VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ HÌNH THÀNH CÁC HỆ PHÁI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

     Trải qua hơn 2000 năm, văn hóa Phật giáo Việt Nam từ khía cạnh những giá trị vật thể và phi vật thể đã để lại một khối lượng di sản đồ sộ từ kiến trúc chùa cho tới hệ thống kinh sách, các công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật, phong tục tập quán, lễ hội Phật giáo…và bao trùm là một tinh thần văn hóa nhân văn của con người Việt Nam.

     Trong xu thế công nhận những giá trị của văn hóa Phật giáo, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã lấy ngày Tam hợp Đức Phật làm ngày văn hóa tôn giáo thế giới (Vesaka), việc khảo cứu về quá trình du nhập và hình thành các hệ phái Phật giáo Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị, văn hóa Phật giáo Việt Nam, kế thừa và phát huy các giá trị tích cực, tiến bộ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  

     Khái lược quá trình du nhập đạo Phật vào Việt Nam

     Theo những ghi chép lịch sử, vào những năm đầu Công nguyên, những thương gia Ấn Độ đã giong buồm, theo gió mùa Tây Nam mà đi về Đông, đến Giao Chỉ, rồi có thể từ Giao Chỉ theo tiếp đường biển hay đường bộ vào trong nội địa Trung Hoa. Trong khi đợi gió mùa Đông Bắc để quay về Ấn độ, sự lưu trú của số thương gia này đã lan truyền dần những nét văn hóa Ấn Độ, trong đó có việc thờ cúng Phật, tụng kinh… Những tăng sĩ Phật giáo đi cùng với các thương nhân trên thuyền buôn nhằm giúp họ làm công việc cầu khẩn sự phù trợ của đức Phật, đã là những người trực tiếp truyền bá Phật học vào Việt Nam và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu vào thế kỷ thứ hai sau Công nguyên (1).

     Một số chứng liệu, lập luận đáng chú ý khác cũng củng cố nguồn gốc khởi thủy sớm sủa từ Ấn Độ của Phật giáo Việt Nam so với Phật giáo Trung Hoa. Theo đó thì vào thời kỳ nhà Hán, Khổng và Lão giáo, đặt biệt là Khổng giáo, đã rất mạnh, giới trí thức Khổng, Lão đã chống lại Phật giáo, một luận thuyết tỏ ra khá xa lạ với những chuẩn mực đạo đức, xã hội của Khổng, Lão. Do đó mà Phật giáo đã rất khó để có thể thâm nhập vào Trung Hoa lúc đó. Trong khi đó, ở Giao Châu, Phật giáo xem ra lại khá phù hợp với tín ngưỡng dân gian truyền thống, nên việc thâm nhập không những không gặp trở ngại, mà lại còn dễ dàng và nhanh chóng.

     Vào thời đó, dù từ Trung Hoa đường bộ đi đến Ấn đã gần hơn đường biển, nhưng con đường xuyên qua Trung Á lại chứa đựng nhiều hiểm nguy và đường biển lại là con đường an ninh hơn, không có núi non, sa mạc, hay cướp bóc, giết chóc. Bằng chứng là vào đầu thế kỷ IV, mặc dù đường bộ đã dễ đi hơn, nhưng đến cuối thế kỷ này, Pháp Hiển (337 – 422) mới có thể đi từ Trung Hoa sang Ấn Độ và đến tận thế kỷ VII, Huyền Trang (602 -664) đã phải trải qua không biết bao nhiêu gian nan mới đi được trọn vẹn con đường này.

     Ngoài ra còn có hai chứng liệu rất quan trọng cho nguồn gốc rất sớm của Phật giáo Việt Nam. Thứ nhất, tập luận thuyết Phật giáo đầu tiên bằng Hán tự, Lý hoặc luận của Mâu Tử (Khoảng 165/170 – ?) đã được viết ở Giao Chỉ, chứ không phải ở một nơi nào khác sâu trong nội địa nhà Hán. Thứ hai, vào thế kỷ II, ở Giao Chỉ đã có một tăng đoàn đến 500 vị và khoảng 15 bộ kinh, trong khi đó phải đến thế kỷ thứ ba ở bên nhà Hán mới có được tăng đoàn đầu tiên.

     Sử liệu cổ của Trung Hoa cũng không ghi nhận được rõ ràng sự hình thành của hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành, chỉ có Luy Lâu thuộc Giao Chỉ là được xác định rõ ràng và sớm nhất và theo nhận định của nhiều nhà khoa học còn là cơ sở cho việc hình thành hai trung tâm kia. Từ nửa sau thế kỷ II, Luy Lâu đã tồn tại như một trung tâm Phật giáo quan trọng và phồn thịnh. Điều này cho thấy việc du nhập Phật giáo vào Giao Châu là rất sớm, có lẽ từ đâu công nguyên[1].

     Vào thế kỷ II, sự thâm nhập của Phật giáo đã ở một giai đoạn mới. Đã hình thành tăng đoàn công việc từ đó mà cũng đi vào tổ chức, các tăng sĩ bắt đầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng đã được xây cất. Ở thế kỷ này, sự hành đạo cũng gặp một ít trở ngại từ phía những nguời ủng hộ Khổng, Lão. Tuy nhiên, điều đó không thể ngăn cản được ảnh hưởng của Phật giáo vì nó đã thâm nhập vào dân gian.

     Tích Quang (?-?) và Nhâm Diên (?-?) là hai thái thú của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Hai người này đã đẩy mạnh việc truyền bá văn hóa Hán cả trong sinh hoạt kinh tế, phong tục tập quán, lẫn trong việc giáo dục, văn học. Đến đời thái thú Sĩ Nhiếp (137 – 226) thì Hán học phát triển rất mạnh, nhưng chính điều này lại tăng thêm cơ sở kiến thức và học vấn truyền bá tư tưởng, văn hóa Phật giáo. Việc ra đời của Lý hoặc luận, hay kinh Tứ thập nhị chương, những tác phẩm Phật học viết bằng Hán tự, là minh chứng cho điều này.

     Những kinh điển đầu tiên được phiên dịch (như Tứ thập nhị chương) là đã nhắm vào người xuất gia, chứ không phải vào quần chúng phật tử trong dân gian, do xuất phát từ một thực tế là sự du nhập và định hình Phật giáo giai đoạn này đã mang tính học thuật chuyên sâu hơn. Điều này cũng được thể hiện thông qua hệ thống quan niệm giáo lý đã mang nhiều nét kinh kệ hơn trước.

     Tinh thần hoà đồng giáo lý là nét nổi bật trong sự du nhập và định hình Phật giáo Giao Châu trong thế kỷ II này. Phật giáo thâm nhập vào đây một cách êm thấm, không có sự chống đối của tín ngưỡng dân gian. Tuy Phật giáo cũng phải có một ít nỗ lực trước giới hạn cai trị Hán tộc, nhưng không bằng sự phản kháng, mà bằng sự hoà đồng. Điều này xuất phát từ tinh thần cởi mở của Phật học và Phật tử thì sẵn sàng học hỏi, đối thoại với những tư tưởng khác. Kết quả của tinh thần này là Phật giáo không những đã sử dụng được từ ngữ Nho, Lão để truyền bá Phật giáo, mà còn làm cho những người theo Khổng, Lão thấy được chiều sâu của Phật học.

     Tù thế kỷ III, Phật giáo tại Giao Châu vẫn tiếp tục tự phát triển mạnh mẽ, với sự xuất hiện của Tăng Hội (? – 280) và tư tưởng thiền của ông. Ông không những là sáng tổ của Thiền học Việt Nam, mà còn là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa (Tăng Hội đã ở trên đất Ngô từ năm 255 đến 280).

     Thiền định Việt Nam, từ nguyên thủy vốn đã không phải là được truyền từ Trung Hoa sang. Nó đã xuất hiện, dù có thể hoàn toàn là bước đầu, ở Giao Chỉ, từ trước Tăng Hội. Trong Tứ thập nhị chương, danh từ thiền định đã một lần được nhắc đến. Kinh này còn nói đến “quán thiên địa, niệm vô thường”, là một phép thiền, gọi là Vô thường quán. Nhưng dù sao, đến thế kỷ thứ ba, có lẽ đã có một thực tế là cùng với sự thống trị của phong kiến Trung Hoa, Phật giáo từ phương Bắc, cho dù có hình thành những trung tâm muộn hơn, cũng đã bắt đầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật giáo Giao Chỉ. Cho dù Tăng Hội có một vai trò lớn đến đâu thì sử sách cũng ghi nhận rằng trong thế kỷ này, các kinh sách về thiền đã được đem từ Lạc Dương xuống và Tăng Hội cũng là một người đã học tập, lĩnh hội được tư tưởng Phật giáo Đại thừa Trung Hoa.

     Có thể nói những quan niệm, chủ trương của Đại thừa – một trong những tông phái lớn nhất của Phật giáo (một tông phái lớn khác là Kim Cang thừa) có xuất phát điểm từ Trung Hoa, đã có một sự thâm nhập mạnh mẽ xuống phương Nam kể từ thế kỷ thứ ba trở đi, để lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo, cũng như trong tín ngưỡng dân gian.

     Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được thể hiện ở việc các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiên phái có vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa.

     Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?-594), người sáng lập ra thiên phái mang tên ông, truyền đến 19 đời, đến đầu thế kỷ XIII, là một người gốc nam Thiên Trúc (Án Độ), vân du về phía Đông Bắc (562), tiếp xúc với Phật giáo Trung Hoa và hành đạo tại đây, đến năm 580 thì vào nước ta.

     Các thiền sư thuộc Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi không chỉ uyên thâm về Phật pháp mà nhiều vị rất có uy tín với triều đinh và biểu thị rõ ý thức độc lập tự chủ cùa đất nước. Các thiền sư Pháp Thuận, Ma Ha (thế kỷ thứ X), Sùng Phạm (thế kỷ XII) đều làm cố vấn cho nhà vua không chỉ việc đạo mà cả việc đời, việc ngoại giao. Dòng Tì Ni Đa Lưu Chi còn kéo dài mãi đến thế kỷ XIX. Đặc biệt, các thiền sư dòng Tì Ni Đa Lưu Chi thường có hình thức tu tập “Tông Trì Tam Muội” (Dharani samadhi), một hình thức tu tập phổ biến của Mật giáo (Tantrism), dùng chân âm kết hợp với ấn quyết trong trạng thái đại định để giữ được thân, khẩu, ý. Ở Hoa Lư (Ninh Bình), một cột kinh Phật bằng đá vào thế kỷ thứ 10 có khắc bài thần chú Phật Đỉnh Tối Thắng Đà La Ni (Usnisavijaya dharani), một thần chú phổ biến của Mật tông, đã được phát hiện. Khi vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa lẫn vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, pháp thuật, yêm bùa, trị tà ma, chữa bệnh,…

     Vào thê kỷ XI, Thảo Đường (997 – ?) vốn cũng là một thiền sư Trung Hoa đang hành đạo tại Chiêm Thành, bị quân chinh phạt của vua Lý Thái Tông bắt đem về Thăng Long. Sự uyên thâm Phật pháp của người này sau đó được nhận ra, được nhà vua đưa về trụ trì tại chùa Khai Quốc và lập ra một thiền phái lớn của Phật giáo Việt Nam, thiền phái Thảo Đường.

     Tuy nhiên, ở đây khi nói về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, ta có thể xem xét việc này đã cơ bản hoàn tất trước thế kỷ thứ X, khi mà một mặt có sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sự ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ phương Bắc sau đó, mặt khác là sự sản sinh, hình thành nền thiền học Việt Nam với những thiền phái đầu tiên nhưng lại rất lớn mạnh như Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Từ đây đã tạo một tiền đề vững vàng cho sự phát triển những giá trị của văn hoá Phật giáo Việt Nam về sau, mà đỉnh điểm là giai đoạn thế kỷ X – thế kỷ XIV.

     Nguồn gốc và phát triển hệ phái Phật giáo ở Việt Nam hiện nay

     Theo lịch sử Phật giáo, Phật giáo nguyên thuỷ vốn không có sự phân chia Nam – Bắc cũng như Nam tông hay Bắc tông. Sự phân chia này chỉ xuất hiện sau khi Đức Phật nhập Niết bàn một thời gian, các đệ tử Phật đã tập trung lại và đọc tụng, ghi nhớ những điều Phật dạy và tranh luận, thống nhất những vấn đề mới nảy sinh. Trong lần kết tập thứ tư vào khoảng 600 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, do hai phái Thượng Toạ bộ (cách gọi những vị cao tuổi, thường ngồi trên chủ trì pháp hội, chiếm số ít) và phái Đại Chúng bộ (chỉ những vị sư trẻ, tinh tiến trong học thức, thường ngồi dưới và chiếm số đông trong pháp hội) không thống nhất được quan điểm về một số sửa đổi, nên cuối kỳ kết tập quan điểm của hai phái đi về hai hướng. Sau này cả hai phái đều phát triển và đi truyền bá giáo pháp theo quan điểm của hệ phái mình.

Tổ đình Từ Hiếu, Huế

     Phái truyền lên phía Bắc sang Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản… được gọi là Bắc tông (hay Băc truyền). Hệ phái Bắc tông, trong quá trình phát triển cũng phân nhánh thành nhiều tông phái như: Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, Tam Luận tông, Duy Thức tông, Tịnh Độ tông, Luật tông, Thiền tông và Mật tông (Trung Quốc) hoặc thêm hai tông phái riêng có của Nhật Bản là Pháp Hoa tông và Chân tông.

Chùa Hang, Trà Vinh

     Phái phát triển và truyền thừa về phía Nam tới Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào… được gọi là Nam tông (hay Nam truyền).

     Hệ phái Bắc tông (Đại thừa) ở Việt Nam được các nhà sư Ấn Độ theo Bắc tông vượt dãy Himalaya qua Trung Quốc và theo đường biển vào cùng phía Bắc Việt Nam. Vùng Tây Thiên (Vĩnh Phúc) và Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) được coi là những trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của Việt Nam. Sự truyền bá phát triển của hệ phái này vào Việt Nam lúc đầu cũng chủ yếu phát triển ở các tỉnh phía Bắc. Đến thế kỷ XVII mới được truyền vào các tỉnh phía Nam do hai thiền sư Trung Quốc và một thiền sư Việt Nam ở phía Bắc truyền vào. Ba vị này đã truyền hai dòng thiền thuộc tông phái Lâm Tế và Tào Động rộng rãi ở các tỉnh miền Nam. Tuy nhiên, theo một số tài liệu khảo cổ học và tài liệu thành văn cũng thấy Phật giáo Bắc tông cũng đã được truyền vào khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ đầu công nguyên bởi các nhà truyền giáo từ Trung Quốc.

     Theo lịch sử Phật giáo Campuchia, thời kỳ đất nước Campuchia còn thuộc Vương quốc Phù Nam, nơi đây đã là một trung tâm lớn trong buôn bán, giao lưu đường biển giữa Ấn Độ với các nước Đông Nam Á, do đó Vương quôc Phù Nam đã chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hoá Ấn Độ. Trước khi Phật giáo du nhập vào đây thì đạo Bàlamôn đã được truyền đến Phù Nam. Sau Vương quốc Phù Nam là Vương triều Chân Lạp, Phật giáo Bắc tông đã một thời thịnh hành ở nơi đây. Do hoàn cảnh riêng và với tư tưởng phóng khoáng, trí tuệ nên Phật giáo Bắc tông nhìn chung không phù hợp vơi các cư dân có bản chất mộc mạc, thụ động, nên sau đó Phật giáo Bắc tông đã nhường chỗ cho Phật giáo Nam tông từ phía Sri Lanka truyền xuống với giáo luật chặt chẽ và những bộ kinh nguyên thuỷ chứa đựng giáo lý thực hành phù hợp hơn với người bản xứ.

Tác giả nói chuyện tại Học viện Phật giáo Huế 2008

     Hệ phái Nam tông ở Việt Nam được các nhà truyền giáo từ Nam Ấn Độ theo phái Thượng Toạ bộ (Tiểu thừa) vượt biển tới Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, theo đường biển tới vùng sông Mê Kông (Campuchia) và vào vùng phía Nam Việt Nam.

     Phát giáo Nam tông khi truyền vào Việt Nam lại chia thành hai hệ phái: Phật giáo Nam tông Khmer và Phật giáo Nam tông Kinh.

Tác giả làm việc tại chùa Bát Nhã, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008

     Phật giáo Nam tông Khmer là Phật giáo Nam tông được truyền vào đồng bào người Việt gốc Khmer, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Tây Nam bộ và có lịch sử lâu đời khoảng trên 500-600 năm. Phật giáo Nam tông Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long có mối quan hệ tu hành theo truyền thống với các nước Phật giáo Nam tông khác như Sri Lanka, Miến Điện, Campuchia, Lào, Thái Lan, đặc biệt là với Phật giáo Campuchia. Hiện nay Phật giáo Nam tông Khmer ở các tỉnh phía Nam có 462 ngôi chùa, 8574 sư sãi (thống kê năm 2018) (2), với số tín đồ là tuyệt đại đa số đồng bào dân tộc Khmer ở 15 tỉnh, thành phố trong cả nước (tập trung ở 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long).

Tác giả và Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển làm việc tại chùa Lưỡng Xuyên – Trà Vinh

     Phật giáo Nam tông Kinh là hệ phái Phật giáo Nam tông được truyền vào một bộ phận người Kinh. Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, Phật giáo nguyên thuỷ Việt Nam (Nam tông) được ông Lê Văn Giảng là bác sĩ thú y xuất gia với pháp danh Hộ Tông mở đầu. Lễ kết giới cho Chuôn Nath, Đức vua sư Campuchia vào 30 vị tỳ kheo được tiến hành gắn với việc đặt tên cho ngôi chùa đầu tiên ở Gò Dưa – Thủ Đức là chùa Bửu Quang, song chỉ có người Kinh đến lễ và do sư người Kinh trụ trì nên gọi đây là Phật giáo Nam tông của người Kinh, nhưng giới luật có phần không nghiêm ngặt bằng sư Nam tông Khmer.

     Đến năm 1944, ở miền Nam nước ta hình thành một hệ phái mới mang một số đặc điểm của Tiểu thừa và một số đặc điểm của Đại thừa, lấy tên là “Giáo phái Khất sĩ Việt Nam”, cơ sở thờ tự gọi là “Tịnh xá”. Giáo phái Khất sĩ gồm “Tăng giới Khất sĩ” và “Ni giới Khất sĩ”. Hiện nay hệ phái này có  1.395 vị Tăng và 1.863 vị Ni đang tu học, góp phần làm Phật sự tại 550 tịnh xá (thống kê năm 2020).

     Nghiên cứu quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam, chúng ta thấy Phật giáo Việt Nam có 3 hệ phái chính là: Bắc tông, Nam tông và hệ phái Khất sĩ.

     Trong hệ phái Bắc tông lại có nhiều tông phái khác nhau như: Thiền tông (dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu chi; Thiền Vô Ngôn thông; Thiền phái Thảo Đường được hình thành từ thời Lý và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang đặc trưng riêng của Việt Nam); Tịnh Độ tông, Mật tông mang bản sắc Việt Nam (hòa lẫn vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, pháp thuật, yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh,…).

Trải nghiệm nghi thức Phật giáo Làng Mai

     Trong hệ phái Nam tông lại có Nam tông Khmer và Nam tông người Kinh với những sắc thái văn hoá vừa giống nhau lại vừa khác nhau. Trong hệ phái Khất sĩ có Khất sĩ tăng và Khất sĩ ni.

     Nhìn chung, Phật giáo Việt Nam phát triển khá đa dạng cả về tông phái lẫn hệ tư tưởng tuy nhiên với những đặc điểm hoà đồng cùng nền văn hoá bản địa lại luôn tạo nên sự thống nhất, trong những tiêu chí không phân biệt tông phái khi hướng về đức Phật, cộng đồng và những giá trị của dân tộc.

CHÚ THÍCH VÀ TRÍCH DẪN

(1) Kết quả khảo cổ học gần đây tại Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc) và qua một số khảo cứu của các nhà khoa học đã khẳng định dấu vết của Phật giáo truyền bá vào cùng Tây Thiên (Vĩnh Phúc) từ những năm đầu Công nguyên, từ thời Hai Bà Trưng.

(2) http://tapchimattran.vn/dai-doan-ket/vi-tri-vai-tro-cua-phat-giao-nam-tong-khmer-o-tay-nam-bo-mot-so-van-de-dat-ra-va-giai-phap-39423.html

(3) https://tapchivanhoaphatgiao.com/luu-tru/4233#:~:text=Hi%E1%BB%87n%20nay%2C%20tr%C3%AAn%20c%E1%BA%A3%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc,s%E1%BB%B1%20t%E1%BA%A1i%20550%20t%E1%BB%8Bnh%20x%C3%A1.

Hàn Vũ Linh, chuyên đền nghiên cứu văn hóa Phật giáo, in trong cuốn Kế thừa các giá trị văn hóa Phật giáo để xây dựng và phát triển đất nước, nxb Lao động 2012

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan