Trong điển tích văn học có rất nhiều chuyện cảm động về tấm lòng của những người tri kỷ. Bá Nha là một người đàn hay nhưng ông chỉ thích đàn cho một người bạn là Chung Tử Kỳ nghe. Khi Tử Kỳ chết, Bá Nha vứt đàn đi vì ông cho rằng không ai còn có thể hiểu được tiếng đàn của mình nữa. Có lẽ nếu không gặp Tử Kỳ thì cũng chẳng ai biết đến một người đàn hay như Bá Nha. Ở đây không phải là tiếng đàn thuần tuý, với những âm điệu có sẵn trên từng cung bậc mà là tiếng của tâm hồn, của sự hoà đồng giữa người nghe và người gảy, cùng vươn tới cái đẹp, cái cao thượng.

Tìm được sự đồng cảm với mình, quả thực không phải dễ dàng. Cũng có thể suốt cả một cuộc đời người ta không tìm được sự đồng cảm, cũng như không có người tri kỷ. Nhưng cũng có khi chỉ một vài khoảnh khắc thoáng qua ngắn ngủi, những con người xa lạ bỗng lại trở nên gần gũi nhau, cảm thông và chia sẻ cùng nhau biết bao điều không thể nói được thành lời. Đó là trường hợp của thi sĩ nổi tiếng bậc nhất thời Đường là Bạch Cư Dị (772 -846) với một người kỹ nữ về già bình thường. Cuộc gặp gỡ làm nên bài thơ bất hủ “Tỳ Bà hành” (Khúc hành đàn Tỳ bà) . Đây cũng là trường hợp hiếm hoi khi bài thơ đầy xúc cảm này đã được danh sĩ tài hoa thời Nguyễn, Phan Huy Vịnh dịch, chuyển thể song thất lục bát, tạo nên giá trị đặc biệt cho tác phẩm, lưu truyền mãi đến ngày nay
Trong các nhà thơ nổi tiếng đời Đường, Bạch Cư Dị được coi là một trong những người có cuộc sống và đường công danh lận đận nhất. Ngay từ nhỏ ông đã là người thông minh, ham học, sáng thì thơ phú, tối lại đọc sách, học hành quên ăn, quên ngủ, da dẻ sần sùi, mặt mày hốc hác như người già, hy vọng sẽ đem tài trai ra cứu nhân độ thế. Tài danh là vậy mà lại gặp thời thế nhiễu nhương. Thời kỳ ông sống lại là giai đoạn đen tối, thối nát đến tột độ của xã hội phong kiến đời Đường. Khắp nơi quan lại tham nhũng, khắp nơi loạn lạc, chinh chiến, khắp nơi nhân dân lầm than đói khổ. Chính vì vậy mà Bạch Cư Dị trở thành một con người biệt lập “đơn thương độc mã ”với hoài bão và tấm lòng nhân ái của riêng mình. Và cũng chính vì vậy, mà ông nhanh chóng bị chôn vùi dưới đáy xã hội như biết bao trí sĩ có tâm huyết lúc đó. Trong một lần bị cận thần rèm pha ông bị cách chức đẩy đi làm tư mã Giang Châu. Trên đường đi trong lúc tâm hồn trĩu nặng ưu tư, ông đã gặp người kỹ nữ bên bến Tầm Dương.

Người kỹ nữ tri âm của Bạch Cư Dị cũng là một nhân vật thật lạ lùng. Nàng là một người con gái phải chịu đựng nhiều đau khổ, bất hạnh, éo le trong cuộc sống. Khi còn trẻ nàng cũng xuất thân là một danh kỹ nổi tiếng vào bậc nhất của đất kinh kỳ : đàn hay, hát giỏi, lại thêm nhan sắc tuyệt vời đến nỗi :
“ Gã Thiện tài sợ phen dừng khúc.
Ả Thu nương ghen lúc điểm tô
Ngũ lăng chàng trẻ ganh đua
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn ”
Khi đứng trên đỉnh cao của sự tán thưởng, những lời chúc tụng trăng hoa, sự hãnh diện khi mỗi bước đi có hàng trăm kẻ giầu sang quyền quý, công tử danh tiếng quỳ dưới chân, người ta đâu nghĩ rằng cuộc đời luôn phũ phàng, thay đen đổi trắng và nó sẽ giành cho mình một số phận khắc nghiệt, đúng như cổ nhân từng nói: “Hồng nhan bạc mệnh”. Ngày tháng cứ thế trôi qua, biết bao lần cúc nở sen tàn, thu đi đông lại đến. Những bước chân, những tiếng xe ngựa dồn dập, những tiếng nói, câu cười náo nhiệt cùng lùi xa vào dĩ vãng. Người kỹ nữ cũng về già. Cái còn lại chỉ là ngôi nhà vắng lặng với một hình bóng cô đơn, ôm mối hận sầu… Nhan sắc tàn phai đã biến nàng trở thành một bông hoa héo, một chiếc lá rụng, một cánh béo dạt, một áng mây trôi, lạc lõng trên dòng đời để cuối cùng phải gá nghĩa cùng một khách thương gia làm nơi nương tựa lúc yếu đau. Nhưng thương gia cũng chỉ là một anh thương gia với bản chất lái buôn của mình: tham tiền, nhỏ mọn và ích kỷ thiếu hẳn những đức tính cao đẹp, nhân ái. Chồng bỏ nhà đi buôn năm này qua năm khác, lại một lần nữa cuộc đời đẩy người kỹ nữ vào nơi cùng quẫn của tâm hồn. Một con thuyền nhỏ vất vưởng, cô đơn chở đầy những u uẩn tiếc nuối trôi dạt trên bến Tầm Dương:
“Thuyền không đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng
Đêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen ”
Sầu muộn chứa chan nàng mang đàn ra gảy, mượn tiếng đàn giãi bày cõi lòng tê tái của mình. Tiếng đàn trở nên bi thương, mỗi khúc như lời kể lể với nỗi đau xót cuộc đời.
“Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng ”
Tiếng đàn khi vút lên trăng nín thở, mây ngừng trôi gió không thổi nữa, khi trầm lắng thiết tha đến nỗi sông quên cả chuyển động, cỏ cây đượm một mầu buồn cô quạnh. Vào lúc đó ánh trăng cũng thấp thoáng một bóng người viễn xứ, một kẻ cô đơn, độc hành trong đêm khuya hoang vắng, một ông quan tư mã bị bãi chức, bị đày đoạ – một nhà thơ giầu cảm xúc Bạch Cư Dị. Những hoài bão, khát vọng cao xa bị lãng chìm dưới đáy dòng nước. Tầm Dương, những tâm sự u uất không thể giãi bày đè nặng lên tấm thân gìa yếu và nỗi đượm buồn man mác của cỏ cây trên những cánh đồng hoang vu trong đêm khuya tĩnh mịch lồng vào nhau trong tâm tư của người viễn xứ.

Bất giác tiếng đàn từ nơi đâu rung lên những âm thanh kỳ diệu. Tiếng đàn đi mãi vào tận đáy tâm hồn của Bạch Cư Dị gây cho ông những cảm giác thật lạ lùng. Tại sao trong cuộc đời đầy rẫy những bất công, những lọc lừa và dối trá, những thất vọng và chán chường lại có được tiếng đàn thanh cao đến như vậy. Chính những xúc động mạnh mẽ đó đã đẩy người thi sĩ tìm đến với tiếng đàn mà ông khao khát được bày tỏ, được chia xẻ. Và thế là hai con người từ hai phương trời xa lạ, từ hai hoàn cảnh rất khác biệt : nhà thơ và người kỹ nữ tìm đến nhau. Họ chỉ gặp nhau trong chốc lát mà như đã chờ đợi từ lâu, chỉ thoáng qua rồi chia ly mãi mãi và vẫn thân thiết với nhau, khóc cùng nhau buồn cùng nhau, đau khổ cùng nhau :
“Mày chau tay gẩy khúc đàn
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn ”
Mỗi tiếng Tỳ bà ngân lên như những tiếng lòng của người kỹ nữ đến với Bạch Cư Dị. Nó bộc bạch cả những tâm sự thầm kín mà ông không thể nói được thành lời và cũng chưa bày tỏ được cùng ai. Nó trở thành những lời an ủi. Tiếng khóc cảm thông tha thiết, khóc cho những tài năng bị cuộc đời đen bạc vùi dập, khóc cho cái đẹp , cái cao thượng, cái trong sạch bị ngược đãi…Những cái trong cuộc đời vất vả, khó nhọc đầy gian truân và trắc trở người ta tưởng như có thể vứt bỏ đi mà không thể vứt bỏ được, lãng quên đi mà không lãng quên được. Tất cả đang sống dậy làm rung cảm con người, rung cảm những tâm hồn giàu cảm xúc, giầu lòng nhân ái.
Càng về cuối tiếng đàn càng vang lên những khúc biệt ly nức nở. Nó không còn giãi bày những nỗi buồn của người kỹ nữ nữa mà như nói hộ những tâm sự của quan Tư Mã Giang Châu đối với cuộc đời và nhân thế, đối với những việc ông đã làm và chưa làm. Ôi tài danh mà làm gì, trượng phu mà làm gì trước cuộc đời dâu bể. Tất cả sẽ qua đi nếu không đem lại được những gì cao đẹp nhất cho con người, vì con người. Nỗi đau của ông đã biến thành những giọt nước mắt chan chứa trên bàn tiệc:
“Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Lệ ai chan chứa hơn người
Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh ”

Sự gặp gỡ rồi có thể sẽ thành chia ly mãi mãi nhưng bữa tiệc nước mắt thì chẳng thể phai mờ trong tâm trí của Bạch Cư Dị và người kỹ nữ. Chính sự cảm thông kỳ diệu cuỉa ông đã làm tiếng đàn bay cao, trên cuộc sống hiện tại, đi đến những ước mơ, hy vọng ở tương lai. Phải chăng đó chính là sự sâu lắng nhất trong bản chất nhân văn của con người, là đỉnh điểm của những rung cảm muôn đời trong lời lẽ và vần điệu “Tỳ bà hành”.
Có lẽ vì vậy mà cùng với “Tỳ bà hành”, cái khoảng khắc ngằn ngủi và kỳ lạ của cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn từ ngàn xưa ấy đã trở thành vĩnh cửu, trở thành mối xúc động tới ngàn sau.

Hàn Vũ Linh, đăng trên Tạp chí Khoa học và Phụ nữ 1994
