MỘT VÀI NÉT VỀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM (PHẦN II)

        Với bất kỳ một dân tộc nào, sự hình thành, phát triển bản sắc, phẩm cách dân tộc đều xuất phát từ những điều kiện tự nhiên, lao động, văn hóa, bên cạnh đó là hoàn cảnh lịch sử, có thể là những “biến cố” có ảnh hưởng to lớn đến cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

        Ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo

      Chúng ta biết rằng, Nho giáo tuy đã được truyền bá tới nước ta từ thời Bắc thuộc nhưng bởi những quy định chặt chẽ, hẹp hòi và rất cực đoan của chính quyền phong kiến Trung Quốc đô hộ, mặt khác lại được sử dụng như một công cụ và vũ khí để áp bức, đồng hóa nhân dân ta, nên thời kỳ này Nho giáo chỉ có thể phát triển một cách chậm chạp, khó khăn và không được người Việt chấp nhận. Sau khi giành được độc lập, từ thế kỷ X trở đi, Nho giáo đã được nhìn nhận dưới một góc độ khác. Các triều đình phong kiến đã nhìn thấy được những ưu điểm nổi bật của Nho giáo so với các tư tưởng khác trong việc duy trì, quản lý xã hội và xây dựng kỷ cương đất nước. Chính vì vậy Nho giáo đã có cơ hội phát triển và trở thành quốc giáo một thời gian dài trong lịch sử.

        Năm 1070, với sự kiện Lý Thánh Tông (1023-1072) cho lập Văn Miếu thờ Chu Công (khoảng 1143 TCN) và Khổng Tử (551-479 TCN), đánh dấu một cách chính thức sự tồn tại của Nho giáo như một hệ tư tưởng thống trị, làm nền tảng cho mọi chính sách của nhà nước phong kiến. Nho giáo phát triển mạnh ở thời Trần không chỉ trong các chế độ quan chế, tổ chức xã hội mà ngay cả trong tư tưởng học thuật, khoa học, trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Đến cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh (1418-1428), đã phản ánh một thời kỳ mà các nhà Nho Việt Nam tập hợp đông đảo nhất dưới ngọn cờ giải phóng dân tộc của Lê Lợi. Những tư tưởng kiệt xuất của Nguyễn Trãi đã tạo nên tinh thần Nho Việt, không chỉ góp sức cho sự thành công trong công cuộc giải phóng đất nước mà còn đem đến thời kỳ vàng son cho việc quản lý xã hội của các triều đại phong kiến sau này.

        Nho giáo độc tôn và trở thành tư tưởng chính thống dưới triều Lê, đồng hành thịnh – suy cùng với triều đình. Thời Nho giáo thịnh, chí sỹ đua nhau học hành, thi cử để ra làm việc quan, giúp việc nước. Thời Nho giáo suy, nhiều nhà nho xuất sắc lại lui về ở ẩn, dạy học như trường hợp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi nhà Nguyễn lên cầm quyền đã khôi phục vị trí độc tôn của Nho giáo, tuy nhiên trong quá trình cận đại hóa, Nho giáo đã mất dần vị trí khi đối mặt với nền văn minh kỹ nghệ từ phương Tây.

Minh họa Khổng tử và các học trò, ảnh internet

        Bắt nguồn từ Trung Quốc, khởi đầu, chủ thuyết Nho học mới chỉ dừng lại chủ yếu là giai cấp trên thống trị và đội ngũ trí thức Nho gia thuộc lớp trên của xã hội, nhưng trải dần theo năm tháng, càng về sau, sự thẩm thấu của triết lí Nho học đối với nhận thức, quan hệ xã hội không ngừng được diễn ra và chi phối tất cả các quan hệ cá nhân, cộng đồng và các nhóm xã hội.

        Hán Cao Tổ (256 TCN-195 TCN) từng nói một câu nổi tiếng là “không thể ngồi trên mình ngựa để cai trị thiên hạ” khi ông nhận thấy những ưu điểm nổi bật nhất của Nho giáo là công cụ quản lý, là vũ khí lợi hại nhất để bảo vệ cho giai cấp thống trịmà không cần dùng tới bạo lực. Tư tưởng trung quân trong Nho giáo là một ví dụ điển hình, luôn được các triều đại phong kiến đề cao và coi là chuẩn mực đạo đức trung tâm của xã hội. Trong quan hệ người với người thì lại có những quy tắc đạo đức như tam cương ngũ thường, xác định “danh” và “thực” trong thước đo của các hành vi ứng xử. Khẩu hiệu“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” cũng là những chuẩn mực, là con đường phấn đấu, hi sinh của các cá nhân dựa trên nền tảng của “Trung quân”, “Sự quân”…Gia đình là tế bào của xã hội nên sự ổn định gia đình được bắt đầu quy định khắt khe đối với phụ nữ như “Tam tòng, tứ đức” hay như những quy định khác về sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ…

        Nhìn chung, Nho giáo hướng tới việc dùng đạo đức để ổn định xã hội, tuy nhiên, Nho giáo khi du nhập vào Việt Nam thì lại mang một sắc thái khác. Nét độc đáo của văn hoá Việt Nam là khi tiếp nhận văn hoá bên ngoài, thường tiếp thu những yếu tố tích cực, cải biến phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử và rồi lại Việt Nam hoá, cấu tạo lại theo cách riêng của mình.

        Có thể thấy ngay trong những thời kỳ đầu tiếp nhận Nho giáo, Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động khai thác những yếu tố thế mạnh của Nho giáo, thích hợp với việc tổ chức, quản lý và điều hành đất nước, củng cố chính quyền tập trung trung ương. Trước hết, nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là triều Lê và Nguyễn, đã học tập và vận dụng Nho giáo rất nhiều ở cách thức tổ chức triều đình, hệ thống pháp luật, quan chế. Thứ hai, hệ thống giáo dục, thi cử để tuyển chọn người tài bổ dụng vào bộ máy cai trị đã được triều đình phong kiến thực hiện ngay từ triều Lý, hoàn thiện dần vào thời Trần và hoàn chỉnh vào thời Lê. Thông qua giáo dục, tư tưởng Nho giáo đã xuyên suốt nền học thuật và văn hóa của giới trí thức và tầng lớp quan lại trên diện rộng.

        Mặc dù vậy, Nho giáo khi vào Việt Nam đã bị biến đổi không còn so với nguồn gốc nguyên thủy. Về mặt câu chữ, cách hiểu và giải thích kinh điển của người Việt thì đã khác nhiều so với các giải thích của các nhà Nho Trung Quốc. Nếu  như xã hội Trung Quốc rộng lớn và đầy biến động thì Nho giáo muốn hướng đến sự ổn định, thuần nhất, duy trì khuôn mẫu và trật tự xã hội dưới sự cai quản của nhà nước. Chữ Nhân trong Nho giáo được hiểu theo một ý nghĩa cứng nhắc, đòi hỏi muốn có Nhân phải thực hiện thông qua Lễ, Nghĩa và Chính Danh. Tuy nhiên, nền nông nghiệp lúa nước đã hình thành ở người Việt lối tư duy trọng tình, coi tình cảm là bản chất và thắng mọi lý lẽ. Người Việt tâm đắc chữ Nhân trong Nho giáo nhưng Nhân lại được hiểu giản dị là lòng thương người, sống và hi sinh vì mọi người. Tuy nhiên chữ Nhân của người Việt gắn với giá trị nhân văn nhân bản nhiều hơn là với dụng tâm đắc nhân, dùng nhân để mưu cầu cho những lợi ích khác. Ngay cả nhà Nho nổi tiếng như Nguyễn Du cũng hiểu chữ Nhân một cách thực sự giản dị và đời thường, như trường hợp ông nói đến suy nghĩ và hành động của nàng Kiều :

                   “Bán mình là hiếu, cứu người là nhân”

(Truyện Kiều).

        Tư tưởng Trung quân, là nền tảng để nhà nước phong kiến đề cao Nho giáo, đặt Nho giáo lên ngai vàng tư tưởng, tuy nhiên chữ Trung ở Trung quốc mang tính “Ngu trung”, biểu hiện qua sự trung thành tuyệt đối với Vua, thậm chí đó có thể là một ông vua bạo chúa. Hình ảnh Nhạc Phi được tôn thờ ở Võ Miếu chính là đại diện cho hình tượng của kẻ “Ngu trung” nhiều hơn là một người yêu nước.

Hình mẫu nhà Nho, ảnh internet

        Trường hợp “Ngu trung” ở Việt Nam hiếm hơn khi tư tưởng yêu nước và tinh thần đồng bào mới là hệ tư tưởng xuyên suốt, đồng hành cùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử. Người Việt tiếp nhận tư tưởng “Trung quân” trong tinh thần “Ái quốc”, “Vị quốc” chứ không phải “Trung quân” thuần túy. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa vua với lợi ích của đất nước, dân tộc thì chính đất nước, dân tộc mới là cái quyết định. Điều này đã được minh chứng rõ ràng trong các sự kiện lịch sử Lê Hoàn (941-1005) thay nhà Đinh, Lý Công Uẩn (974-1028) thay nhà Tiền Lê, Trần Cảnh (1218-1277) thay nhà Lý, Hồ Quý Ly (1336-1407) thay Trần. Ngay cả nhà Nho thuộc hàng “danh gia vọng tộc” như Nguyễn Trãi (1380-1442), Trần Nguyên Hãn (1390-1429)…cũng từ bỏ hẳn nhà Trần để theo người anh hùng áo vải Lê Lợi (1385-1433).  Ngô Thời Nhậm (1746-1803), Phan Huy Ích (1751-1822)…cũng sẵn sàng đã đứng về phía Tây Sơn mà coi vua Lê là thù địch. Phan Văn Trị (1830-1910) thậm chí tuyên bố: “chém đầu Tự Đức, moi gan Tự Đức, uống máu Tự Đức” khi Vua Tự Đức (1829-1883) ký hòa ước đang các tỉnh Nam Kỳ cho Pháp…Những sự kiện lịch sử đó đã phản ánh lăng kính động, phản ánh tính linh hoạt của người Việt trong việc chọn lọc  những giá trị của Nho giáo và loại bỏ yếu tố tiêu cực để làm lợi cho dân tộc. Ngay cả trong trường hợp chữ Nghĩa, người Việt cũng nói đến Nghĩa lớn nhiều hơn so với hình tượng Quan Công của Trung Quốc.

        Trong gia đình, có thể thấy Nho giáo được coi là cơ sở để tạo ra những giá trị gia đình Việt Nam truyền thống, từ các mối quan hệ gia đình, lễ nghi, chuẩn mực và giáo dục trong gia đình, nề nếp, gia phong. Tuy nhiên để nghiên cứu phân tích các giá trị đó, cũng cần phải đặt trong mối quan hệ với tư tưởng Việt Nho, cũng như sự kết hợp với phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian của người Việt. Tất cả những nghiên cứu đều cho thấy sức mạnh của Nho giáo ngấm trong lòng dân Việt nhưng đó thực chất lại là một quá trình tiếp biến văn hóa độc đáo và đặc sắc để tạo nên những giá trị đặc thù của con người Việt Nam.

     Ảnh hưởng của một số tư tưởng khác

     Bên cạnh Nho giáo, tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo cũng có rất nhiều ảnh hưởng đến việc hình thành những phẩm chất, giá trị của con người Việt Nam. Theo những cứ liệu sử học, Phật giáo được du nhập bằng đường biển bởi các nhà sư Ấn Độ, từ rất sớm vào khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên. Với hơn 1800 năm tồn tại và phát triển trên mảnh đất người Việt, Phật giáo không chỉ bám rễ, phát triển, mà còn góp phần tạo nên nền văn hóa dân tộc Việt Nam với nhiều giá trị đặc sắc, biểu hiện qua các tầng văn hóa khác nhau, từ nếp sống cung đình hoàng tộc cho tới văn hóa làng xã, cộng đồng.

     Ngay từ khi mới du nhập, Phật giáo nhanh chóng được người Việt tiếp nhận và nó phát triển rất nhanh do các giáo lý của nhà Phật (lòng từ bi, hỉ xả) khá phù hợp với bản chất người dân Việt Nam và phù hợp với phong tục tập quán bản địa. Mặt khác, trong thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo đã cung cấp một phần ý thức tư tưởng cho các phong trào chống đô hộ của nhân dân. Thậm chí, dưới các triều đại Lý, Trần, Phật giáo đã được tôn vinh và trở thành quốc giáo. Dưới thời nhà Trần, Phật giáo trở thành yếu tố đoàn kết toàn dân cùng với triều đình xây dựng và bảo vệ đất nước. Vì thế, Phật giáo có ảnh hưởng khá sâu sắc đến người dân nước ta và nhân cách trong Phật giáo cũng góp phần đáng kể vào việc hình thành nhân cách của người Việt Nam – đó là lòng yêu  thương con người, sống giản dị, vị tha và đặc biệt là linh hoạt, nhạy bén, chấp nhận biến đổi chứ không chỉ có tư tưởng bảo thủ như Nho giáo.

     Thực tế cho thấy từ lâu nay những tư tưởng Phật giáo đã hòa quyện vào tư tưởng dân tộc, giáo lý Phật giáo kết hợp với những phong tục, tín ngưỡng của nhân dân Việt Nam, phát triển trên tinh thần tiếp biến và dung nạp những giá trị bản địa của nhân dân Việt Nam. Trong những giai đoạn đấu tranh, giải phóng dân tộc,Phật giáo lại trở nên mạnh mẽ cùng với người Việt như là một loại vũ khí tinh thần bền bỉ, dẻo dai, chống lại sự xâm lược văn hoá, đồng hóa của các thế lực kẻ thù với những tôn chỉ “giữ chùa để giữ làng, giữ làng để giữ chùa”. Từ bi, bác ái, những Phật giáo Việt Nam không ru ngủ con người mà trái lại, tư tưởng Phật giáo đã góp phần làm nên bản lĩnh của người Việt Nam, của làng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, trước những thách thức nhiều kiểu loại, nhiều cấp độ, nhiều tầng bậc, cộng sinh cùng cư dân bản địa, cùng ngôi làng Việt, cùng đất nước Việt Nam.

Thiền, đặc trưng của Phật giáo Việt Nam, ảnh internet

         Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh tư tưởng “nhập thế” với sự minh chứng từ  những suy nghĩ và hành động của nhiều vị cao tăng tài trí, không chỉ với tấm lòng từ, bi, hỉ, xả, mà chính họ bằng những việc làm thực tiễn của mình đã được ghi danh vào lịch sử dân tộc như: Thiền sư Định Không (730-808), Cảm Hành (?-860), Pháp Thuận (914-990), Viên Chiếu (999-1090…và không thể không kể đến công lao to lớn của một vị tu sĩ Phật giáo, người đã góp phần quan trọng trong việc gây dựng nên vương triều phong kiến độc lập có quy mô văn hiến đầu tiên của Việt Nam, người giúp Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội), đó là Thiền sư Vạn Hạnh (938-1018)

        Có thể không thể kể hết những sự kiện, những “nhân duyên” đóng góp của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam nói riêng, sự tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam nói chung,  khi nói đến Phật giáo Việt Nam không thể không nói đến hình ảnh ngôi chùa – đó là một trong những biểu trưng văn hóa đặc sắc và quan trọng nhất của Phật giáo Việt Nam và con người Việt Nam.

        Đối với người Việt Nam, ngôi chùa từ lâu đã không phải là địa điểm sinh hoạt tôn giáo biệt lập, mà hoà nhập và là một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân làng Việt, của nhân dân Việt Nam. Bởi thế mà ngôi chùa vừa mang tính thiêng liêng, vừa mang tính gần gũi và bình yên. Chùa Việt Nam là sự hội tụ của tinh hoa Phật giáo, là nơi thuyết pháp, trao đổi học thuật, là sự kết hợp hài hòa của các loại hình nghệ thuật dân gian và phong thủy, nó đã tạo nên những sản phẩm vật chất và tinh thần quý giá đối với đời sống văn hoá Việt. Nhiều sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với ngôi chùa Phật giáo, xứng đáng được thu thập, xếp hạng và bảo tồn theo các tiêu chuẩn di sản văn hóa nhà nước đã qui định, đồng thời cần tiếp tục nghiên cứu và phát huy những giá trị của nó không chỉ phục vụ sự phát triển của Phật giáo mà còn cho cả các giá trị văn hóa của cả cộng đồng và các vùng miền.

        Không lâu sau sự du nhập của Phật giáo, Đạo giáo (Lão giáo) vào Việt Nam cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán của người Việt Nam. Mặc dù không có vị trí chính thống, nhưng tư tưởng, sinh hoạt của Đạo giáo vẫn luôn tồn tại trong dân gian và thậm chí cả trong cung đình.

        Đạo giáo có hai dòng phái cơ bản là Đạo phù thuỷ và Đạo thần tiên, trong đó, Đạo giáo thần tiên có ảnh hưởng tới một số nhà Nho học, trí thức, giai cấp thống trị, còn Đạo phù thuỷ thì đi sâu vào dân gian bởi những nét sinh hoạt tương đồng với phong tục thờ cúng,  tín ngưỡng, ma thuật. Mặc dù về tư tưởng Đạo giáo tìm kiếm con đường xuất thế, giải thoát con người vào cõi trường sinh, bất tử nhưng trên thực tế việc thực hành Đạo giáo lại khá phong phú về nội dung và hình thức. Từ thời đô hộ của nhà Hán, Đường, đã có một số quan lại cai trị Việt Nam theo Đạo giáo, nổi tiếng như Cao Biền. Đến thời Ngô, Đinh, tiền Lê, các vị vua Việt Nam đã không chỉ sùng Phật mà còn sùng Đạo. Bên cạnh việc nhà vua sắc phong những quốc sư Phật giáo thì cũng sắc phong cả những quốc sư Đạo giáo.

        Đạo giáo đi vào cuộc sống nhân dân qua việc thờ cúng Mẫu và các vị Thánh, sự kết hợp giữa yếu tố tôn giáo và văn hóa, tín ngưỡng bản địa. Các vị Thánh này có thể là những nhân vật có thật (thường là các anh hùng lịch sử có công với đất nước) hoặc có thể là những nhân vật tưởng tượng như thờ Mẫu. Khác với việc Phong Thần ở Trung Quốc, các vị “Thần”, vị “Thánh”  ở Việt Nam không ở cõi “trời” mà luôn ở cõi “người”, hiện hữu và gần gũi với nhân dân từ trong tâm thức cho tới cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày của con người. Dân gian ta vẫn truyền tụng câu nói: “Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ Mẹ” khi người anh hùng Trần Hưng Đạo (1228-1330) đã được coi như Đức thánh cha của dân và công chúa Liễu Hạnh đã trở thành đức thánh mẫu.

        Có thể nói, sinh hoạt Đạo giáo đem lại cho người dân lao động tinh thần đoàn kết, hữu ái, lạc quan trong cuộc sống thông qua tín ngưỡng dân gian, sinh hoạt lễ hội và đời sống tâm linh phong phú. Điều đó cũng góp phần tạo nên sự gắn kết không chỉ giữa các thành viên trong gia đình mà còn tạo nên sự gắn bó giữa gia đình với cộng đồng làng xóm của mình qua những đặc điểm về tập quán chung và đặc thù của các vùng miền.

Hàn Vũ Linh, chuyên đề, tháng 8/1995, in trong cuốn Con người Việt Nam truyền thống – những giá trị đối với sự phát triển, nxb Lao động, 2010

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan