầu tiên của luật pháp Việt Nam đã được bắt đầu từ những quy ước, quy định trong tập tục, tập quán và văn hóa ứng xử trong xã hội Việt Nam cổ đại. Những người vi phạm các quy định tập tục này cũng đã bị xử lý và chịu các hình phạt của cộng đồng.

Truyền thuyết xưa đã kể về cuộc chia tay bi tráng giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ nhằm chứng minh bằng một huyền thoại thật cảm động về quá trình hình thành  của một cộng đồng dân tộc bao gồm những người sống ở núi ( năm mươi người con theo mẹ Âu Cơ) và những người về định cư ở đồng bằng ven biển để đánh bắt cá và trồng lúa (năm mươi người con theo cha Lạc Long Quân) theo quy luật phát triển là dân từ miền núi sẽ xuống đồng bằng định cư sinh sống.

Sống ở một vùng đất vừa hung dữ vừa hiền hòa, năm nào cũng lụt bão triền miên, gió rét mùa đông, giông tố mùa hè, người Việt phải nương tựa vào nhau để sống, phải tạo ra bức “vạn lý trường thành vĩ đại” của riêng mình là hàng nghìn cây số đê điều chống lại thiên nhiên hung bạo.

Trồng lúa nước trong bối cảnh khắc nghiệt đó, người Việt không thể không liên kết với nhau, đồng cam cộng khổ với nhau, sống chết có nhau để tồn tại. Đoàn kết cộng đồng trở thành nguyên tắc sống cao nhất của người Việt. Nguyên tắc này tồn tại suốt trong lịch sử cho đến tận ngày nay. Nó điều tiết toàn bộ nguyên tắc tồn tại, cung cách sống, phong tục tập quán và sau này là hệ thống luật pháp để quản trị đất nước.

Nguyên tắc “đoàn kết cộng đồng” đã khiến cho trong lịch sử của mình, Việt nam trở thành một trong số những quốc gia ít chịu ảnh hưởng nhiều nhất của sự phân hóa giai cấp. Các nhà nghiên cứu lịch sử đã chứng minh rằng đất nước chúng ta đã không tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ. Với chính sách tôn trọng chế độ công điền công thổ, chúng ta cũng không có nhà nước phong kiến theo kiểu phương Tây mà ở đó Nhà nước ủng hộ các địa chủ, lãnh chúa phong kiến và nhận tô thuế của các địa chủ này. Nhà nước phong kiến Việt Nam công nhận ruộng đất từ các cộng đồng làng xã, nhận tô thuế của các làng xã và do đó đã ủng hộ sự tồn tại vững chắc của các cộng đồng làng xã này.

Đám cưới chuột, tranh Đông Hồ

Đây là một hình thái kinh tế xã hội đặc biệt. Nó quyết định sự hình thành các nguyên tắc quản lý xã hội trong luật pháp xưa.

Dưới thời Văn Lang – Âu Lạc, người Việt sống trong một thứ quan hệ xã hội tuân theo những chuẩn mực không thành văn và về cơ bản có thể được xem là đã mang dáng dấp của những hình thức luật pháp sơ khai. Đó là các phép tắc của lệ làng, luật tục và tập quán gồm các quy định đơn giản, dễ nhớ dễ thực hiện.

Các hình thức của luật pháp sơ khai khi đó được quy định cụ thể ở những mặt sau, đó là:

– Những quy tắc trong quản lý xã hội, cộng đồng : đó là những quy tắc trong điều hành công việc mang tính nhà nước, được hình thành trong quá trình phát triển và liên kết các cộng đồng cư dân trong một cơ cấu quản trị rộng lớn mang tính lãnh thổ một quốc gia với nguyên tắc chung là quản trị đất nước theo các khuôn mẫu quản trị tại các cộng đồng địa phương.

– Những quy ước quản trị tại các cộng đồng địa phương có liên quan đến ruộng đất, canh tác, chăn nuôi và săn bắt, điều chỉnh các quan hệ xã hội, gia đình dòng họ và cá nhân. Những điều mà sau này sẽ trở thành lệ làng: Đây chính là những gốc gác đầu tiên của luật nước và lệ làng, là cội nguồn của luật cơ bản, giúp cho việc hình thành luật pháp sau này. Hai hình thức luật pháp sơ khai này làm nên tính đặc thù của luật pháp Việt nam, tồn tại trong suốt lịch sử : tính nhị nguyên trong quản lý, sự tương tác, gắn bó giữa phép nước và lệ làng

Sự kết hợp giữa việc quản trị đất nước với quản lý xã hội cộng đồng địa phương. Nó tạo thành một hệ  quản trị song hành độc đáo của Việt nam trong suốt lịch sử giữa một bên là nhà nước được thực thi qua “phép vua” và một bên là các quy chuẩn cộng đồng được gọi là “lệ làng”. Chính các quy tắc ứng xử giữa các thành viên trong cộng đồng do làng xã đặt ra, dần dần được biến thành  một số quy tắc của phong tục – tập quán, rồi trở thành hương ước với tính chất của một thứ luật “cấp cơ sở” nguồn luật bổ sung cho luật lệ cấp “trung ương” luật nước. Giữa lệ làng mang tính chất tự quản với luật nhà nước có mối quan hệ theo hình thức nhị nguyên: vừa thống nhất vừa độc lập với nhau.

Tính nhị nguyên “phép vua”“lệ làng” trong quản lý xã hội

Trong lịch sử luật pháp Việt Nam, luật lệ thời đại Văn Lang – Âu Lạc là luật tục, luật không thành văn chỉ dựa trên tập tục.

Tuy nhiên, nó vẫn có khả năng điều chỉnh toàn bộ các mối quan hệ xã hội cơ bản như quyền sở hữu và sử dụng ruộng đất, phương thức tổ chức các mối quan hệ xã hội cơ bản như quan hệ các bộ tộc, quan hệ hôn nhân – gia đình và dòng họ, quyền lợi và trách nhiệm của những thành viên cùng chung sống trong cộng đồng.

Chúng ta có thể xem đây như là một thứ luật truyền miệng, tuy không được ghi nhận trên văn bản nhưng lại thông qua các thứ mệnh lệnh vô hình được quy định từ chính quyền trung ương xuống tận cơ sở, địa phương. Chính do sự quản trị đặc biệt nói trên mà ngay từ thời Văn Lang – Âu Lạc chúng ta đã tạo ra được một hình thức quản trị đất nước đặc biệt, trong đó có sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà nước trung ương với các cộng đồng. Nó cũng đã góp phần làm hình thành một mô hình quản lý truyền thống của văn minh Việt, gắn kết chặt chẽ giữa phong tục của các bộ lạc với xu hướng quản trị chung của đất nước.

Cấu trúc làng xã cổ truyền đã trở thành một bức thành trì kiên cường mà không một kẻ thù phương Bắc nào thể nào có thể phá vỡ và vượt qua được. Các tập tục truyền thống trong tổ chức và quản trị làng xã, tính gắn kết cộng đồng chặt chẽ với những, lễ nghi, phong tục, văn hóa, gia đình…trải hàng nghìn năm Bắc thuộc vẫn được giữ gần như nguyên vẹn trong các làng Việt cổ xưa.

Xử án theo pháp vua, lệ làng, ảnh internet

Trong bối cảnh đó, giới thống trị phương Bắc đành lựa chọn cách thức là vận dụng cơ sở kinh tế, xã hội và những luật tục của nó để duy trì một trật tự ổn định. Nhiều quan lại người Trung Hoa còn bỏ cả tập tục phương Bắc để tuân thủ những quy ước của tập tục Việt. Bởi vậy có thể nói, trong việc quản trị xã hội, bản sắc của tập tục Việt đã được duy trì trong suốt lịch sử thời Bắc thuộc.

Chính sự tồn tại những mầm mống đầu tiên của tính nhị nguyên trong quản lý xã hội đã là cơ sở quan trọng định hướng cho sự hình thành các đặc trưng của Luật pháp Việt Nam trong những giai đoạn độc lập tự chủ sau này, bắt đầu từ Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần… mà đỉnh cao là Luật Hồng Đức nổi tiếng về  tính nhân đạo và sự tiến bộ của nó.

Những bài học về quản lý xã hội và việc xây dựng luật về các hội và tổ chức hội hiện nay

Nghiên cứu về cách thức tổ chức và quản lý xã hội, đặc biệt là tinh nhị nguyên trong quản trị xã hội của người xưa để rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay vẫn luôn là một đề tài cần thiết. Dưới đây, chúng tôi xin nêu một số ý kiến xung quanh vấn đề quản lý xã hội và phát triển các tổ chức xã hội trong quản lý xã hội, qua những bài học của người xưa;

– Phương thức quản lý xã hội của người Việt xưa, cho đến nay vẫn để lại những bài học thực sự sâu sắc cho thế hệ chúng ta. Cha ông ta đã vận dụng rất hợp lý các phương thức quản trị xã hội dựa trên cơ sở quan trọng nhất là tính hòa đồng, đoàn kết nhân ái trong xã hội Việt Nam. Nó là sự kết hợp hợp lý giữa pháp trị với đức trị, nhân trị và sau này nữa được Nguyễn Trãi nhấn mạnh là văn trị, lấy tri thức và học vấn sâu xa dựa trên nhân nghĩa mà quản trị đất nước. Trong bối cảnh đó, tính nhị nguyên trong quản trị đất nước đã được duy trì và phát triển. Nó là sự kết hợp giữa luật pháp của nhà nước trung ương với luật tục, đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán của các cộng đồng. Nó trao bớt các quy chuẩn luật pháp cụ thể cho các cộng đồng làng xã để tập trung vào những vấn đề rộng lớn hơn có ý nghĩa đến sự độc lập quốc gia sư ổn định và phát triển chung. Nhờ việc duy trì tính thống nhất giữa sự tự quản của các cộng đồng làng xã với sự định hướng phát triển chung của nhà nước mà trong những giai đoạn cường thịnh nhất, chúng ta đã đủ sức chiến thắng những kẻ thù hùng mạnh, giữ vững độc lập dân tộc, tạo dựng nên một nền văn minh Việt Nam đầy bản sắc.

– Tính nhị nguyên mà chúng tôi nói tới ở đây đã tạo ta hai chiều đối nghịch nhau. Ở mặt tích cực, với sự gia tăng quyền hạn cho các cộng đồng làng xã trong việc quản trị xã hội, luật pháp chung của quốc gia đã có điều kiện gần gũi hơn với người dân, phát huy được tiếng nói trực tiếp và cụ thể của các cộng đồng làng xã vào việc quản lý đất nước. Trong trường hợp luật pháp chung của nhà nước thống nhất được với ý nguyện của người dân tại các cộng đồng, sức mạnh chung của đất nước được nâng cao. Đây là điều mà chúng ta đã đạt tới được trong những giai đoạn kháng chiến chống xâm lược. Chẳng hạn hội nghị Diên Hồng, tập hợp được ý chí chung của dân tộc thông qua ý kiến của các vị bô lão đại diện cho các cộng đồng làng xã

– Ở mặt hạn chế, việc luật pháp dựa nhiều vào các tập tục của địa phương có thể tạo ra sự thiếu thống nhất trong các quy chuẩn xử lý chung. Hiện tượng trống đánh suôi, kèn thổi ngược trong xử lý pháp luật, phép nước không bằng lệ làng cũng có thể dẫn đến việc người dân lơ là với luật, không thể hiểu hết pháp luật. Mặt khác, thói quen xử lý những vấn đề luật pháp theo cảm tính chủ quan của lệ tục, dựa nhiều vào đạo đức và phong tục tập quán cũng có thể khiến ý thức chấp hành pháp luật của người dân sẽ không cao. Sự thiếu tôn trọng luật pháp chung dẫn đến việc chấp hành luật cũng bị coi thường. Nó cũng khiến cho người Việt Nam có thể được xếp vào hàng ngũ  những người ít quan tâm đến pháp luật trên thế giới. Thói quen sống coi thường pháp luật, coi thường kỹ luật trật tự xã hội trở nên phổ biến, thời nào cũng vậy.

Khi tổ chức cộng đồng làng xã biến thành tổ chức của các phường hội thì nó cũng để lại cho chúng ta nhiều bài học cho tương lai. Chúng ta đều biết, gần đây trên thế giới, người ta đã quan tâm nhiều đến vấn đề mở rộng vai trò của các cộng đồng, nêu quan điểm về việc đẩy mạnh sự phát triển của xã hội lấy công dân làm trung tâm, giảm bớt vai trò quản lý của nhà nước, tăng cường vai trò của các hội quần chúng. Thậm chí nhiều nhà khoa học có tên tuổi trên thế giới còn khẳng định rằng, phải coi các tổ chức hội, tổ chức cộng đồng như là một nguồn vốn xã hội đối với sự phát triển. Họ cũng lên tiếng phê phán và lấy làm tiếc rằng nhiều nước đã xem thường và thậm chí để cho nguồn vốn này “ngủ”

Trong bối cảnh đó, nhiều vấn đề về đoàn kết cộng đồng, quản lý làng xã cuả Việt Nam xưa cũng đã được chú ý. Các học giả của nhiều nước trên thế giới đã đến Việt Nam nghiên cứu. Không ít ý kiến đã cho rằng nguyên tắc coi tập tục của làng xã ở cấp cơ sở theo kiểu Việt Nam, giảm bớt tính tập quyền của nhà nước và luật pháp trung ương, trao quyền cho các cộng đồng xã hội tự quản và xã hội dân sự có thể được xem như là nền tảng để xây dựng pháp luật cho một xã hội mới.

Mô hình luật nước, lệ làng truyền thống đã chỉ cho chúng ta thấy những mặt tích cực cùng với những hạn chế, thậm chí là di hại của nó. Tuy nhiên trong điều kiện phát triển mới hiện nay nó cũng có thể giúp chúng ta hình dung được một hệ thống quản trị đất nước dựa trên những nguyên tắc quan trọng nhất, đó là :

Thứ nhất, phải tạo lập được một sự thống nhất chung về luật pháp trên phạm vi toàn quốc gia, dựa trên những nhu cầu cơ bản của sụ ổn định và phát triển tiến bộ của đất nước.

Thứ hai, nó phải là sự thống nhất ý nguyện cơ bản của mọi người dân, mọi nhóm xã hội và cộng đồng xã hội. Luật pháp phải gắn liền với tâm tư, nguyện vọng, lợi ích, nhu cầu trong cuộc sống của những cộng đồng và con người cụ thể. Trong trường hợp này vai trò của các tổ chức xã hội, hội dân sự từ các cấp trung ương tới địa phương là hết sức cần thiết và quan trọng.

Hàn Vũ Linh, đăng trên Tạp chí Truyền thống và Phát triển số tháng 9/2020

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan