Toàn cầu hóa là quá trình tất yếu đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc hay vùng lãnh thổ cần phải chủ động hội nhập để tranh thủ tận dụng những cơ hội mà nó đưa lại nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia chỉ có thể xây dựng nguồn nội lực đủ mạnh trên cơ sở một nền tảng tinh thần thật vững chắc, đó là bản sắc văn hóa dân tộc và tính thống nhất trong đa dạng văn hóa. Điều này càng khẳng định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của di sản văn hóa nói chung và văn hóa nông thôn nói riêng trong quá trình phát triển đất nước cũng như quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Xuất phát từ quan điểm phát triển bền vững, chúng ta thấy rõ, những yếu tố cần quan tâm là: tốc độ tăng trưởng kinh tế mà theo đó là mức độ cải thiện điều kiện sống, tiếp theo là yếu tố văn hóa mà nhân lõi là bản sắc văn hóa dân tộc và cuối cùng là yếu tố môi trường sinh thái – nhân văn. Phát triển kinh tế, cải thiện điều kiện sống chỉ đáp ứng nhu cầu của con người về mặt sinh học, tạo cho họ thể chất tốt, nhưng con người ta để sống, lao động sáng tạo và cống hiến vẫn rất cần được nâng cao năng lực sáng tạo, sự phong phú, đa dạng trong đời sống tinh thần. Đây chính là những nhân tố quyết định nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như tạo ra bản lĩnh cho cả dân tộc bước vào hội nhập quốc tế mà không sợ bị hòa tan.
Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra sâu rộng trên thế giới, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tiêu biểu của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền, quốc gia càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Đây vừa là xu thế khách quan, là một thuộc tính bản chất của toàn cầu hóa, vừa là đòi hỏi nội tại mạnh mẽ của sự phát triển của những dân tộc giác ngộ đầy đủ về sự tồn tại của mình trong thế giới mới…Đối với mỗi một dân tộc, nó đem tới những thách thức sống còn, nhưng cũng bầy ra các cơ hội phát triển mới, cơ hội phát triển toàn cầu văn hóa dân tộc và tham gia xây dựng nền văn hóa toàn cầu.

Văn hóa được UNESCO quan niệm là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến những vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán, lối sống và lao động, nhờ đó con người tự định vị mình trong không – thời gian nhất định, để có thể giải thích thế giới, phát triển các năng lực biểu hiện, giao lưu, sáng tạo.
Tiếp tục đổi mới toàn diện, xây dựng thành công xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, trước nhưng cơ hội và thách thức tất yếu của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, không thể chỉ dừng lại ở nhận thức và phòng vệ, mà phải tìm cách giành quyền chủ động tự quyết định số phận dân tộc mình, tự quyết định số phận cuộc cách mạng tốt đẹp của dân tộc. Một trong các khía cạnh thể hiện hệ quả của phương thức tư duy tích cực ở Việt Nam đối với những thách thức của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, là sự quán triệt nhận thức mới về quan hệ giữa văn hoá và phát triển, coi văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là tài nguyên cơ bản, vừa là động lực của phát triển.
Như vậy, để có thể tồn tại, và phát triển trong điều kiện thời đại mới, để có thể bảo tồn và phát huy tài nguyên văn hoá dân tộc, để có thể bảo tồn và phát huy di sản văn hoá nói chung và văn hóa phi vật thể nói riêng ở nước ta, lựa chọn lí tính duy nhất chính là xây dựng, và phát triển nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; điều đó cũng có nghĩa là, bảo tồn và phát huy di sản văn hoá phi vật thể không thể tách rời chính quá trình định hướng giá trị của di sản đó vào sự nghiệp phát triển văn hoá chung của cả dân tộc.

Việc xây dựng nền văn hoá mới chính là quá trình tạo nên con người mới – chủ thể bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Con người trong thời đại mới cần gắn với các yếu tố Chân – Thiện – Mỹ, có cốt cách, tri thức và giá trị nhân văn để hội đủ Tài – Trí – Đức đáp ứng được những thách thức của thời đại.
Trong khuân khổ chương trình xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam, công tác bảo tồn các giá trị di sản văn hóa nói chung rất được chú trọng và quan tâm sâu sắc từ các cấp chính quyền và người dân tại địa phương. Mỗi địa phương, mỗi vùng miền mang những nét đặc trưng về văn hóa, lịch sử, con người riêng biệt. Vì vậy, trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay, chúng ta không thể không quan tâm, chú ý đặc biệt đến những nét văn hóa, nét đặc trưng của các địa phương phương này. Việc lưu giữ và bảo tồn các nét văn hóa đó là mục tiêu quan trọng và cơ bản của việc xây dựng nông thôn mới, nó không thể tách rời mà luôn luôn gắn liền trong mỗi chương trình, mỗi hoạt động của địa phương.
Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay, các giá trị văn hóa vật thể: chùa chiền, văn bia, mộc bản, miếu tự, tháp, … có giá trị đặc biệt quan trọng về mặt tâm linh, lịch sử, văn hóa. Những giá trị này có ảnh hưởng trực tiếp đến tâm tư, tình cảm, phong tục tập quán, sinh hoạt, đôi khi cả kinh tế của người dân mỗi địa phương. Bên cạnh những giá trị văn hóa vật thể trên, chúng ta không thể không nhắc tới những giá trị văn hóa phi vật thể. Các kho tàng văn hóa phi vật thể tiêu biểu như: lễ hội đền chùa, hát quan họ, hát xẩm, lễ hội cồng chiêng, nhã nhạc cung đình Huế… là những di sản văn hóa có giá trị vô cùng to về lịch sử, tâm linh, tư tưởng.

Trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên cả nước hiện nay, bên cạnh việc bảo tồn và lưu giữ các giá trị văn hóa vật thể, chúng ta cũng không được xem nhẹ công tác bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể này. Đây được coi là một chiến lược quan trọng không chỉ trong tiến trình xây dựng nông thôn mới mà còn là chiến lược quốc gia trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử mang đậm dấu ấn dân tộc Việt.
Chúng ta cần phải xác định rõ những di sản của nông thôn nói chung, trong đó có những di sản truyền thống không là những gì tồn tại tự thân mà bao giờ cũng là hệ quả của những điều kiện kinh tế – xã hội mang dấu ấn lịch sử của cả một thời đại nhất định. Nói một cách cụ thể là, các di sản vật thể và phi vật thể là sự phản ánh những điều kiện xã hội của cư dân nông thôn sinh sống.
Bên cạnh đó, là cần phải nhận biết rằng sự hình thành và phát triển của di sản nông thôn là một quá trình vận động và biến đổi cùng với sự thay đổi của hệ thống các thang bảng giá trị và chuẩn mực xã hội tương ứng với nó. Mỗi thời đại lại có những hệ thống chuẩn mực riêng, phù hợp với những điều kiện kinh tế , xã hội, lịch sử của mình. Việc phát huy vai trò của những giá trị di sản nông thôn, do đó cũng cần phải được hiểu một cách biện chứng, xuất phát không phải từ những yếu tố tự thân mà từ những điều kiện của thực tế xã hội.
Thực tế đã cho thấy, có những di sản trong thời đại này có thể được coi là tích cực, tốt đẹp nhưng ở thời đại khác lại có thể bị xếp vào loại tiêu cực, cần phải hạn chế hay loại bỏ. Nếu sự nhẫn nại, chịu đựng, chờ đợi có thể được coi là một đức tính quý báu, được đề cao trong xã hội nông nghiệp thì ở xã hội công nghiệp, người ta lại nhấn mạnh nhiều hơn tới sự nhạy bén, năng động và sáng tạo. . . Tình hình thực tế đó đặt ra trước các nhà khoa học và những người quản lý, điều hành thực tiễn câu hỏi là : cái gì là nguyên tắc cơ bản cho việc chọn lựa, phát huy hoặc hạn chế những mặt nhất định trong những di sản từ quá khứ, trong đó có các di sản văn hóa truyền thống. Cần phải xác định những yếu tố nào làm nền tảng để qua đó, kế thừa, gạt bỏ, hoặc phát huy những giá trị này.
Để xây dựng và hoàn thiện những chủ trương, chính sách nhằm kế thừa và phát huy những di sản văn hóa trong việc thực hiện các chỉ tiêu nông thôn mới gắn với công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cần phải tập trung nghiên cứu vào những nội dung cơ bản sau đây :
Kế thừa có chọn lọc những giá trị từ di sản truyền thống nông thôn
Trong thời gian gần đây, ở nước ta đã xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu xung quanh chủ đề kế thừa và phát huy những tinh hoa của truyền thống trong đó có những giá trị từ nông thôn. Những công trình nghiên cứu nói trên đã đưa ra rất nhiều quan điểm mới mẻ, nhưng cũng có nhiều điểm chưa thống nhất. Trung tâm của những vấn đề gây ra tranh luận là ở chỗ, phải chăng để hướng vào con đường hiện đại hóa, người ta lại phải trước hết quay về với quá khứ, học hỏi ở đó những gì tưởng chừng như đã cũ kỹ và mòn sáo nhất. Mặt khác, nếu thực sự phải lấy quá khứ làm nền tảng cho xã hội hiện đại thì những nhân tố nào trong đó sẽ là tích cực và tiến bộ còn những nhân tố nào sẽ là bảo thủ và lạc hậu.
Ở nước ta hiện nay, để kế thừa được những gì tốt đẹp trong giá trị văn hóa truyền thống của nông thôn Việt Nam, chúng ta cần phải nghiên cứu lại một cách hệ thống những di sản vật thể và phi vật thể này này, so sánh nó với những đòi hỏi của xã hội hiện đại, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp hợp lý nhất. Kế thừa, trước hết cần phải có sự chọn lọc kỹ càng nhằm hạn chế tới mức tối đa những gì bảo thủ và trì trệ gắn liền với quá khứ, bản thân sự kế thừa, về mặt ngữ nghĩa của danh từ cũng đã bao hàm trong đó tính chất về sự chọn lọc. Không có một hệ thống nghiên cứu chọn lọc kỹ càng, chúng ta sẽ dễ dàng nhầm lẫn sự kế thừa với việc lặp lại giản đơn những gì cổ hủ, lạc hậu, tiêu cực trong quá khứ.
Về lý luận, những tinh hoa của quá khứ được xã hội mới kế thừa phải xứng đáng là những gì mang hơi thở của xã hội hiện đại, gắn với những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đang được thực hiện. Chính điều đó đã khiến cho các giá trị truyền thống không những không được phát huy mà lại còn bị trói buộc trong vô vàn những mối dây cũ kỹ. Di sản truyền thống trong những điều kiện như vậy lại còn trở thành một thứ lực cản đối với những gì phát triển và tiến bộ.
Phát huy và nâng cao những giá trị từ di sản truyền thống nông thôn
Trong xu hướng chung của sự vận động và phát triển của đất nước, các giá trị văn hóa truyền thống cũng cần phải được bổ sung và nâng cao để phù hợp với những đòi hỏi của xã hội hiện tại. Chính sự bổ xung và nâng cao thương xuyên đã tạo ra sự sinh động và sức mạnh tồn tại cho những di sản truyền thống. Nhiều nhà nghiên cứu coi sự phát huy và nâng cao là một nguyên tắc không thể thiếu được, giống như quá trình nuôi dưỡng, tiếp thêm sinh khí và nguyên liệu cho một sự sống, một sự vận hành.

Bài học kinh nghiệm từ các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan…có thể thấy được rất rõ sự hiện diện của bản sắc truyền thống trong cuộc sống lao động và sinh hoạt thường ngày của cư dân nông thôn. Sự tồn tại của những bản sắc truyền thống nói trên không chỉ tạo ra những dáng vẻ riêng biệt, những mầu sắc đa dạng và phong phú, mà còn là sức mạnh của mỗi nước. Tuy nhiên, hoàn toàn không chỉ là những yếu tố thuần tuý truyền thống mà đã được hiện đại hóa. Bản thân sự tồn tại của những di sản này có thể xứng đáng được sánh ngang với những sản phẩm của xã hội hiện đại. Nó là một bộ phận của sự hiện đại chứ không chỉ là một bộ phận của quá khứ.
Kế thừa, phát huy và nâng cao giá trị di sản là hai mặt của một quá trình thống nhất biện chứng, nếu kế thừa là sự chọn lọc những nhân tố tốt đẹp của quá khứ làm phong phú cho xã hội hiện đại, thì nâng cao là sự chọn lọc những tinh hoa của xã hội hiện đại, bổ xung và nuôi dưỡng sức mạnh của các di sản quá khứ. Bởi vậy, thái độ đúng đắn và khoa học nhất đối với những di sản của quá khứ trong đó có các di sản văn hóa truyền thống nông thôn không phải chỉ là một sự trân trọng, mà là sự xử lý thường xuyên mối quan hệ biện chứng giữa mặt kế thừa với mặt nâng cao những phẩm chất này.
Hoàn thiện một cơ chế thích hợp nhằm kế thừa và nâng cao những giá trị di sản văn hóa nông thôn phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới.
Việc kế thừa và nâng cao những giá trị văn hóa nông thôn có thể được thực hiện không chỉ ở những ý tưởng đúng đắn mà còn ở thực tế việc xây dựng và hoàn thiện một cơ chế thực hiện những ý tưởng này.
Trước hết, cùng với việc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, cần phải có sự nghiên cứu trở lại một cách hệ thống và toàn diện về những di sản của quá khứ trong có các giá trị truyền thống nông thôn. Cần phải xem xét và đánh giá những mặt tích cực hoặc hạn chế của những di sản này, so sánh nó với những nhu cầu của sự phát triển và hiện đại hóa đất nước hiện nay. Trên cơ sở của nghiên cứu nkhoa học, cần hoạch định những chính sách hợp lý, điều chỉnh những chính sách không phù hợp, cải tiến các mặt chỉ đạo, điều hành, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện những chính sách này. Cần phải nhanh chóng quy chuẩn hoá các chủ trương chính sách đúng đắn thành các nguyên tắc pháp lý và đạo đức để mọi người có thể nhận thức và hành động một cách tự giác theo những nguyên tắc nói trên.
Bên cạnh đó cần tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong mọi hoạt động định hướng, chỉ đạo các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới theo nội dung kế thừa và nâng cao vai trò các giá trị, di sản truyền thống. Nhà nước phải có kế hoạch quan tâm theo dõi, đề ra những biện pháp chỉ đạo cụ thể, điều chỉnh uốn nắn các hoạt đông trái với các giá trị di sản đã được xác định, động viên và khuyến khích các hoạt động đúng đắn.
Bên cạnh việc nâng cao vai trò của Nhà nước, cần phải đẩy mạnh các hoạt động có hiệu quả của những đoàn thể cộng đồng và tổ chức xã hội trong việc nghiên cứu, kế thừa, bảo vệ và nâng cao các giá trị di sản văn hóa. Trên thực tế, các hoạt động văn hóa – xã hội truyền thống là những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các tổ chức, đoàn thể và cộng đồng xã hội. Cần tạo cho các tổ chức đoàn thể nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của việc kế thừa, nâng cao những giá trị văn hóa truyền thống đối với việc phát triển xã hội, tham gia tích cực vào hoạt động này. Với tính cách là những tổ chức của quần chúng nhân dân, các tổ chức xã hội, đoàn thể và cộng đồng là nơi vận động tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra, kiểm soát tích cực và có hiệu quả việc thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị tốt đẹp truyền thống tại nông thôn.
Đặng Vũ Cảnh Linh, Tạp chí Truyền thống và Phát triển số 7/2023
