Với bất kỳ một dân tộc nào, sự hình thành, phát triển bản sắc, phẩm cách dân tộc đều xuất phát từ những điều kiện tự nhiên, lao động, văn hóa, bên cạnh đó là hoàn cảnh lịch sử, có thể là những “biến cố” có ảnh hưởng to lớn đến cộng đồng, quốc gia, dân tộc.
Nền văn minh lúa nước
Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới đã chứng minh một cách khá thuyết phục là Việt Nam được nhìn nhận như một trong những cái nôi đầu tiên của lịch sử văn minh loài người với tên gọi: “văn minh lúa nước”. Trong quá trình hình thành và phát triển, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn và tương ứng với nó là nhiều giai đoạn phát triển khác nhau từ những cứ liệu khảo cổ được tìm thấy ở nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn cho đến nền văn hoá Quỳnh Văn (Nghệ An), Hạ Long (Quảng Ninh) rồi những nền văn hoá phát triển cao sau này đều mang dấu ấn đậm nét của người Việt trong mối quan hệ với cây lúa nước và nền sản xuất nông nghiệp.
Có thể thấy ngay từ cuối nguyên thuỷ, con người Việt Nam thực sự mở đầu công cuộc cải tạo tự nhiên với cây lúa bằng lao động sáng tạo của mình từ kinh tế thu lượm chuyển sang nền kinh tế trồng trọt, sản xuất và dự phòng. Từ nền tảng phát triển của loại hình sản xuất nông nghiệp, tổ chức gia đình, thị tộc được hình thành, cuối cùng là sự ra đời của nhà nước, mở đầu cho nền văn minh người Việt. Chúng ta đều biết rằng, sự thành lập của nhà nước Văn Lang đã đánh dấu một bước phát triển mạnh mẽ có ý nghĩa thời đại của lịch sử Việt Nam, mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước, đồng thời định hình xây dựng nền văn minh sông Hồng lấy nông nghiệp trồng lúa nước và tổ chức xóm làng làm cơ sở.
Dựa vào xóm làng, những cư dân Văn Lang đã không ngần ngại chịu thương, chịu khó, chăm chỉ, cần cù, khai hoang, làm thuỷ lợi, chống thiên tai, địch họa từ năm này qua năm khác. Những hình ảnh trên trống đồng, vách đá, những di vật khảo cổ cho thấy gia đình và cộng đồng gắn bó chặt chẽ với làng nước trong tư duy và trong hành động của người Việt ngay từ giai đoạn khai thiên lập địa của dân tộc Việt. Về mặt đời sống vật chất, tinh thần, cư dân Văn Lang cũng đã đạt đến một trình độ phát triển khá cao không chỉ trong lao động mà còn với những phong tục, tập quán tốt đẹp, những nghi lễ sinh hoạt, các phong tục như thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị anh hùng, thủ lĩnh nhằm khẳng định nguồn gốc, đề cao và biết ơn những người có công với cộng đồng, dân tộc.

Nền kinh tế sản xuất nông nghiệp lúa nước là đặc thù riêng của dân tộc Việt, là nền tảng tạo nên phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam. Những tư liệu lịch sử cho thấy ngay từ thời văn hoá Hoà Bình, người Việt cổ đã biết trồng lúa nước với những kỹ thuật canh tác cao, cùng với việc tổ chức chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các bằng chứng để khẳng định rằng bán đảo Đông Dương là một trong những quê hương đầu tiên của cây lúa nói riêng và nền văn minh nông nghiệp nói chung. Trong sách “Vân Đài loại ngữ”, Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đã tổng kết được vài chục giống lúa khác nhau vốn đều là các loại đặc sản, đặc thù riêng của nước ta. Về kỹ thuật, ngay từ thời Lạc Việt, ông cha ta làm ruộng “theo nước thuỷ triều lên xuống” (Giao Châu ngoại vực ký). Đó là phương pháp “thuỷ nậu”, thể hiện kỹ thuật sáng tạo và khá cao trong nông nghiệp : đưa nước vào ruộng, ngâm cho cỏ chết, đất nẫu rồi tháo nước ta. Lúc đầu “theo nước thuỷ triều lên xuống”, về sau thì đắp bờ giữ nước lại (1).
Thực tế cho thấy gắn với các loại hình nông nghiệp truyền thống, người nông dân nước ta xưa nay thường chọn ở những chỗ đồng thấp, đất bồi cho nên nông nghiệp là phương thức sống chủ yếu. Thực tế cho thấy ở những vùng đồng bằng những ruộng lúa thẳng tắp, nối dài tới đường chân trời là minh chứng cho việc người nông dân Việt Nam dường như đã không bỏ hoang một thước đất nào, dù là nhỏ nhất, nếu như những mảnh đất đó có thể cày cấy hay trồng trọt được. Ngay cả những đất phù sa mới bồi thêm, những vùng núi cao hoặc ven biển cũng đều có thể thấy những dấu vết canh tác nông nghiệp.
Kinh nghiệm về nông nghiệp trải dài qua hàng ngàn năm cũng đã khiến cho dân ta hiểu biết tinh tường, phân biệt đặc tính của các loại đất, từ đó xác định các thời vụ sản xuất cùng nhiều loại hình phong phú như Thâm canh, Luân canh, Xen canh…Theo sách Giao Châu ngoại vực ký của Trung Quốc (thế kỷ IV) được dẫn lại trong sách Thuỷ Kinh Chú (thế kỷ VI): “Ngày xưa Giao Chỉ khi chưa chia thành quận huyện, ruộng đất có ruộng lạc, ruộng đó theo nước thuỷ triều lên xuống, dân khẩn hoang ruộng đó mà làm ăn, nên gọi là lạc dân”. Một đoạn khác viết trong sách Di Vật Chí của Dương Phu (thế kỷ I): “Lúc ở Giao Chỉ mỗi năm trồng hai lần vào mùa hè và mùa đông” (2).
Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi nhưng do ở khu vực nhiệt đới gió mùa nên thiên nhiên ở Việt Nam cũng luôn biểu hiện sự bất thường, ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp. Lịch sử cho thấy việc canh tác, sản xuất không thể tách rời việc chống hạn hán, chống lũ lụt và ngăn nước mặn hàng năm. Do điều kiện khí hậu nước ta, mùa mưa tập trung hầu hết tổng lượng nước cả năm, nên thường dẫn đến lũ lụt thất thường. Có thể thấy những dòng sông đã đem lại cho người Việt những cánh đồng màu mỡ đầy phù sa nhưng nó cũng đem lại những trận lũ lụt kinh hoàng. Vì thế để chống chọi lại nó, con người phải đắp đê ngăn nước, cứu lấy mùa màng, làng mạc.
Từ khi hình thành nhà nước cho đến những giai đoạn sau này, các chính quyền cai trị đều luôn coi trọng việc xây đắp và bảo vệ đê điều coi đó là mấu chốt cho sự ổn định nền sản xuất nông nghiệp lúa nước. Đắp đê trong lịch sử là một quá trình bền bỉ kiên trì của các gia đình, cộng đồng người Việt từ năm này sang năm khác, từ đời này sang đời khác. Sách Quận Quốc Chí chép rằng: “Quận Giao Chỉ ở phía Tây Bắc huyện Long Biên có đê để giữ nước sông”. Đến đời Đường (867 – 875), Cao Biền đắp đê quanh thành Đại La dài 2125 trượng để ngăn nước sông. Đến giai đoạn độc lập, vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) đắp đê Cơ Xá để giữ đất kinh thành, vua Trần Thái Tông (1244 – 1258) sai quân các lộ đắp đê ở hai bên sông Nhị và đặt chức Quan Hà đê coi sóc đê điều (3).

Lịch sử còn ghi lại công trình đắp đê lấn biển nổi tiếng ở hai huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Hà Nam) do danh sĩ Nguyễn Công Trứ thực hiện đầu thế kỷ XIX đã bảo vệ được chục ngàn mẫu ruộng, đảm bảo cho đời sống lao động sản xuất của nhiều bà con nông dân.
Từ khi mới dựng nước cho đến thời Bắc thuộc và sau này là các triều đại phong kiến độc lập, đời nào cũng xem trọng nền sản xuất nông nghiệp theo tôn chỉ “dĩ nông, vi bản”. Các triều đại phong kiến kế tiếp nhau dựng lên ở kinh đô Đàn Nam Giao để tế thần trời, đàn Xã tắc để tế thần Đất và thần Lúa cho thấy “Văn minh lúa nước” của người Việt không chỉ biểu hiện trong cộng đồng mà còn ăn sâu vào hệ thống các thiết chế xã hội của quốc gia, dân tộc. Lễ Tịch điền là một ví dụ điển hình trong văn hóa người Việt, khi nhiều ông vua trong lịch sử hàng năm đã tổ chức các hoạt động cấy cày cùng với dân để nêu gương và cổ vũ cho sản xuất nông nghiệp.
Ở nước ta nghề nông là bản nghiệp, là hoạt động kinh tế chủ yếu, nhà nước tồn tại cũng dựa trên hình thức quản lý và thu thuế từ dân, cho nên chính quyền đời nào cũng thi hành chính sách khuyến nông, mở rộng đất canh tác. Đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á ở nước ta là đất đai từ xưa đều thuộc quyền sở hữu nhà nước đứng đầu là ông vua. Nhà vua như một “đại địa chủ” có quyền tối thượng về phân bố và sử dụng đất đai. Nhân dân chỉ là người được canh tác trên đất của nhà vua như những người làm thuê và có nghĩa vụ nộp thuế.
Đất đai là tài sản lớn nhất của vua, khẳng định chủ quyền, vị thế của triều đình trong việc cai quản đất nước, tuy nhiên vì nhà nước không trực tiếp sản xuất nên chính sách của triều đại nào cũng hướng đến việc đảm bảo làm sao cho người dân ai cũng có đất canh tác để đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ các nhu cầu cơ bản của triều đình.
Sau thời kỳ giành độc lập và xây dựng chính quyền trung ương, các vua nhà Lý bắt đầu thực hiện chính sách công điền, công thổ thu hồi ruộng và chia lại cho dân theo thời hạn vài năm một lần. Đời Trần Thuận Tôn, Hồ Quý Ly thực hiện cải cách định phép hạn điền, không cho phép các hoàng thân, quốc thích được sở hữu quá nhiều đất đai. Bất cứ ai có quá 10 mẫu ruộng phải nộp số dư làm ruộng công. Vua Lê Thái Tổ khi dẹp yên giặc Minh, muốn thưởng cho những người có công bèn định phép phân cấp công điền, công thổ cho quan lại, quân và người dân và định làng nào có nhiều ruộng đất, nhân dân ít thì phải để cho dân làng khác đến cày cấy, không được chiếm mà bỏ hoang. Đời Lê Dụ Tôn lại định lại phép chia công điền, công thổ, song cũng giữ lại lệ sáu năm chia một kỳ như cũ (4)
Như chúng ta đều biết, trong vấn đề ruộng đất, mọi quyền hành về đất đai đều nằm trong tay nhà vua, nhưng thường nhà vua ủy quyền cho triều đình, làng xã hoặc các tổ chức xã hội khác được quyền hưởng dụng, tức là vẫn dưới hình thức công điền, công thổ trong sự quản lý của bộ máy quan liêu. Những ruộng đất công ấy là của nhà vua ban cho làng xã được hưởng lợi, nên làng xã phải nộp địa tô cho nhà nước thường là cao hơn thuế ruộng riêng.
Theo luật pháp các thời kỳ phong kiến thì đất đai thuộc về vua, về nhà nước quản lý nhưng thực tế thì ruộng đất được phân cho nhân dân canh tác và lâu ngày mà không chia lại thì biến thành tài sản riêng có thể làm vật mua bán được. Khi nhà vua cần những ruộng đất ấy thì thường chiếu theo giá mà bồi thường. Nhưng nếu chủ ruộng đất bỏ không cày cấy và không nộp thuế nữa thì đất đai ấy lại thuộc về nhà nước.
Đất đai luôn là biểu tượng của chính quyền, vì thế mà các triều đại phong kiến luôn chú trọng đến việc khai khẩn, mở mang những vùng đất mới thông qua sự kết hợp giữa lao động sản xuất và chiến tranh. Có thể thấy khai đất, lập làng luôn là chính sách ưu tiên hàng đầu của các triều đình phong kiến. Đời Lê Thánh Tông (1470- 1497) đã đặt đồn điền để “mở mang nông nghiệp” định làm ba hạng: Thượng, Trung, Hạ. Sau sự kiện Lê Thánh Tông diệt Chiêm Thành năm 1471, việc khai phá ruộng đất của Đại Việt đã được mở rộng đến tận Bình Định – Phú Yên (5).
Từ thế kỷ XVI, sau sự kiện Nguyễn Hoàng xưng chúa ở phía Nam, đã không chỉ hình thành một thế lực chính trị mới ở miền Nam mà còn đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc khai phá, mở rộng đất đai của Đại Việt. Với tư tưởng tranh bá, đồ vương với họ Trịnh ở đàng ngoài, Chúa Nguyễn vừa tổ chức các hoạt động khai phá đất đai, lấn dần về phía Nam, đồng thời đã cho lập đồn điền trên khắp một dải từ vùng đất từ Thuận Quảng đến Nam Bộ.
Một trong những chính sách tiến bộ của chúa Nguyễn là nhằm khuyến khích việc mở rộng đất đai, Chúa Nguyễn đã cho địa chủ, quan lại và một số tướng tá nhà Minh trốn sang chiêu mộ dân lưu vong khai khẩn và biến những vùng đất sình lầy, rừng hoang ở Nam Bộ trở thành ruộng đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp,mở rộng chủ quyền về phạm vi lãnh thổ. Trấn Hà Tiên là một ví dụ điển hình cho phong trào khai khẩn đất hoang ở miền Nam với những công lao không nhỏ của cha con người Hoa : Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích. Sau này dòng họ Mạc đã được chúa Nguyễn cho cai quản ở Hà Tiên suốt một thời kỳ dài, cho đến khi vùng đất này trở nên ổn định.
Nhìn chung, lịch sử cho thấy những vấn đề về đất đai đã góp phần hình thành những giá trị tích cực của gia đình Việt Nam trong truyền thống, đặc biệt là các giá trị đối với lao động. Người Việt luôn có ý thức quý trọng ruộng đất, bảo vệ ruộng đất và các gia đình thường nhắc nhở nhau là “tấc đất, tấc vàng”, với hàm ý đất đai là thứ tài sản quý giá nhất, có ý nghĩa và quyền uy tối thượng nhất. Ý thức về ruộng đất cũng là cơ sở tạo ra các giá trị tôn trọng của công, tôn trọng các thành quả lao động, quá trình sản xuất nông nghiệp. Nó cũng là tiền đề cho việc hình thành các giá trị truyền thống người Việt, gắn liền với nền văn minh lúa nước.
Tổ chức xã hội theo làng- xã
Bên cạnh những đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, cách thức tổ chức xã hội theo kiểu cộng đồng làng xã cũng được các học giả nhìn nhận như một nhân tố cơ bản góp phần hình thành những giá trị đặc thù của văn hoá gia đình và cộng đồng người Việt.
Chúng ta đều biết rằng, cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên, vì vậy, người nông dân phải liên kết với nhau, dựa vào nhau mà tồn tại. Lịch sử cho thấy việc tổ chức làng xã theo địa bàn cư trú là một sự phát triển mới trong việc tổ chức xã hội, đặc biệt khi công xã thị tộc tan rã và chuyển thành công xã nông thôn thì các thành viên của làng không chỉ gắn bó với nhau bằng các quan hệ máu mủ, họ hàng ruột thịt mà còn bằng cả những quan hệ sản xuất, tổ chức xã hội và văn hóa.
Trước khi có nhà nước, ở nước ta, làng được coi là đơn vị tự trị hoàn toàn gắn với sự quản lý của các thị tộc. Trong thời kỳ này, người Việt cổ vẫn chưa có mục đích sống định cư lâu dài ở làng mà họ duy trì hoạt động sống mang tính du mục như nhiều dân tộc phương Bắc. Khi những vùng đất để trồng trọt hết màu mỡ thì họ lại di chuyển sang một vùng đất mới lại tiếp tục đốt nương làm rẫy và tổ chức cuộc sống tại vùng đất này. Làng Việt cổ gắn liền với quan hệ thị tộc, công hữu ruộng đất và nhiều tư liệu sản xuất khác do đó, các thành viên trong thị tộc có quan hệ bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động cộng đồng, đồng thời phân phối sản phẩm một cách bình quân. Vì vậy, mỗi làng được hiểu như một tổ chức xã hội, một nhà nước thu nhỏ.
Bằng việc chuyển từ săn bắt và hái lượm, đời sống du mục sang trồng trọt, chăn nuôi và đời sống định cư, nhất là sau những cuộc di dân lớn của người Việt xuống đồng bằng, người Việt đã đảm bảo cho mình môi trường lao động sản xuất, cung cấp và tích trữ lương thực ổn định hơn. Các đơn vị cư trú và sinh hoạt trên cơ sở nền kinh tế trồng lúa nước, hình thành nên những công xã nông thôn ổn định và thuần nhất thông qua đơn vị Làng. Sự liên kết, thống nhất giữa các làng đã dẫn đến sự ra đời của nhà nước.
Nhìn chung làng Việt Nam chủ yếu vẫn dựa trên sản xuất nông nghiệp là chính dù có tồn tại một số các mô hình làng nghề, làng chài, làng học hay làng buôn trong lịch sử… Về phương diện tổ chức, hình mẫu lý tưởng của các làng Việt Nam truyền thống đều là tự trị về chính trị, tự cung tự cấp về kinh tế, đồng thuận về xã hội và giá trị văn hóa, trong đó hai đặc tính được các học giả khái quát nhiều nhất đó là tính cộng đồng và tính tự trị.
Tính cộng đồng của làng Việt biểu hiện trong mọi mối quan hệ của công xã nông thôn, từ lao động, sản xuất cho tới đời sống tinh thần. Để ứng phó với môi trường tự nhiên khắc nghiệt, khai thác và cải tạo tự nhiên, đáp ứng nhu cầu của nghề trồng lúa nước, người dân Việt Nam đã liên kết lại với nhau tạo nên sức mạnh của nhân lực số đông, trao đổi công cho nhau, tương trợ, giúp đỡ nhau trong quá trình lao động, điều này đã giúp hình thành văn hóa cộng đồng trong người Việt. Biểu tượng của tính cộng đồng đã ăn sâu vào gốc rễ, giá trị của làng Việt qua những hình tượng chung được dân làng tôn thờ như cây đa, bến nước, cổng làng, đình làng, với sự sẻ chia và thống nhất của cư dân làng từ lao động đến giá trị …

Đình làng là một ví dụ điển hình cho ý thức cộng đồng ở làng Việt và nó nổi tiếng là một trong những nét độc đáo của văn hóa làng nói riêng và văn hóa Việt nam nói chung. Ở Bắc và Trung Bộ, dường như làng nào cũng có một cái Đình, là trung tâm hành chính của làng, nơi diễn ra mọi công việc quan trọng từ nghi lễ thờ tự, họp hành, sinh hoạt chính trị cho đến đời sống lao động, văn hóa tinh thần của cư dân làng. Đình làng từ phong cách kiến trúc cho tới quá trình tôn tạo, bảo quản các di vật là biểu tượng rõ ràng nhất cho tư tưởng thống nhất, trên dưới một lòng trong cộng đồng làng.
Bên cạnh tính cộng đồng được khẳng định rõ trong các quan hệ nội bộ của làng, tính tự trị cũng biểu hiện đặc thù của mỗi làng, phân biệt giữa làng này với làng khác và ngay cả “Làng” với “Nước”. Có thể thấy sau những lũy tre, biểu tượng cố kết của nông thôn truyền thống, mỗi làng Việt là sự tồn tại tương đối biệt lập, một tiểu vương quốc với đầy đủ các công cụ quản lý và các vấn đề nội tại, phức tạp của nó. Tình trạng này thể hiện quan hệ tổ chức này kéo dài trong lịch sử truyền thống của người Việt: “Phép vua” phân biệt với “Lệ làng”, “Đất vua” phân biệt với “Chùa làng” .
Là một đơn vị tự quản thay mặt nhà nước, quản lý và phân cấp công điền, công thổ, thậm chí phân chia các công cụ sản xuất cho các thành viên bản quán của làng, mỗi làng đều có sổ Đinh, sổ Điền để quản lý nhân khẩu, lao động và ruộng đất của làng, thống kê và xử lý những biến đổi hàng năm. Căn cứ vào sổ Đinh, làng sắp xếp vị thế xã hội của các thành viên trong làng, phân bổ đất đai, phân bổ nghĩa vụ trong cộng đồng và với nhà nước. Chỉ có những người có tên trong sổ Đinh mới được phân chia ruộng đất và những người có cùng vị thế xã hội trong làng mới được nhận phần ruộng đất ngang nhau. Chính việc phân bổ đất đai cho các thành viên trong làng đã làm cho tính cộng đồng của cư dân trong làng được củng cố vững chắc hơn phân biệt với dân ngụ cư hoặc người dân ở làng khác.
Về mặt cơ chế và luật pháp, ngay trong những thời kỳ đầu, tính tự quản của làng Việt cũng được xác lập một cách khá độc đáo thông qua hệ thống các văn bản Hương ước. Hương ước là một hệ thống các quy định về tổ chức của làng, hay có thể gọi là hệ thống các luật tục của làng xoay quanh lao động sản xuất và đời sống sinh hoạt, trong đó cũng mở rộng bao hàm những điều giáo huấn về thuần phong mỹ tục của làng. Hương ước được xây dựng trên cơ sở các mối quan hệ giữa các thành viên trong làng, gắn với những điều kiện địa lý, văn hóa, lịch sử đặc thù, có những khoản mục khen thưởng và cấm kỵ tồn tại giống như thiết chế bất di bất dịch trong cộng đồng làng.
Theo nhà nghiên cứu Cao Văn Biền, mô hình làng xã ở Việt Nam là khá đặc biệt so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Mỗi làng là một đoàn thể tự trị nằm trong phạm vi quốc gia, đối với nhà nước chỉ cần làm trọn nghĩa vụ nộp thuế, binh dịch, phu phen; ngoài ra có thể tự do xử lý công việc trong làng, nhà nước không can thiệp tới. Một học giả nổi tiếng người Pháp, P.Gourou, khi nghiên cứu về nông thôn Việt Nam cũng có nhận định tương tự về làng Việt truyền thống “làng là một cộng đồng tự quản, làng giải quyết tranh chấp của các thành viên trong cộng đồng, áp dụng thuế của nhà nước lên các thành viên này. Nhà nước không thương lượng với các công dân mà là với làng, và làng, một khi đã làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước thì có quyền quản lý lại chính mình theo phương thức tự trị” (6)
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu, làng ở Việt Nam là đơn vị cơ bản nhất của nông thôn và là đơn vị hành chính -quản lý nhỏ nhất của quốc gia, nhưng lại là tiềm ẩn sức mạnh to lớn, vì nếu tất cả các làng đều chống lại nhà nước thì không còn nhà nước nào tồn tại. Biểu tượng luỹ tre trở thành một sức mạnh bảo vệ, khẳng định chủ quyền độc lập tương đối của làng đối với khu vực bên ngoài. Làng dẫn dắt cá nhân không chỉ vì tính lợi ích mà còn ngay cả trong đời sống tinh thần, tâm linh và văn hóa. Do vậy, các cụ ta thường có câu “phép vua thua lệ làng” và trên thực tế “phép vua” vi phạm thì sẽ chỉ xử lý ở mức độ pháp luật trong khi nếu một cá nhân vi phạm “lệ làng” thì sẽ bị xử lý rất nặng, ngoài yếu tố pháp luật, còn có thể là dư luận, văn hóa và đạo đức. Thậm chí hành vi sai lệch so với chuẩn mực của làng, có thể khiến một cá nhân bị loại bỏ khỏi cộng đồng, điều đáng sợ nhất trong suy nghĩ và hành động của người Việt.
Lịch sử cho thấy, các triều đại, nhà nước phong kiến luôn tìm cách nắm chặt bộ máy làng xã để khẳng định vai trò quản lý thống nhất đối với cá nhân, nhưng những cố gắng này luôn thất bại trước lũy tre làng. Từ thời Trần, đến thời Lê, có không ít lần triều đình đã bổ nhiệm chức “xã quan” để cai quản làng xã theo tiêu chí của chính quyền trung ương, tuy nhiên các mô hình này đều thất bại và cuối cùng nhà nước vẫn phải để người đứng đầu làng xã là do dân cử. Trên thực tế, tính tự trị của làng ở đây lại biểu hiện một tinh thần cực đoan nhưng dân chủ trong tư duy người Việt.
Người Pháp đặt chân đến Việt Nam cũng đã cố gắng đưa ra các biện pháp nhằm xóa bỏ tính cố kết, tính tự trị ở làng xã nhưng cuối cùng cũng thất bại trước những lũy tre bao bọc làng xã của người Việt từ ngàn năm nay. Họ rút ra một bài học là phá bỏ tinh thần làng xã còn khó hơn cả việc chiếm được đất đai. Cách cai trị của người Pháp lựa chọn cuối cùng cũng giống như triều đình phong kiến các giai đoạn trước là tôn trọng tính tự trị và thỏa hiệp với làng xã.
Với những đặc trưng tồn tại như một cơ cấu tự trị và bền vững, xuyên suốt chiều dài lịch sử, bất kỳ một cá nhân, gia đình người Việt nào dường như luôn bị hấp thụ và bị chi phối, dẫn dắt từ hành vi cho tới giá trị bởi truyền thống làng xã. Truyền thống làng xã vừa vô hình, vừa hiện hữu, ảnh hưởng, chi phối, ràng buộc mọi người bằng những điều luật hoặc thành văn hoặc bất thành văn, nó cũng là những giá trị chung, ý thức chung của cộng đồng mà mọi người đều phải tôn trọng, tuân thủ. Chính vì vậy những ảnh hưởng của văn hoá làng xã đối với cá nhân và gia đình là khá lớn trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực.
GS. Trần Ngọc Thêm cho rằng: người Việt trước đây vừa có tinh thần đoàn kết, tương thân tương trợ lại vừa có óc tư hữu, ích kỷ và thói cào bằng; vừa có tính tập thể hoà đồng lại có óc bè phái, địa phương; vừa có nếp sống dân chủ bình đẳng lại có tư tưởng gia trưởng tôn ti; vừa có tinh thần tự lập lại vừa xem nhẹ vai trò cá nhân; vừa cần cù lại có thói dựa dẫm, ỷ lại. Tất cả những cái tốt, cái xấu ấy đều song hành tồn tại ở người Việt Nam và được giáo dục trực tiếp và gián tiếp thông qua những giá trị của gia đình và làng xã. Nó cũng được xuất phát từ hai đặc tính trái ngược nhau trong giá trị làng xã là tính cộng đồng và tính tự trị (7).
CHÚ THÍCH VÀ TRÍCH DẪN
(1). Lê Quý Đôn (1972) Vân đài loại ngữ, Tủ sách cổ văn – Uỷ ban dịch thuật
(2) Lịch Đạo Nguyên và các tác giả (2003) Thủy kinh chú sớ, NxbThuận Hóa
(3), (4), (5), Tác giả khảo cứu, tổng hợp từ một số sử liệu như An nam chí lược, An nam chí nguyên, Đại Việt sử ký toàn thư…
(6) P.Gourou (2004), Người nông dân châu thổ Bắc kỳ, NXB Trẻ
(7) Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: cái nhìn hệ thống – loại hình, NXB Tp.HCM.

