VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG

          Trong lịch sử, Phật giáo đã có sự tham gia tích cực vào lĩnh vực giáo dục đạo đức, khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội. Phật giáo chiếm một vị trí không nhỏ, góp phần hình thành và truyền bá các giá trị đạo đức trong xã hội. Chính sự tương hợp ở mức độ nhất định giữa Phật giáo với văn hóa dân tộc đã gắn kết đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống của người Việt giống như hai chữ “từ bi” trong đạo Phật đã hòa quyện với hai chữ “nhân nghĩa” trong tư tưởng người Việt. Có thể nói, Phật giáo đã gắn liền với văn hóa dân tộc Việt Nam trong công cuộc dựng nước và giữ nước, thẩm thấu vào mỗi trang sử của dân tộc.

          Trước khi đạo Phật du nhập, ở Việt Nam đã tồn tại một số tín ngưỡng dân gian như thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng, Thổ địa, thờ cúng tổ tiên…thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn trong hệ tư tưởng, văn hóa, con người Việt Nam. Tuy nhiên, Phật giáo cùng với sự có mặt ở Việt Nam đã giải đáp được những băn khoăn mang tính triết lý nhân sinh mà tín ngưỡng dân gian chưa thể giải đáp như: nguồn gốc con người, ý nghĩa cuộc sống, vấn đề họa phúc trong cuộc đời…Với những tư tưởng về “vô thường, vô ngã”, “từ bi, hỷ xả”, “nghiệp chướng luân hồi”, “nhân quả”…, Phật giáo đã phần nào đáp ứng nhu cầu về tâm linh của người dân lúc bấy giờ. Do đó, Phật giáo đã nhanh chóng tạo lập được cơ sở thực tiễn vững chắc, khẳng định sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ nhiều đời trên mảnh đất hình chữ S.

Bên cạnh truyền bá giáo lý, những giá trị và chuẩn mực đạo đức Phật giáo cũng có những tác động tích cực nhất định đến các giá trị đạo đức của dân tộc Việt Nam. Đạo đức Phật giáo đã góp phần bổ khuyết những giá trị người Việt, làm phong phú và sâu sắc thêm hệ giá giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.

Học tập giáo lý, ảnh internet

          Có thể nói, đạo đức thể hiện trong giáo lý Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, lối sống, phong tục tập quán của con người. Người Việt tiếp nhận đạo Phật không phải chỉ là nội dung triết lý ẩn chứa trong đó mà quan trọng hơn là những hành vi đạo đức mang tính thiện. Họ tiếp thu Phật giáo không phải với tư cách là một hệ tư tưởng với các giáo lý cao siêu hay các nghi lễ thực hành khó hiểu, phực tạp mà là những điều rất gần gũi với tâm tư, tình cảm của mình. Chẳng hạn Phật dạy công bằng, nhân ái, từ bi, hỷ xả, không oán ghét, hận thù…rất gần với tâm lý, bản sắc văn hóa Việt Nam. Phật giáo vì thế từ yếu tố ngoại sinh đã phát triển tương đối rộng rãi, hòa nhập với nền văn hóa dân tộc, tác động mạnh mẽ đến nếp sống của mỗi con người cũng như cộng đồng dân tộc.

          Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử quy định, người Việt cũn chủ động tiếp nhận Phật giáo ở những nội dung mang tính thực tiễn, vận dụng để giải quyết những vấn đề cuộc sống. Điều này phần nào giải thích hiện tượng người dân Việt tuy không hiểu tường tận tu tưởng “vô thường”, “vô ngã”, “thập nhị nhân duyên”, “tứ diệu đế”, “nghiệp báo luân hồi”…nhưng họ vẫn tự tin coi mình là tín đồ đạo Phật với suy nghĩ đơn giản nhất “Phật tại tâm”. Hầu như người dân Việt Nam nào cũng tin rằng: sống có đạo đức thì sẽ gặt hái được những điều thiện, điều tốt; sống vô đạo đức, trái với luân thường đạo lý ắt sẽ bị quả báo. Đại đa số người dân không thuộc kinh Phật ngoài mấy câu niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô bổ sư Thích ca à Di Đà Phật”hay “Nam mô Quan thế Âm Bồ Tát” song họ đều cảm thấy rất mãn nguyện, hướng tới Đức Phật với niềm tin mọi đau khổ, bất trắc sẽ được diệt trừ. 

          Phật giáo đã thực sự thực hành và đi vào đời sống đạo đức của người Việt thông qua chức năng giáo dục, hướng con người tới các giá trị tốt đẹp, nhân văn. Người Việt Nam tìm đến với đạo Phật không chỉ vì nhu cầu tâm linh, cảm thấy thư thái an lạc nơi cửa Phật mà còn vì những nội dung giáo dục đạo đức xã hội được ẩn chứa trong đạo lý Phật giáo.

          Trước hết, đối tượng giáo dục mà Phật giáo hướng tới trong lĩnh vực đạo đức xã hội chính là con người với tư cách là chủ thể chịu trách nhiệm đối với cuộc đời của mình.

          Thuyết nhân quả của Phật giáo đã chỉ ra rằng: con người tự chịu trách nhiệm về hạnh phúc hay khổ đau bằng hành vi của chính mình chứ không phải do may rủi, định mệnh hay thần linh trừng phạt. Giá trị của thuyết này chính là việc khẳng định con người làm chủ được cuộc sống của mình, đặt con người vào đúng vị trí, vai trò của nó trong xã hội. Trên cơ sở đó, đạo đức Phật giáo giúp con người con người phát huy hết những đặc tính ưu việt, giảm thiểu những nhân tố đưa tới sự bất lợi cho bản thân, gia đình, xã hội.

Điều này cũng có nghĩa là đối tượng của giáo dục Phật giáo là con người trong các hoàn cảnh sống của nó. Vượt ra ngoài sự phân biệt chủng tộc, ranh giới địa lý hay văn hóa, giáo dục Phật giáo lấy con người trong các mối quan hệ xã hội làm đối tượng cũng như là mục đích. Chính vì thế, giáo dục Phật giáo nhấn mạnh đến giá trị làm chủ bản thân của con người. Nỗ lực để hoàn thiện, tự mình đứng lên, không cầu cạnh hay bất cứ một áp lực nào khi bản thân đang là chủ nhân của chính mình thực sự. Bởi lẽ, một khi đánh mất giá trị làm chủ bản thân, con người dễ dàng bị cám dỗ trước những cạm bẫy của đạo đức suy thoái. Khi đặt con người ở vị trí trung tâm của học thuyết, Phật giáo cũng đồng thời khẳng định những giá trị mang tính nhân văn chứa đựng trong giáo lý Phật giáo.

Đạo Phật hướng đến việc giải thoát con người khỏi vô minh, phiền não, giác ngộ thành Phật. Xã hội lý tưởng mà Phật giáo hướng tới đó là thế giới Tịnh độ, bình đẳng, hòa bình an vui “tưởng y y chí, tưởng thực thực lai”. Tuy vậy, không phải đạo Phật khuyên con người hướng tới một thế giới an lạc, hư ảo nào mà đó chính là cuộc sống hiện thực này. Đối với đạo Phật, muốn thay đổi cuộc sống từ khổ đau đến an vui, hạnh phúc thì không gì hơn là chuyển hóa nội tâm theo luật nhân quả, lý duyên sinh của vũ trụ để an lạc hạnh phúc ở hiện đời.

Tu tập và hoằng pháp, ảnh internet

Như vậy, trong hệ giá trị đạo đức xã hội của người Việt, các giá trị điển hình là: tinh thần yêu nước, lòng thương người sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm. Trong các giá trị đó, nổi bật nhất là tinh thần yêu nước. Có thể nói, chủ nghĩa yêu nước là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền thống, gắn liền với tâm thức của mỗi người Việt Nam. Yêu nước, đó còn là đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân lên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc. Đối với mỗi người dân Việt Nam, tinh thần yêu nước là nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà cốt lõi của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, lòng tự hào cùng với ý chí bảo vệ lợi ích của Tổ quốc.

Nhiều giá trị đạo đức của Phật giáo đã gắn kết, hài hòa với tinh thần yêu nước tốt đẹp của người Việt và những giá trị đạo đức khác. Tư tưởng “cứu khổ cứu nạn” xuất phát từ tâm từ bi, hướng thiện của Phật giáo rất phù hợp với truyền thống “nhân nghĩa”, “đại nghĩa”, “tương thân, tương ái” của dân tộc Việt Nam. Không những thế, tư tưởng Phật giáo còn được cụ thể hóa qua trường phái Thiền tông Việt Nam coi là giải phóng con người khỏi những đau khổ trong cuộc sống thực tại, bảo vệ “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi con người.

Giáo lý từ bi của nhà Phật khi gặp gỡ, giao thoa với tinh thần nhân đạo của người Việt. Trong đối nhân xử thế hàng ngày, người Việt vẫn luôn tâm niệm “thương người như thể thương thân”, luôn trọng nghĩa tình, xem nó lên trên hết “vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy”. Chữ “tình” chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống đạo đức của người dân Việt Nam…Không chỉ giới hạn trong tình cảm gia đình, hàng xóm mà còn đối với cả kẻ thù. Trong lịch sử đã không ít trường hợp với những tù binh chiến tranh, luôn được đối xử tử tế, được mở đường hiếu sinh, được cấp đầy đủ quân lương khi về nước. Tinh thần thương người của dân tộc Việt Nam còn được nâng lên thành những chuẩn tắc trong bộ luật của Nhà nước…Đó thực sự là cơ sở thực tiễn quan trọng để những giá trị đạo đức Phật giáo hòa nhập, bén rễ trong trong văn hóa và thiết chế xã hội Việt Nam.

Triết lý của đạo Phật về Phật tính bình đẳng, tư tưởng từ bi đối với nhân sinh mang một giá trị tư tưởng, đức nhân bản sâu sắc, có giá trị tích cực đối với quần chúng nhân dân lao động. Người dân Việt Nam tìm thấy trong Phật giáo những giá trị đạo đức mang tính mẫu mực, phù hợp tâm lý, cốt cách người Việt. Đó là tư tưởng nhân đạo, tinh thần bác ái, tinh thần cứu khổ, cứu nạn, hướng lợi trừ hại, vì cuộc sống bình yên của con người. Có thể nói, nhờ sự tương hợp ở một mức độ nhất định giữa đạo đức Phật giáo và đạo đức truyền thống người Việt mà Phật giáo đã có những đóng góp trong việc hình thành tâm lý, đạo đức nhân cách của người Việt…

Ngay từ khi mới vào Việt Nam, Phật giáo đã tìm thấy sự hài hòa với các tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc. Đạo đức Phật giáo với học thuyết nhân quả, nghiệp báo, quan niệm nhân sinh, tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn…hoàn toàn phù hợp với tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng của người dân Việt Nam. Tư tưởng đạo đức Phật giáo đã kết hợp với những giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam, kiến tạo nên những đặc điểm riêng biệt của đạo đức Việt Nam. Mối quan hệ giữa đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống Việt Nam vì thế là mối quan hệ tương hỗ, gắn kết chặt chẽ lẫn nhau. Một mặt, Phật giáo ảnh hưởng đến đạo đức xã hội của người Việt, góp phần củng cố những giá trị truyền thống, mặt khác, đạo đức dân tộc đóng vai trò là nền tảng, chi phối đạo đức Phật giáo. Đạo đức Phật giáo muốn tồn tại, bén rễ thì chính Phật giáo đã đồng hành và thích nghi tuyệt đối với đạo đức, văn hóa dân tộc.

Đạo Phật có vị trí, vai trò  quan trọng trong thang bậc, giá trị đạo đức người Việt, đồng hành cùng với dân tộc trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nội dung giáo lý Phật giáo đã thẩm thấu, hòa nhập vào tâm thức người Việt. có thể khẳng định rằng, những tư tưởng về đạo đức của Phật giáo đã góp phần làm phong phú, sâu sắc hơn những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc gắn kết, hòa quyện, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc và nền văn hóa đặc sắc được định danh Việt Nam.

 Hàn Vũ Linh, Phan Thị Thu Hằng, chuyên đề nghiên cứu văn hóa, đạo đức Phật giáo tháng 6/2009

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan