Gia đình ra đời từ thời kỳ nguyên thuỷ, khi con người bước ra khỏi cuộc sống bầy đàn và bắt đầu xây dựng xã hội của mình. Trong lịch sử hình thành và phát triển, gia đình đã được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau và ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng đối với xã hội, cũng như luôn là đối tượng được quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và quản lý. Có người cho rằng gia đình là một thế giới khép kín nhưng thực tế, nó lại rất mở bởi các thành viên của nó luôn có sự tiếp xúc, trao đổi thông tin với thế giới bên ngoài. Mỗi nền văn hoá khác nhau, mỗi thời kì lịch sử để lại một kiểu gia đình với những nét đặc thù riêng biệt. Gia đình Việt Nam không nằm ngoài qui luật đó với những đặc trưng về quan hệ hôn nhân được hình thành từ điều kiện sống, lao động sản xuất và văn hóa nông nghiệp, lúa nước.
Yếu tố đầu tiên tạo nên gia đình chính là hôn nhân, tuy nhiên những quy định đối với hôn nhân trong xã hội truyền thống là rất ngặt nghèo do những ảnh hưởng của phong tục tập quán và hệ tư tưởng Nho giáo. Gia đình là đơn vị duy nhất được xã hội thừa nhận và cho phép tạo ra những công dân mới cho xã hội. Để hôn nhân được công nhận về mặt pháp lí thì trong các mô hình truyền thống trước đây, hai bên gia đình phải tiến hành rất nhiều các nghi lễ rườm rà: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kì và thân nghinh trong đó, tuỳ theo từng địa phương mà họ có những đóng góp cho làng như tiền, gạch, đá, mâm đồng…
Đa số trường hợp, tưởng như vô lí nhưng những quy định trong xã hội truyền thống cho thấy chính những người chuẩn bị kết hôn, lập gia đình lại không có tiếng nói gì trong quyết định hôn nhân khi quan điểm của Nho giáo là: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” nên cha mẹ là người trực tiếp định đoạt việc hôn nhân của con cái, có thể qua những người mối lái mà không cần hỏi ý kiến đương sự.

Bên cạnh đó, “lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống” là một trong những tiêu chuẩn mà trước đây bố mẹ trong gia đình người Việt chọn vợ chọn chồng cho con cái. Theo nếp nghĩ truyền thống, người con trai khoẻ mạnh là biểu tượng của gia đình, trụ cột kinh tế và có vai trò quan trọng trong việc tái sản xuất lao động cho xã hội. Trái lại người phụ nữ được ưu tiên chọn lựa làm dâu trong gia đình phải xuất thân từ các gia đình nề nếp, gia giáo, như vậy mới đảm bảo những đặc tính thuỳ mị, nết na, giỏi nữ công gia chánh và có thể đảm bảo hạnh phúc cho chồng con.
Ngoài ra, quan hệ hôn nhân trong xã hội truyền thống cũng thường được xây dựng trên cơ sở môn đăng hộ đối, có đẳng cấp gần nhau, thậm chí vị trí trong dòng họ cũng phải tương xứng. Mặc dù trong vấn đề môn đăng hộ đối ở Việt Nam không khe khắt như ở các nước coi nặng vấn đề đẳng cấp như Ấn Độ, Trung Quốc, song cũng rất ít các trường hợp ngoại lệ có những cuộc hôn nhân được thực hiện giữa gia đình quan lại phong kiến và các gia đình bình dân.
Cùng một đẳng cấp xã hội, vấn đề môn đăng hộ đối lại được nhìn nhận ở mô hình gia đình truyền thống một cách thông thoáng hơn. Điều này dựa trên cơ sở của các mối quan hệ giữa các gia đình, chủ yếu là quan hệ giữa những người bố mẹ với nhau.
Trong vấn đề hôn nhân truyền thống, nhiều gia đình còn cho thấy các bậc cha mẹ còn đính ước hôn nhân cho con cái ngay từ khi đứa trẻ còn chưa được sinh ra và đến khi lớn lên thì những người con cứ thế mà thực hiện các giao ước của cha mẹ.
Thực tế cũng cho thấy, ở xã hội trước đây nếu con cái chống lại sự chỉ định hôn nhân của cha mẹ họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn hoặc bị gia đình từ bỏ, hoặc đối phó bằng cách bỏ nhà, bỏ xứ. Những người con này đồng thời bị gia đình, dòng họ, làng quê coi là bất hiếu. Sự phản kháng trong vấn đề định đoạt hôn nhân của cha mẹ cũng chỉ thường có ở nam giới còn phụ nữ thì rất hiếm trường hợp có đủ can đảm để làm việc đó. Trong nội dung về hôn nhân, trước sức ép của dư luận xã hội và văn hóa làng xã, hôn nhân được coi là việc trọng đại của cả gia tộc bởi nó liên quan trực tiếp đến việc duy trì gia thống, liên quan đến danh dự của cả họ. Mặc dù cha mẹ là người quyết định nhưng họ cũng chịu sức ép từ phía các vị cao tuổi, có uy tín trong họ hàng. Người ta nêu ra việc nhà này nhà kia có con cái hư hỏng hay bị mọi người cười chê và căn dặn các gia đình phải tránh xa những chỗ như thế.
Có thể thấy rằng quyết định hôn nhân trong xã hội cũ hiếm khi dựa trên cơ sở tình yêu mà mục đích chủ yếu là duy trì nòi giống và phát triển kinh tế. Niềm vui của bố mẹ là con cái có gia thất và có sức lao động, càng nhiều người thì càng nhiều của. Các bậc cha mẹ thường chọn con dâu về là để đẻ con cho nhà chồng, làm lụng và coi sóc việc nhà cho cha mẹ chồng, nhất là những gia đình hiếm người. Những cô gái khoẻ mạnh có thể mang lại nhiều lợi ích về kinh tế như làm tăng thêm của cải cho nhà chồng, đảm đương các công việc mà nếu thuê người, gia đình đó sẽ phải tốn không ít. Nhiều khi con trai còn rất nhỏ tuổi nhưng được lấy vợ bởi bố mẹ cần có dâu để sai việc nhà.
Bên cạnh đó về phía gia đình nhà gái tiêu chí được lựa chọn là mong muốn của bố mẹ gửi con vào làm dâu ở những gia đình có tiềm lực kinh tế, quyền quý hoặc gia giáo. Tâm lý truyền thống cho rằng con gái đến tuổi lập gia đình mà không cưới gả thì sẽ để lại hậu quả xấu, khó lấy chồng và bị hàng xóm chê cười. Vì vậy có thể thấy tình trạng tảo hôn trước đây ở nước ta diễn ra khá phổ biến và với hầu hết người phụ nữ trong các gia đình đều được gả sớm, thậm chí có sự chênh lệch khá rõ về tuổi tác so với người chồng.
Ngoài hai tiêu chuẩn trên, nhiều nghiên cứu cho thấy trong tính đặc thù trong quan hệ hôn nhân tại các gia đình truyền thống trước đây biểu hiện qua việc cha mẹ chủ yếu muốn cuộc hôn phối của con mình với người cùng làng. Thực tế này đã phản ánh tinh thần tự trị làng xã là khá đậm nét trong truyền thống và nếp nghĩ của người Việt trước đây. Dường như sự tương đồng về điều kiện địa lý, phong tục, nề nếp sinh hoạt, văn hoá, được gia đình nhìn nhận là một tiêu chí quan trọng trong việc cưới gả, tác thành hôn nhân cho con cái.

Quan niệm về việc gả con cho người cùng làng đã cũng được phản ánh qua câu tục ngữ quen thuộc “có con mà gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho”. Có thể thấy bên cạnh sự phù hợp về điều kiện, phong tục làng xã, quan niệm gả chồng gần thể hiện tình cảm và sự quan tâm của cha mẹ trong gia đình truyền thống đối với cuộc hôn nhân của con cái. Khi gả chồng gần, các bậc cha mẹ vừa không mất con, vừa được nhờ vả phần nào lúc về già và nắm được diễn biến cuộc sống của con sau khi lập gia đình để có thể can thiệp, điều chỉnh kịp thời nhằm đảm bảo thanh danh cho gia đình và dòng tộc.
Như chúng ta đều biết, gia đình truyền thống trước đây không đề cao những giá trị của tình yêu. Mặc dù dân gian có rất nhiều ca dao, tục ngữ phản ánh về tình yêu tuy nhiên nó dường như chỉ biểu hiện tinh thần phản kháng mạnh mẽ của thanh niên với những lễ giáo hà khắc trong hôn nhân, còn trên thực tế có rất ít những cuộc hôn nhân trong xã hội truyền thống được thực hiện trên cơ sở của tình yêu và vượt ra ngoài khuôn phép của gia đình, lễ giáo.
Bên cạnh những nguyên nhân về hệ tư tưởng Nho giáo, vấn đề này còn có nguyên nhân biểu hiện qua cơ chế tự trị của mỗi làng. Luỹ tre làng được coi là biểu tượng ngăn cách giữa các đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống hành chính của nhà nước đồng thời cũng ngáng trở sự giao lưu giữa nam nữ thanh niên. Thêm vào đó, quan niệm “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” càng làm cho hôn nhân giữa các gia đình trong một làng ngày càng bó hẹp. Các quan hệ tiếp xúc bị hạn chế, khi “nam nữ thụ thụ bất thân” và mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi dư luận, các qui tắc và hương ước nghiêm ngặt của làng xã.
Có thể nhận thấy trong hôn nhân của xã hội truyền thống chủ yếu người ta lấy nhau trên cơ sở có sự chuẩn bị về kinh tế cũng như nhiều yếu tố khác phục vụ cho cuộc sống gia đình hơn là sự quyến luyến nhau. Nhờ đó mà quan hệ hôn nhân được hình thành, duy trì ổn định qua nhiều thế hệ và đảm bảo thực hiện các chức năng của nó.

