Niềm tin, với tư cách là một giá trị, nó cũng có thể được coi là một trong những giá trị lâu bền và mang tính vĩnh hằng trong đời sống con người. Bởi lẽ ở thời đại nào cũng vậy, con người lấy niềm tin làm mục đích và ý nghĩa của cuộc sống. Chúng ta hãy thử tưởng tượng nếu không còn niềm tin vào tương lai, vào cuộc sống, thì con người sẽ mất phương hướng như thế nào. Con người cần có niềm tin để rèn luyện, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách trong thực tại, hướng tới tương lai và làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
Ngày nay, khá nhiều người ngạc nhiên và đặt câu hỏi tại sao ở trận đánh cầu Hàm Rồng, người nữ dân quân Ngô Thị Tuyển, với thể chất bé nhỏ của người phụ nữ Việt Nam lại có thể vác hai hòm đạn nặng 98kg chạy trên một quãng đường đê dài, tiếp tế đạn cho bộ đội ta bắn máy bay Mỹ. Ở đây, không còn là vấn đề của thể chất mà phải chăng chính giá trị đích thực của niềm tin, lòng yêu nước đã được chuyển hóa thành nguồn năng lượng cơ thể giúp người phụ nữ anh hùng này làm nên điều kỳ diệu mà ngay cả những người đàn ông bình thường, khỏe mạnh cũng không thể làm được.
Từ góc độ nhận thức, niềm tin là một giá trị, một động lực tiềm tàng cho ý chí và hành vi sáng tạo vô tận của con người. Ngay từ thời tiền sử, niềm tin là cái để con người thiết lập và phát huy trí tưởng tượng, bay bổng với những bài ca, nốt nhạc, với những hình vẽ kỳ thú trên các vách đá, với những câu chuyện truyền thuyết và thần thoại xen lẫn chất hiện thực và huyền hoặc, song cũng thấm đậm những giá trị con người và nhân văn sâu sắc. Cùng với sự phát triển của xã hội, con người bước ra từ niềm tin thần thoại để đến với thế giới hiện thực, từ bị động đến chủ động, từ tư duy quan sát, tổng hợp, tích lũy kinh nghiệm cho đến những ý tưởng khoa học, khám phá và cải tạo thế giới. Niềm tin vừa là thế giới nội tâm, tình cảm đa dạng và phong phú của con người, đồng thời là nguồn tri thức sáng tạo đưa con người vượt lên những giới hạn của chính mình trong sự phát triển của mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho đến quan hệ giữa con người với con người.
Không có niềm tin, con người rất gần với cái chết theo một nghĩa nào đó. Thực tế đã cho thấy, nhiều kẻ tội phạm bị tuyên án tử hình, trước khi thi hành án họ đã chết một cách thực sự mà chưa phải dùng đến một viên đạn hay một liều thuốc độc. Họ chết bởi lẽ không còn một niềm tin và hy vọng nào đối với cuộc sống. Hay nói một cách khác, chính niềm tin vào cái chết đã có thể giết chết thể xác và tâm hồn của họ mà không cần đến sự can thiệp của người khác.
Một ví dụ điển hình được đề cập trong bộ phim gần đây của đạo diễn Trung Quốc nổi tiếng Trần Khải Ca có tựa đề “Vô Cực” (tên tiếng Anh là The Promise) đã đem đến cho thế giới một thông điệp sâu sắc về cuộc đấu tranh giữa niềm tin và sự vô cảm, giữa sự hủy diệt và những khát vọng vươn đến giá trị muôn đời có trong niềm tin của mỗi con người. Nếu như ở nhân vật Vô Hoan, một niềm tin đơn giản bị đánh cắp cũng có thể biến anh ta trở thành con người lạnh lùng, lạc lõng đi giữa thế giới trầm cảm và hư vô, thì trái lại với từng bước chạy bằng chính niềm tin mãnh liệt từ trái tim mình, chàng trai ngu ngốc Côn Luân lại có thể đặt chân về quá khứ, hiện tại, tương lai và làm thay đổi chính định mệnh đã sắp đặt cho cuộc đời mình.
Không có niềm tin, không thể duy trì được pháp luật, trật tự, kỷ cương của xã hội, cũng như các biện pháp quản lý cụ thể của nhà nước đối với các hiện tượng và quá trình xã hội. Chúng ta còn nhớ bài học lịch sử nổi tiếng về câu chuyện vua U Vương (ở ngôi 781 – 771 TCN) đời Chu ở Trung Quốc đã dùng niềm tin của các nước chư hầu để mua vui cho tiếng cười của nàng Bao Tự và cuối cùng đó là sự trả giá không chỉ bằng sinh mệnh cuộc đời và mà còn kéo theo sự sụp đổ của một triều đại. Những lý do không phải không có lý khi chúng ta tìm thấy trong kho tàng của các học thuyết quản lý nổi tiếng từ phương Đông đến phương Tây đều nhấn mạnh việc gây dựng niềm tin, không chỉ với hàm ý là xây dựng đạo đức, chuẩn mực của con người mà còn là đạo đức, chuẩn mực của nhà cầm quyền, là nền tảng cơ sở của phép an dân, trị quốc.
Với ý nghĩa sâu sắc của giá trị niềm tin trong cuộc sống của nhân loại, niềm tin luôn gắn liền với quá trình giáo dục giá trị từ gia đình đến xã hội, từ khi con người lọt lòng cho đến khi chết đi. Chúng ta bắt gặp những lời giáo huấn của cha ông trong hàng loạt những câu tục ngữ, ca dao răn dạy về quá trình xây dựng, nuôi dưỡng niềm tin với tư cách là việc xác lập một giá trị để làm người như: “Có công mài sắt có ngày nên kim”, “Ai ơi có chí thì nên”, “Làm trai quyết chí tu thân, công danh chớ vội nợ nần chớ lo”, “Dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”. Thực tế cũng đã cho thấy giáo dục niềm tin không phải chỉ là mô tả những chiếc bánh vẽ của tương lai, mà bản thân tương lai luôn hiện hữu trong những điều kiện hiện thực, trong những kinh nghiệm của đời sống con người và xã hội. Nó trở thành nguồn hy vọng, những mơ ước về giá trị lạc quan một cách có cơ sở, cổ vũ cho con người vượt qua khó khăn và không ngừng cải tạo thực tiễn để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và xã hội.
Bên cạnh những mặt tích cực của niềm tin đối với đời sống con người, giá trị thực sự của niềm tin cũng được hiểu như một phạm trù mang tính tương đối trong quá trình nhận thức chân lý khách quan, trong những rắc rối của tâm lý, tình cảm và các mối quan hệ phức tạp giữa con người với con người.
Thực tế cho thấy, trong sự phát triển đa dạng của các chủ thể nhận thức và văn hóa, giá trị niềm tin của con người luôn có những cách giải mã khác nhau. Trong câu chuyện nổi tiếng “Hoàng tử bé” của tác giả Saint Exupery (1900-1944), một cậu bé đã cố giải thích với người lớn bức vẽ của mình về hình ảnh một chú trăn nuốt chú voi trong bụng nhưng những người lớn thì bức tranh đó vẫn chỉ đơn giản là một chiếc mũ phớt không hơn không kém. Tương tự như vậy, nếu là một bức tranh của danh họa Piccasso (1881-1973) hay một bản nhạc của thiên tài Beethoven (1770-1827) được dạo lên thì cũng có muôn ngàn cách giải thích về giá trị niềm tin khác nhau từ những người cảm nhận nó.
Trong niềm tin tôn giáo chẳng hạn, có hàng loạt những tu viện, nhà thờ được xây cất trên toàn thế giới, những lễ nghi, giới luật được đặt ra để bày tỏ tính tôn nghiêm, uy lực của tôn giáo hay mô tả lòng sùng kính của những tín đồ với chúa trời, nhưng cũng có không ít những tu sĩ cho rằng họ có thể tự đối thoại với chúa mà không cần một nghi thức hoặc thông qua một ai đó. Hàng trăm năm nay trên những đỉnh núi hoang vắng, phủ tuyết của dãy Himalaya, cũng có không ít những tu sĩ tự hành xác, khổ luyện với niềm tin một ngày nào đó họ có thể hòa đồng vào thế giới siêu nhiên, thần bí.

Niềm tin trong sự tồn tại đa dạng của thế giới nhận thức và hành vi của con người, nó luôn đứng trước những nguy cơ, thách thức cũng như những rắc rối không được giải mã đúng do con người tạo ra từ những khoảng trống trong chính nền văn hóa của mình. Giấc mơ của người Pháp đôi khi là ác mộng của người Mỹ và có thể là điều không bao giờ được tưởng tượng trong văn hóa của các nước Á đông. Tôn trọng niềm tin sẽ tạo ra đối thoại, học hỏi và chia sẻ văn hóa. Xung đột và mong muốn áp đặt niềm tin sẽ là nguyên nhân của bạo lực và chiến tranh.
Niềm tin của chú Cuội là lừa dối người khác, đó không phải là một vai diễn mà cũng có thể lại là một trong những bản chất của con người được Tuân Tử phác họa khi phân tích về cái ác. Sự lừa dối xuất phát từ những toan tính, mưu cầu lợi ích của cá nhân, nhóm xã hội này thông qua việc lợi dụng sự cả tin của các cá nhân, nhóm xã hội khác. Nếu như niềm tin có bao nhiêu sắc thái biểu hiện thì sự lừa dối cũng có bấy nhiêu cách biểu hiện tương tự như vậy. Quá trình nhận thức chân lý khách quan của con người ngày càng trở nên khó khăn hơn, không chỉ là vấn đề nội tại của nhận thức thông qua mối quan hệ giữa con người với thế giới mà phải cộng thêm cả chính sự lừa dối, ngụy tạo và những chân lý ảo luôn được tạo ra từ các mối quan hệ phức tạp giữa con người với con người. Chính vì vậy, niềm tin của con người với tư cách là chân giá trị trong nhận thức, nó luôn đứng trước những nguy cơ và thách thức, trước những hiểm họa luôn rình rập và tiềm ẩn xung quanh. Niềm tin giống như một báu vật giá trị nhất của con người nhưng cũng là thứ khó giữ nhất trước sự tấn công dù vô tình hay cố ý của những người khác.
Tung hoành gia là một trường hợp khá đặc biệt trong Bách gia chư tử ở Trung Quốc. Học thuật của trường phái này dựa trên nền tảng của nghệ thuật giao tiếp, du thuyết, hùng biện, dùng lý lẽ và ngôn ngữ để thuyết phục người khác làm theo mục đích của mình. “Tung hoành” có nghĩa là ngang dọc và để có thể đi ngang dọc qua những niềm tin của con người mà không gặp những trở ngại đáng tiếc nào, đã có không ít những thủ đoạn lừa dối, bằng chứng ngụy tạo tinh vi được sử dụng trong các vai diễn của các nhà ngoại giao thuần thục này. Cuộc chiến của hai bạn đồng môn Tô Tần (382-284 TCN), tể tướng sáu nước và Trương Nghi (373 -310TCN), tể tướng nước Tần đã được lịch sử mô tả như một cuộc chiến hư thực lẫn lộn và ở đó, có lẽ chỉ có chính họ, với tư cách là những người trong cuộc mới có thể nhận thức được đâu là giá trị thực.
Cùng với sự bùng nổ truyền thông của thời đại ngày nay, với các vấn đề kỹ thuật ngày càng trở thành một hệ tư tưởng mới có tầm ảnh hưởng sâu rộng với xã hội theo mô thức “mọi thứ đều là truyền thông”. Bên cạnh những mặt tích cực, những nguy cơ từ sự phát triển ồ ạt của truyền thông đại chúng đang trở thành mối đe dọa trực tiếp đối với các giá trị niềm tin của con người khi nó ngày càng trở thành một công cụ đắc lực và mạnh mẽ dẫn dắt công chúng trong sự thao túng của các quyền lực chính trị và kinh tế.

Giáo sư Doris.A. Graber đã cảnh báo cuộc chiến trong truyền thông đại chúng của thế giới hiện đại thực sự là một cuộc chiến hỗn độn và phức tạp, mà ở đó, tất cả đều nhắm vào việc tranh giành những giá trị niềm tin của con người. Những ví dụ từ cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991, không chỉ là chiến thắng của sự phô diễn, sức mạnh quân sự mà còn là cuộc chiến tổng hợp từ sức mạnh của truyền thông và khoa học kỹ thuật. Kênh truyền hình CNN không chỉ đánh bại các đối thủ để trở thành kênh truyền hình “uy tín” nhất thế giới trong việc đưa tin về cuộc chiến, mà mặt khác thứ vũ khí nguy hiểm, lợi hại bậc nhất này đã cho phép quân đội Mỹ kiểm soát thông tin toàn cầu, đưa ra rất nhiều thông tin sai sự thật, dẫn dắt niềm tin của công chúng theo quan điểm ủng hộ Mỹ bước vào cuộc chiến.
Với hàng loạt các lý do khác nhau, lịch sử đã chứng minh cùng với sự phát triển đa dạng của mình, niềm tin trong ý nghĩa truyền thông, giao tiếp và sự giải mã thông tin từ các hành vi cá nhân, đã cho thấy nó luôn bộc lộ và tạo ra những sai lầm về giá trị đối với chủ thể nhận thức. Từ khía cạnh văn hóa, giá trị niềm tin có mối liên hệ chặt chẽ với các chuẩn mực của cá nhân và xã hội. Các chuẩn mực vừa là những biểu hiện của sự phân loại, đúc kết kinh nghiệm trong nhận thức, vừa cơ sở tạo nên niềm tin, góp phần định hướng và điều chỉnh niềm tin của con người. Khi những chuẩn mực phù hợp với thực tế, nó tạo nên những giá trị đích thực của niềm tin. Còn ngược lại khi những chuẩn mực sai lầm, không phù hợp, chậm thay đổi, không thích nghi với những biến đổi trong hoàn cảnh thực tế, thì chính sự bảo thủ của các chuẩn mực là trở ngại lớn nhất để con người đến được với những niềm tin đúng đắn.
Tương truyền Tào Tháo (155 – 220) thời Tam quốc cũng có một niềm tin khá đặc biệt là không bao giờ nên tin bất kỳ ai xung quanh mình, nhưng cuối cùng chính niềm tin đó lại trở thành kẻ thù của ông, khiến cho ông thất bại trong trận đánh quan trọng nhất. Vua Hoài Vương nước Sở thời chiến quốc, thì lần nào cũng đoán trước cuộc thăm viếng của tể tướng Trương Nghi nước Tần với mục đích du thuyết và lừa dối mình, nhưng rồi cuối cùng lần nào cũng vậy, chính định kiến trong niềm tin vẫn luôn trở thành điều lừa dối ông, để ông mắc bẫy và ôm hận.
Cuốn “Đông chu liệt quốc” của tác giả Phùng Mộng Long còn ghi lại câu chuyện khá khôi hài của vua Tống Tương Công (?-637 TCN) trong trận giao tranh giữa hai nước Tống – Sở. Nhà vua đã cho thêu và treo lá cờ Nhân nghĩa trước trận, lệnh cho quân sĩ án binh bất động chờ quân địch đến bày trận xong thì mới giao chiến. Khi quân Sở sang sông, các mưu sĩ đã liên tục bày mưu cho nhà vua tập kích đối phương trong lúc hàng ngũ lộn xộn, chưa ổn định nhưng tất cả các lần đều bị nhà vua mắng thậm tệ, phủ nhận và coi đó là những hành động không nhân nghĩa và vô đạo đức. Khi quân Sở bày trận xong, thì quân Tống đã không còn tinh thần chiến đấu và thua trận. Nhà vua bị bắt nhưng cuối cùng vẫn không hiểu ra vì sao lá cờ Nhân nghĩa của mình lại không thể tạo ra một chiến thắng trước sức mạnh của bạo tàn. Câu chuyện của Tống Tương Công về niềm tin cũng giống như hình tượng điển hình về nhân vật Donkihote của Cervantec (1547-1616) hay AQ của Lỗ Tấn (1881-1936) đã được khắc họa sau này.
Chính trường hợp vua Tự Đức (1829 – 1883) của Việt Nam cũng không thể lý giải được tại sao khi kho sách của chúng ta chứa đầy những tứ thư, ngũ kinh, đạo đức của các bậc thánh hiền, quân tử đúc kết thành giá trị của lễ giáo, từ truyền thống gia đình cho đến cơ sở của một nền văn hóa bậc cao nhưng lại không thể chiến thắng được trước tầu chiến “phù thủy” và súng ống “ma thuật” của những kẻ “man di” phương Tây. Bi kịch của lịch sử Việt Nam khi đối mặt với người Pháp thế kỷ thứ XIX đã được xác định khi đặt trong niềm tin của ông vua Nho giáo nổi tiếng bậc nhất là uyên thâm và hay chữ này. Đây không chỉ là sự thất bại của quân sự, của khoa học công nghệ, của nền văn minh vật chất hay tinh thần thuần túy mà chính là sự thất bại của một niềm tin.
Những niềm tin sai lầm luôn bắt nguồn từ rất nhiều lý do trong thực tế, trong các mối quan hệ và tương tác phức tạp giữa con người với con người. Ở hoàn cảnh này, niềm tin đó có thể là đúng đắn, nhưng ở hoàn cảnh khác nó lại có thể là sai lầm. Câu chuyện cổ tích về vợ chàng Trương đã cho thấy một bi kịch về niềm tin sai lầm khi nó chỉ dựa trên kinh nghiệm và những sự phỏng đoán thiếu cơ sở. Chuyện kể rằng chàng Trương đi lính, người vợ hàng đêm đều dỗ con với cái bóng ở trên tường và bảo là bố. Khi chàng Trương trở về, đứa con đã không nhận bố và bảo rằng chỉ buổi tối bố mới đến. Chàng Trương đã nảy sinh nghi ngờ vợ mình ngoại tình và cuối cùng người vợ đã uất ức tự vẫn.
Từ góc độ tâm lý học, hình tượng của cái bóng trên tường vẫn luôn là một khoảng trống, một thế giới ảo treo lơ lửng trên chân giá trị niềm tin của con người mà ở đây ranh giới nhận thức giữa cái đúng và cái sai luôn mỏng manh và tương đối. Trong đoạn kết câu chuyện về truyền thuyết Loa Thành, những giọt nước mắt bị lừa dối của nàng Mỵ Châu đã chảy xuống mãi với thời gian để làm thành giếng Ngọc. Niềm tin của nàng đối với tình yêu và lòng chung thủy luôn là một giá trị vĩnh cửu, trong sáng như những viên ngọc thuần khiết lẫn trong nước giếng xanh mát, nhưng ở một hoàn cảnh không thực tế, những viên ngọc đó vẫn là biểu tượng cho bi kịch của những niềm tin sai lầm và chiến thắng của sự giả dối.
Xét trên bình diện của văn hóa, giá trị niềm tin trở thành chuẩn mực của văn hóa, xã hội khi nó là sự phản ánh niềm tin chung của cộng đồng, các nhóm xã hội rộng lớn, được công nhận và tạo nên những biểu hiện chung nhất của nền văn hóa. Với rất nhiều lý do khác nhau, niềm tin của người này luôn không phải là chính xác và phù hợp với niềm tin của người khác. Khi nền văn hóa xã hội ổn định được số đông chấp nhận, niềm tin tạo ra chuẩn mực, nhưng khi nền văn hóa không ổn định nó sẽ là quá trình con người tiến đến nghi ngờ và phá vỡ các chuẩn mực. Những xung đột về niềm tin với chuẩn mực văn hóa, giữa tiểu văn hóa với nền văn hóa chung cũng chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của điều kiện kinh tế – xã hội, trình độ phát triển của xã hội. Nó là nền tảng cho những đặc điểm và bản sắc của một nền văn hóa. Những sai lệch về niềm tin, mất niềm tin xuất hiện khi nền văn hóa không thể thích nghi kịp với những biến đổi về kinh tế, xã hội.
Chủ nghĩa Hiện sinh, cùng những tư tưởng, triết lý bi quan ra đời từ thế kỷ XIX, bùng nổ ở Pháp và châu Âu từ những năm 40 của thế kỷ XX đã phản ánh những tác động mặt trái của nền văn minh công nghiệp đến niềm tin của con người như thế nào. Nó được mô tả như một xâu chuỗi của thế giới quan hoài nghi đối với tất cả hệ thống giá trị đang hiện hữu xung quanh con người. Một mặt là những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ và các thành tựu phát triển kinh tế mà con người thu được, nhưng mặt khác nó cũng là biểu hiện của những sự lỗi thời và bất lực của hệ giá trị truyền thống trước những biến đổi mạnh mẽ của hiện thực xã hội. Điều đó đã không chỉ tạo nên những vòng xoáy của quá trình xung đột giá trị, nhiễu loạn giá trị, mà trước sự mất thăng bằng về tâm lý xã hội và mất quyền kiểm soát về văn hóa, bản thân các giá trị truyền thống cũng có thể biến hình ảnh của mình trở thành những điều phỉnh lừa, giả dối và phản giá trị. Trong bối cảnh này, người ta đã bàn cãi rất nhiều về những mệnh đề về “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”, “công bằng”, “nhân đạo”, “thế giới đại đồng”, cố gắng đi tìm một lý tưởng sống, một niềm tin trong những sự khủng hoảng và bế tắc của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, tư tưởng hiện sinh lại đi theo hướng ngược lại. Nó đẩy con người vào trạng thái bi quan với những tâm trạng cô đơn, lạc lõng, bơ vơ của nhiều thế hệ thanh niên đi tìm lại chân giá trị của cuộc sống. Với chủ nghĩa hiện sinh, niềm tin đồng nghĩa với sự bất lực và vô vọng trước những vấn đề của thế giới ngày mai.
Cuộc cách mạng tình dục, các phong trào hippi, phong trào nhạc Rock ở phương Tây cũng là ví dụ điển hình cho những phản ứng mạnh mẽ của thanh niên đối với những định chế áp đặt về niềm tin và giá trị sống. Cùng với sự nhiễu loạn giá trị và những bóng đen bao trùm của thế giới quan hoài nghi, nhiều phong trào thanh niên đã thể hiện sự mất phương hướng nghiêm trọng trong việc nhận thức giá trị đích thực của niềm tin. Tự do, giải phóng con người được thanh niên đồng nghĩa với lối sống ngang tàng, phóng túng, sự bất chấp và đập phá mọi chuẩn mực, giá trị của xã hội.
Nhiều nhà xã hội học cũng đã phân tích sự biến đổi của khuôn mẫu văn hóa trong nhạc Rock như biểu hiện sai lệch về niềm tin và lý tưởng sống. Thay vì những giai điệu Ballard thuần khiết, trong sáng trong bản chất nguyên sơ của nhạc Rock, khi niềm tin bị lung lạc, nhiều biến thể trong ca từ nhạc Rock được thanh niên ưa chuộng đã trở nên vắng bóng các giá trị nhân văn như tình bạn, tình yêu, gia đình, tổ quốc, nhân loại mà trái lại đó chỉ là hình thức quên lãng cuộc sống, cổ vũ cho ma tuý, tình dục, tự tử, chết chóc, quậy phá và bạo lực tập thể. Với những biểu hiện tiêu cực, nhạc Rock cũng có thể trở thành phương tiện để thanh niên rũ bỏ cuộc sống, chối bỏ hiện thực, biến hình ảnh con người trở thành vật thể, phản tự nhiên, bệnh hoạn với những giọng hát nam trở thành giọng hát nữ, với những lúc gào thét, lúc rên rỉ pha lẫn những âm vang chói chang của tiếng kim loại mà tưởng như con người không thể thoát ra khỏi tốc độ vận hành của những cỗ máy công nghiệp khổng lồ. Con người bị tha hoá tận cùng, khi không còn ranh giới giữa con người và đồ vật, sự mơ hồ trong những ý niệm về không gian, thời gian, giá trị nhận thức, lý trí và niềm tin vào chân lý.
Cùng với sự tồn tại của nền văn hóa xã hội, phải thừa nhận, giá trị niềm tin có thể đồng hành với chuẩn mực chung nhưng đôi khi lại không đồng nghĩa với sự tiến bộ và phát triển. Đây là đề tài tranh luận khá nhiều trên bình diện khoa học và nó luôn phải nhờ đến sự can thiệp, trọng tài của giá trị nhận thức chân lý khách quan. Những bài học lịch sử đã chứng minh rằng trong vấn đề nhận thức, những xung đột niềm tin luôn tỏ ra rất quyết liệt. Chẳng hạn như quan hệ giữa khoa học và thần học, giữa các hệ tư tưởng, học thuyết, giữa các nhu cầu, lợi ích của các nhóm xã hội. Tuy nhiên giá trị đích thực của niềm tin vẫn có thể được khẳng định qua hệ phân tích và quy chiếu từ các cặp phạm trù đúng – sai, thiện – ác, đẹp – xấu, tiến bộ – lạc hậu và sau cùng từ chính sự vận động khách quan của lịch sử. Nhân loại luôn đòi hỏi ở niềm tin những giá trị đúng đắn, tích cực, chân thực, phản ánh không chỉ lý tưởng nhân đạo và tiến bộ của con người mà còn chính chân lý khách quan.
Sự sai lệch về niềm tin cũng không thua kém gì việc không có niềm tin trong cuộc sống của con người và xã hội. Hình ảnh về một kẻ đốt đền, một Nêro, nhà thơ, bạo chúa thời cổ đại, hay sự xuất hiện của những tà giáo “Cổng thiên đường”, “Ngày tận thế” đã cho thấy sự sai lầm khi niềm tin trong những giới hạn của giá trị nhận thức đã đồng hành với chủ nghĩa bạo lực và phi nhân loại tính. Sự sụp đổ của chủ nghĩa quốc xã sau Thế Chiến thứ hai, sự tan rã và diệt vong chủ nghĩa diệt chủng theo kiểu “Khơme đỏ” sẽ không chỉ là những ví dụ điển hình, những minh chứng xác thực cho sự sụp đổ của những niềm tin sai lệch mà còn phản ánh quá trình đấu tranh không mệt mỏi của con người trong quá trình luôn tìm kiếm và vươn tới những giá trị muôn đời, giá trị đích thực và chân lý trong niềm tin.

Cũng chính vì điều đó mà biểu tượng của nhà khoa học Bruno (1548-1600) hay Galileo (1564-1642) vẫn vượt trên mọi tranh chấp và xung đột, những nhu cầu và lợi ích, những âm mưu và toan tính để sẵn sàng đến với cái chết một cách bình thản, khi trong giá trị niềm tin của các ông, chân lý trái đất đang quay quanh mặt trời vẫn luôn được khẳng định. Tư duy khoa học và cơ sở thực tiễn luôn là thứ vũ khí mạnh mẽ nhất để con người bảo vệ niềm tin của mình, đồng thời nó còn trở thành nguồn sinh lực để nuôi dưỡng niềm tin chính đáng và giúp cho con người vươn lên làm chủ cuộc sống.

Hàn Vũ Linh, in trong cuốn Niềm tin trong một thế giới đang biến đổi – một phân tích xã hội học về giá trị nhận thức của học sinh, sinh viên hiện nay, Nxb Khoa học và xã hội 2008
