CÁNH CÒ TRẮNG VÀ TÌNH YÊU LAO ĐỘNG

          Nói về tình yêu lao động, về tính cần cù, thông minh, khéo léo và sáng tạo trong lao động thì dường như dân tộc nào cũng tự hào về mình, nhưng dân tộc Việt Nam lại là một trường hợp đặc biệt.

          Piere Gourou, Paul Mus và nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài về Việt Nam sau này đã tỏ ra ngạc nhiên khi nhận thấy rằng, dường như các dân tộc khác trên thế giới thì thường tìm biểu tượng cho dân tộc mình bằng những con vật oai phong, dũng mãnh, nào sư tử, hổ báo, đại bàng, còn dân tộc Việt Nam, bên cạnh con vật “quốc bảo” là trâu thì ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, người ta lại thích nhấn mạnh về hình tượng con cò. Piere Gourou đã có lần giải thích cho học trò của mình rằng chỉ có những hiểu biết sâu sắc về người Việt Nam và nông thôn Việt Nam mới có thể hiểu rằng tại sao hình tượng con cò lại thân thuộc đến như vậy. Cánh cò trắng không chỉ là đặc trưng cho sự thanh cao, trong sạch mà còn là sự cần mẫn, nhẫn nại. Thân phận cò không phải không có lúc cực nhọc, khốn khổ và bi ai nhưng cũng không phải không có sự bền bỉ dẻo dai và quyết liệt.

Con cò, một biểu tượng của văn hóa Việt Nam, ảnh internet

          Việt Nam nằm trong khu vực địa lý được thiên nhiên và khí hậu dành cho sự ưu đãi đặc biệt. Những vùng đồi núi và trung du trải dài, đất đai đa dạng, những vùng đồng bằng màu mỡ với sự bù đắp từ phù sa những con sông lớn thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp. Bờ biển trải dài hứa hẹn cho người làm muối, đánh bắt tôm cá và hải sản. Những rặng núi cao không chỉ là những cảnh đẹp hùng vĩ mà bên trong còn chứa đựng biết bao bí ẩn của thiên nhiên. Khí hậu Việt Nam là nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều tạo điều kiện cho sự phát triển của thảm thực vật dày quanh năm, ảnh hưởng tốt tới sự trong sạch của môi trường và sinh thái.

          Với một thiên nhiên như vậy, dân tộc Việt Nam đã biết tận dụng những ưu điểm của nó để lao động. Thử đọc lại truyền thuyết về Âu Cơ dẫn 50 người con trai lên miền núi và Lạc Long Quân dẫn 50 người con trai xuống miền biển trồng lúa, dệt vải, chúng ta cũng có thể hình dung được công cuộc khai phá đất và chiếm lĩnh những vùng đồng bằng của người Việt cổ. Việc lập làng của người Việt từ thời đồ đá đã đánh dấu một bước ngoặt cơ bản, một cuộc cách mạng về kỹ thuật. Từ việc chỉ biết săn bắn, hái lượm theo mùa hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, người Việt đã chuyển sang trồng trọt và chăn nuôi, từ việc chỉ sử dụng nhiều công cụ thô sơ như ngọn lao, viên đá nhọn, người Việt đã biết sáng tạo ra những công cụ lao động mới phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp. Kỹ thuật canh tác đất và công việc trồng lúa nước đã thể hiện sự tác động một cách có ý thức của người Việt trong quá trình biến đổi tự nhiên. Những thành quả đầu tiên của lao động một cách có tổ chức, hạt gạo, bát cơm đã không chỉ đem lại một cuộc sống ấm no, đáp ứng nhu cầu về lương thực tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành nghề, các nền kinh tế khác, mà còn mang lại những giá trị tinh thần nhất định của người Việt. Lao động đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam từ đó.

Đồng quê Việt Nam, ảnh internet

          Tuy nhiên, như người ta đã từng nói nếu như bàn tay của thiên nhiên ban phát của cải cho con người thì bàn tay trái của nó lại giật lại. Thiên nhiên như đừa giỡn với con người Việt Nam, vừa hào phóng, vừa tàn nhẫn. Vùng núi cao luôn là nơi “rừng thiêng, nước độc” chứa đầy những cạm bẫy và thú dữ. Biển cả và những đợt sóng hung dữ làm đắm nhiều thuyền bè, cướp đi sinh mạng của bao dân chài lưới. Nó còn là nơi phát sinh những trận bão kinh hoàng luôn gây ra những thiệt hại lớn về người và của, đồng thời phá hoại môi trường. Thuỷ triều ở các sông lớn luôn là mối đe doạ đối với những người làm nông nghiệp. Hàng năm vào lúc “Thuỷ Tinh nổi giận”, nước dâng cao lại phá vỡ đê, cuốn hút đi tất cả những thành quả lao động làm cho những người nông dân mất trắng, (nhà cửa tan nát). Nhiều người đã phải bỏ làng đi ăn xin chết đói nơi đèo cao hút gió. Khi hậu cũng luôn thất thường, khi thì mưa kéo dài xói mòn hết đất trồng, khi thì hạn hán nắng như đổ lửa thiêu cháy đồng ruộng, hoa màu và cây cỏ. Biết bao nhiêu loại dịch tễ, sâu bệnh luôn phát sinh, phá hoại mùa màng, cản trở quá trình sản xuất.

          Thiên nhiên đã buộc con người Việt Nam, phải thích ứng với những ưu điểm và với sự khắc nghiệt, sự phá hoại lao động của nó. Mặt khác lao động nông nghiệp lại là loại lao động hết sức nặng nhọc và vất vả, phải trải qua bao nhiều công đoạn, nhiều thời kỳ, nhiều đòi hỏi của cây trồng. Để làm ra được hạt gạo, người Việt đã phải chịu đựng biết bao nhiêu gian khổ và hy sinh, phải đổ biết bao nhiêu công sức, mồ hôi và nước mắt. Những lúc nắng đến lột da, những lúc mưa phùn, gió bấc đến thấu xương, người nông dân vẫn phải chân lấm tay bùn làm việc dưới ruộng. Những công việc đắp đập, đào mương, làm thuỷ lợi, khai hoang, lấn biển, đắp đê phòng chống bão lụt không chỉ thể hiện sự đối chọi gay gắt giữa con người với thiên nhiên. Con người Việt Nam đã tự khẳng định sự tồn tại của mình đối với thiên nhiên bằng sự lao động cần cù nhẫn nại và đặc biệt là sự khéo léo.

          Cứ mỗi lần sông Hồng dâng nước lên cao, thì con người lại đắp đê cao hơn nữa từ đời này qua đời khác, xóm làng được bảo vệ và con người đã chiến thắng giống như chàng Sơn Tinh chiến thắng Thuỷ Tinh vậy. Sự lao động cần cù nhẫn nại và khéo léo đã làm cơ sở cho những tìm tòi sáng tạo trong lao động. Cha ông ta đã đúc kết các kinh nghiệm trong sản xuất truyền từ đời này qua đời khác. Đời sau bổ sung cho đời trước. Công cụ sản xuất được dần dần cải biến, sản phẩm lao động cũng phong phú và đa dạng hơn. Tất cả đã chứng minh rằng ở bất cứ hoàn cảnh cụ thể nào, người Việt Nam cũng có một sức mạnh dẻo dai về thể chất, bền bỉ về tinh thần trong lao động. Từ trong mối tác động qua lại giữa con người với tự nhiên, thông qua quá trình lao động cần cù, dũng cảm và sáng tạo, những thói quen lao động của người Việt Nam đã dần dần trở thành những kỹ năng lao động hoàn hảo. Sự tháo vát nhanh nhạy và khéo léo ở người Việt đã thể hiện rất rõ trong quá trình lao động.

          Theo Giáo sư Trần Văn Giầu: những người nước ngoài đến Việt Nam đã tỏ ra hết sức ngạc nhiên khi thấy người Việt sử dụng tất cả mọi cơ năng để lao động: “đầu thì đội, tay xách, lưng cõng, vai gánh, sườn ôm, chân đi nhanh thoăn thoắt” (1). Sự khéo léo không chỉ thể hiện ở những hoạt động cơ bắp đơn thuần, mà còn là sự linh hoạt, thích ứng của người Việt trước những hoàn cảnh cụ thể, biết sử dụng năng lượng, lao động một cách hợp lí để có thể tạo nên sức bền bỉ dẻo dai trong công việc. Bàn tay khéo léo của người Việt còn được in đậm trên những sản phẩm lao động hết sức tinh xảo cầu kỳ mang tính kinh tế và tính thẩm mỹ cao. Trống đồng Đông Sơn, các pho tượng cổ, kiến trúc đền chùa…đã trở thành những giá trị văn hoá tinh thần mang bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam.

          Tỉ mỉ và cẩn thận cũng là một trong những kỹ năng lao động của người Việt. Cha ông ta luôn có ý thức cẩn thận trong công việc. Chỉ ngay trong sản xuất nông nghiệp cũng thấy điều đó được thể hiện như thế nào :

          “Cày bừa thì kỹ càng lắm. Ở Bắc Việt và Bắc Bộ Trung Việt lớp đất không tốt nên thường cày cạn, dùng cày nhẹ và lưỡi nhỏ, còn ở Trung bộ và Nam bộ Trung Việt thì cày sâu cho nên dùng cày nặng và lưỡi to ” (2). Quá trình trồng trọt đòi hỏi sự công phu về sức lực và thời gian với các khâu cày, cấy, nhổ mạ, làm cỏ, chăm sóc, tỉa tốt cây trồng…năng xuất lao động phụ thuộc vào sực sắp sếp tổ chức 4 yếu tố: “nước, phân, cần, giống” và việc phân công lao động một cách trình tự hợp lý. Vì vậy mỗi con người ngay từ bé đã được rèn luyện kỹ năng này. Nó thể hiện ý thức trách nhiệm của người Việt trước công việc, trước lao động và trước cộng đồng.

          Đối với một thiên nhiên phong phú và đa dạng như nước ta, sáng tạo cũng trở thành một thói quen, một kỹ năng lao động. Nó được biểu hiện qua sự phát triển của các ngành nghề khác nhau, ở các vùng khác nhau tuỳ vào hoàn cảnh địa lý và môi trường thiên nhiên. Theo Piere Gourou đã có thời kỳ ở vùng châu thổ sông Hồng người ta ước tính được 800 nghề thủ công khác nhau, trong đó có những nghề đạt tới trình độ công nghệ với kỹ thuật tinh vi, phức tạp và sự phân công lao động khá cao. Kỹ năng sáng tạo còn là sự say mê tìm tòi các tri thức khoa học, áp dụng vào thực tiễn lao động sản xuất không ngừng cải biến, sáng chế công cụ sản xuất tiện lợi, nâng cao năng xuất lao động.

          Đối với công việc đồng áng cha ông ta đã biết phát huy các biện pháp luân canh, xen canh trồng lúa với trồng hoa màu vừa đảm bảo tính thời vụ, vừa bảo vệ đất, lại vừa cho những sản phẩm phong phú. Ví dụ như trồng lúa  luân canh với lại đậu đã được Lê Quý Đôn viết trong Vân Đài loại ngữ: “Phép làm cho ruộng tốt thì nên trồng đậu xanh trước đã thứ đến đậu nhỏ và vừng (Hồ ma)… Các thứ ấy trồng về tháng 5, tháng 6. Đến tháng 7, tháng 8 (thu hoạch xong) cày bừa, lật úp xuống làm ruộng, trồng lúa cho đến mùa xuân năm sau, thì mỗi mẫu thu hoạch được 10 thạch thóc. Những cây đậu và vừng được bừa cầy lâu như thế sẽ bón cho ruộng tốt ngang với bón phân tằm hay người” (3).

          Đối với thời tiết và khí hậu trong quá trình sản xuất, những câu tục ngữ và ca dao ông cha ta sáng tạo ra đã như là cuốn giáo khoa truyền thụ kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác luôn được sàng lọc bổ sung trong từng hoàn cảnh cụ thể nhằm đảm bảo năng suất lao động. Làm sao cho chúng ta có thể kể hết được sự đa dạng, đa tác dụng trong những đồ dùng sinh hoạt, những công cụ sản xuất phù hợp với từng ngành nghề nhất định, rồi cả sự phong phú của các món ăn Việt Nam. Phải chăng đó chính là thành quả của những kỹ năng của ý thức sáng tạo trong suy nghĩ người Việt.

          Từ những kỹ năng hoàn hảo trong quá trình lao động hàng ngày, từ những thành quả lao động đạt được từ những nỗi nhọc nhằn vất vả đã dẫn đến một tình cảm đặc biệt một ý nghiã sâu sắc trong đời sống tinh thần của người Việt dành cho lao động. Lao động đã không chỉ là một thước đo của nghĩa vụ, của công việc, của ý thức trách nhiệm ở mỗi con người trước sự tồn tại và phát triển của cộng đồng mà nó còn là những tình cảm tự nhiên gắn bó của người Việt với lao động : yêu quý lao động, tôn trọng lao động. Sự tôn trọng, yêu quý lao động được bắt đầu từ mảnh đất từng đem lại ấm no cho nhà nông, mảnh đất luôn được người lao động gìn giữ : “Tấc đất, tấc vàng” đến những công cụ sản xuất như con trâu, cái cày, cái cuốc những người bạn đồng hành thân thiết của người nông dân.

Chăn trâu, ảnh internet

          Chính do những tình cảm đối với lao động mà ngay cả những lúc nắng gió, những đêm khuya rét mướt, người ta vần không quản khó khăn vất vả động viên nhau trong lao động hát những bài ca ngợi lao động :

“Một đàn cò trắng tung bay

 Bên nam bên nữ ta cùng hát lên”

Rồi cả câu  như :

“ Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi ”.

          Giáo sư Nguyễn Hồng Phong đã phân tích câu thơ này như sau: “Thực ra rất là vất vả nặng nhọc, có điều với lòng yêu lao động, yêu đời, tâm hồn lạc quan, nghị lực chịu đựng gian khổ đã làm cho người ta vượt lên trên tất cả và vẫn tìm thấy nguồn vui, cái đẹp trong hoàn cảnh lao động gay cấn ” (4).

          Những sản phẩm được làm ra từ bàn tay lao động luôn được người Việt trân trọng, nâng niu. Cha ông ta luôn nhắc nhở nhau khi được hưởng những thành quả lao động thì không nên quên những lúc vất vả khó nhọc. đối với người Việt Nam việc vô tình đạp chân lên những hạt cơm rơi vãi có thể bị coi là một tội lỗi và bị lên án gay gắt.

Lao động nông nghiệp là cội nguồn văn hóa Việt, ảnh internet

          Do những tình cảm của người Việt đối với lao động: yêu lao động, tôn trọng lao động, mà lao động càng ngày càng ăn sâu trong tiềm thức trong tâm tư tình cảm của người Việt Nam một cách tự nhiên từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nó đã góp phần vào việc xây dựng, củng cố những tình cảm, những mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người, với tự nhiên và với xã hội. Quá trình lao động sản xuất cũng là quá trình mà những người lao động gắn bó với nhau, đồng cam cộng khổ, chia ngọt xẻ bùi, lá lành đùm lá rách. Yêu lao động, yêu những con người chân lấm tay bùn đã dẫn đến tình yêu quê hương làng xóm, đó cũng là nguồn gốc, là cơ sở của một tình yêu quê hương, đất nước, yêu dân tộc Việt Nam. Tình cảm đối với lao động của người Việt vừa giản dị, lại vừa thiêng liêng, vừa mang ý nghĩa giản đơn bình thường của cuộc sống hàng ngày lại vừa mang ý nghĩa to lớn và sâu xa. Một đứa trẻ Việt Nam ngay từ lúc nằm trong nôi đã được nghe những lời ru ngọt ngào của mẹ. “À ơi!… con ngủ cho ngoan để mẹ đi cấy để cha đi cày”. Lời ru con sâu sắc đó không chỉ thể hiện những tình cảm, tình thương yêu trong sáng và thấm đượm tình người, mà dường như còn trở thành một bài học giáo dục đầu tiên cho mỗi con người Việt Nam: Bài học về lao động, những giá trị lao động và người lao động.

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

(1) Trần Văn Giầu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của người Việt Nam, NXB Khoa học xã hội

(2) Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hoá sử cương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Tr 44.

(3) Lê Quý Đôn (1962), Vân đài loại ngữ Tập II, NXB Văn hoá, tr. 170.

(4) Nguyễn Hồng Phong (1963), Tìm hiểu tính cách dân tộc, NXB Khoa học xã hội, Tr 189

Hàn Vũ Linh, tháng 6/1995 (in trong cuốn Con người Việt Nam truyền thống – những giá trị đối với sự phát triển, nxb Lao động, 2010, in lại trên Tạp chí Truyền thống và Phát triển số tháng 5/2012)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan