Xuân về mỗi độ lại nhớ đến da diết cái không khí của Hà Nội xưa. Hồ gươm xanh tê tái trong cái rét đầu năm, tiếng pháo nổ râm ran, gợn âm thanh vào những con sóng nhỏ lăn tăn mặt nước hồ sương giăng biêng biếc. Sương rơi nhẹ trên tán cây ven hồ, rơi trên những tà áo dài muôn màu, muôn sắc.
Đứng ven hồ nhìn về phía Hàng Trống bỗng thấy rực lên những mảng mầu kỳ lạ của một không khí đầy xuân sắc của tranh và chữ ngày xưa
“Hồ Gươm sóng lụa bờ tơ liễu
Hàng Trống, Hàng Khay rộn bước người”
(Vũ Hoàng Chương)
Những ông đồ ngồi vừa căng thẳng vừa thanh thản khăn xếp áo the xung quanh ngổn ngang những giấy hồng và xác pháo. Những mảng tường treo kín những bức tranh dân gian đủ các dòng, phái khác nhau từ muôn hướng đem tới…Xuân Hà Nội xưa không thể không có tranh. Tranh dân gian xưa đẹp nhưng không đắt, nó phù hợp với mọi túi tiền của đủ các tầng lớp cư dân Hà Nội. Nhưng để chọn tranh và treo được tranh là cả một vấn đề lớn. Tranh là hồn con người, hồn nghệ sĩ.

Cũng giống như việc chon chữ để khai bút đầu năm vậy, người ta xem cách chọn tranh và treo tranh để đánh giá trình độ cảm thụ về cái đẹp và nghệ thuật của một cá nhân và một gia đình. Người giàu tiền nếu mua được những bức tranh đắt giá nhưng có thể vẫn bị coi là trưởng giả, kệch cỡm. Người nghèo khó chon những bức tranh rẻ tiền nhưng nhìn ra vẫn thấy rõ được sự thanh cao và khí tiết của cả người vẽ và người mua.

Tranh treo bán ở Hàng Trống xưa có nhiều dòng khác nhau như tranh Đông Hồ, tranh Kim Hoàng, Tranh làng Sình…nhưng đậm chất Hà Nội nhất phải là tranh Hàng Trống.

Dòng tranh dân gian Hàng Trống xưa xuất hiện vào khoảng trên 400 năm trước đây. Từ thế kỷ XIX, nó trở nên nổi tiếng và thường được làm tại phố Hàng Trống và một số phường cổ thuộc đất cũ của thôn Tự Tháp, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đây là mảnh đất nằm kề tiếp bên nhau của các con phố, Hàng Trống, Hàng Nón, Hàng Hòm, Hàng Quạt, Hàng Mành… vốn là nơi chuyên sản xuất các thứ đồ thủ công mỹ nghệ nổi tiếng của Thăng xưa, đặc biệt là những sản phẩm mang tính văn hóa và tâm linh như: trống, cờ, quạt, lọng, tranh thờ…

Cũng như các dòng tranh dân gian phổ biến ở nước ta, tranh Hàng Trống phản ánh lại những những sinh hoạt xã hội chung của người Việt Nam. Tuy nhiên, vốn xuất hiện tại mảnh đất kinh kỳ nên tranh Hàng Trống lại chứa đựng những sắc thái đặc trưng của mảnh đất này. Nó vừa phóng khoáng lại vừa nghiêm túc, đòi hỏi những mảng miếng kỹ thuật rất tinh tế và trang trọng chỉ có ở đất kinh kỳ hoa lệ.
Các nhà nghiên cứu thường cho rằng tranh Hàng Trống cho dù khá phong phú và đa dạng nhưng thường tập trung vào ba chủ đề chính: tranh sinh hoạt, có thể dùng để treo và trang trí hàng ngày trong nhà như tranh hoa lá, cỏ cây thiên nhiên, chim, cá rồng, phượng. Đây là dòng tranh miêu tả cuộc sống hàng ngày trong chốn dân gian. Những bức tranh nổi tiếng về đề tài dân dã như cảnh “Chợ quê” hay “Canh nông chi đồ” đến nay vẫn tạo nên những đặc trưng nổi trội, khiến cho tranh Hàng Trống trở thành “danh bất hư truyền”
Xem tranh sinh hoạt xã hội của dòng tranh dân gian Hàng Trống, không thể không nhớ đến những câu thơ của cụNguyễn Huy Lượng xưa trong Tụng Tây hồ phú, trong đó thơ, nhạc và họa đồng điệu, đồng cảm xúc, dựa trên một nền tảng chung của hồn cốt Thăng Long:
“Lễ nhạc ấy nghìn thu ít thấy
Phong cảnh này mấy thuở nào so”
Cũng là cảnh vui vẻ đầm ấm trong sinh hoạt xã hội nhưng tranh Hàng Trống có nhiều nét thanh cao, trau chuốt phảng phất chất liệu của con người Tràng an thanh lịch, với những những dáng vẻ nền nếp, thư sinh nho nhã…
Loại tranh thứ hai rất nổi tiếng của tranh Hàng Trống là tranh để thờ cúng, được dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng. Loại tranh này được treo trong các đền phủ, đặc biệt là đền thờ của Đạo giáo và đền thờ tín ngưỡng dân gian, tranh treo trong các đền thờ Mẫu, tranh Tứ Phủ, Bà chúa Thượng ngàn, Mẫu Thoải, Ngũ Hổ, các Ông Hoàng cưỡi cá, cưỡi ngựa, cưỡi rắn, Bà Chúa Ba, Đức Thánh Trần… thờ tại các cộng đồng làng xã của người Việt xưa. Những loại tranh thờ nói trên cũng được nhiều gia đình khá giả ở Hà Nội chạm lại bằng vàng, bạc thật treo trang nghiêm trong nhà.

Nói đến tranh Hàng Trống ta không thể không kể đến các loại tranh treo ngày Tết. Tranh treo tết thường rất phong phú về nội dung và đa dạng về cách thể hiện. Nổi tiếng nhất là các loại tranh có nội dung Chúc phúc, Tứ quý…
Ngày tết là những ngày vui vẻ đầm ấm, xum họp gia đình nên các nghệ nhân xưa cũng dành thời gian để sáng tác những bức tranh mang tính phóng khoáng, sáng tạo, thậm chí là phá cách. Ngoài những bức tranh chơi tết nổi tiếng trong các bộ Tứ Bình hoặc Nhị bình như tranh Tố nữ, Tứ dân, ngư, tiều, canh, mục, hoặc Tứ quý, các nghệ nhân còn sáng tạo ra rất nhiều nội dung mới.
Cũng là tranh treo ngày Tết cả nhưng, khác với các cô gái phóng đãng trong tranh Đông Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh mang đầy chất thôn dã, vui vẻ, hồn nhiên vén váy thật cao để “hứng dừa”, nhún nhảy và tung bay hết cỡ khi “chơi đu” ghen tuông ghê gớm trong những cuộc “đánh ghen”, các cô gái trong tranh Hàng Trống lại rất nền nếp, kín đáo, thanh cao. Bốn cô gái Thăng Long trong bộ tứ bình “tranh Tố nữ” sao mà đẹp đẽ, cao sang đến vậy, nét mặt vừa gần gũi lại vừa kiêu sa, những ngón tay mềm mại đầy nữ tính, nhưng đó là thứ nữ tính được dạy dỗ, giáo dục đã trở thành điêu luyện…
Tranh Tứ bình được treo trong ngày Tết cũng còn có thể được trình bày theo thể liên hoàn rút ra từ các tích truyện mà trong dân gian, người dân ai cũng biết như Thúy Kiều- Kim Trọng, Thạch Sanh chém mãng xà, Thạch Sanh cứu công chúa,Phạm công Cúc hoa, Nhị độ mai…
Những bức nhị bình thì vẽ những đề tài như “Lý ngư vọng nguyệt” (Cá chép trông trăng) hoặc “Chim công múa”, các tranh vẽ hoa cúc hoa mai, các cảnh sinh hoạt xã hội, ông Ngâu bà Ngâu chờ nhau, cảnh hội hè ngày xuân, múa rồng, đấu vật, chơi đu…
Khác với nhiều dòng tranh dân gian khác, tranh Hàng Trống có độ tinh xảo rất cao, đòi hỏi những tác giả vẽ tranh phải học tập, rèn luyện rất công phu cả về tay nghề và cảm xúc nghệ thuật. Kỹ thuật cơ bản được sử dụng trong tranh Hàng Trống cũng có những đòi hỏi rất cao. Các tranh vẽ được in từ mộc bản khắc gỗ để làm rõ những đường nét cơ bản. Việc vẽ tranh và tô màu cụ thể thì lại tùy thuộc vào cảm hứng của mỗi tác giả. Họ có thể dùng bút lông tô màu theo ý muốn. Quá trình lựa chọn cách tô và vẽ màu là một quá trình sáng tạo phong phú. Bởi vậy có thê chỉ từ một mộc bản gỗ, người ta có thể sáng tạo ra nhiều bức tranh có mầu sắc và sự rung cảm khác nhau.
Tranh Hàng Trống thường được in trên giấy dó bồi. Việc bồi giấy cũng là một công đoạn khá cầu kỳ và nghiêm túc. Những bức tranh có khổ lớn thường phải bồi rất dày va được cuốn vào những trục bằng gỗ hoặc bằng trúc để có thể treo trang trọng trong nhà, Có thể nói tranh Hàng Trống là tranh của chốn thị thành xưa, nó phù hợp để treo trang trọng ở các nhà danh giá, nhà quan lại, công chức, không chỉ vào ngày Tết. Bởi lẽ, tranh Hàng Trống khi đã được in ấn , tô vẽ và bồi giấy cẩn thận thì càng treo lâu nó lại càng trở nên đẹp đẽ hơn.
Hàng Trống ngày nay không còn nữa những dấu vết xưa. Vẫn là khí trời, sắc thái của mùa xuân lại đang đến cùng với sương sớm, lá xanh, liễu rủ, nhưng rồi cũng giống như hình ảnh của ông đồ già ngày xưa trong thơ của Vũ Đình Liên, những nghệ nhân của dòng tranh Hàng Trống nay phiêu bạt nơi đâu. Chỉ có nỗi cảm hoài là còn lại mãi mãi…
Hàn Vũ Linh, đăng trên Tạp chí Truyền thống và Phát triển số Xuân 2019
