4. Những vấn đề xã hội học về văn hóa thanh niên Việt Nam trong chuyển đổi xã hội và thời đại số
Trong thời kỳ bao cấp, khi đời sống vật chất còn khó khăn, thị trường văn hóa chưa phát triển, phương tiện truyền thông và giao lưu quốc tế còn hạn chế, những khác biệt về âm nhạc, thời trang, lối sống hay thị hiếu cá nhân tuy đã xuất hiện nhưng chưa có nhiều điều kiện phát triển thành những xu hướng văn hóa thanh niên. Từ Đổi mới, cùng với kinh tế thị trường, đô thị hóa, mở rộng tiêu dùng, hội nhập quốc tế và đặc biệt là gần đây với sự phát triển của internet, điện thoại thông minh, mạng xã hội, đời sống văn hóa thanh niên trở nên phong phú, phân hóa và biến đổi nhanh hơn.
Người trẻ ngày càng có nhiều lựa chọn về âm nhạc, phim ảnh, thời trang, giải trí, thần tượng, tiêu dùng và cách thể hiện bản thân, đồng thời tiếp xúc trực tiếp với các dòng văn hóa xuyên quốc gia và tự tạo ra những không gian văn hóa của riêng mình. Bởi vậy, vấn đề không còn là thanh niên Việt Nam đang “truyền thống” hay “hiện đại”, mà là họ đang lựa chọn, kết hợp và thương lượng như thế nào giữa các giá trị gia đình, cộng đồng, thị trường, văn hóa toàn cầu và những ảnh hưởng ngày càng mạnh của công nghệ số.
Từ thị hiếu, phong cách đến bản sắc: cái mới của thanh niên trong hội nhập
Những biểu hiện từng được xã hội học tiểu văn hóa quan tâm như thời trang, hình thể, âm nhạc, ngôn ngữ nhóm hay cách trình diễn bản thân đều có thể tìm thấy những dạng thức mới trong thanh niên Việt Nam. Nghiên cứu công bố năm 2023 ghi nhận một phổ hoạt động khá rộng gắn với xu hướng: 69,0% số người được hỏi từng tham gia các nhóm mạng xã hội, 67,8% từng tập gym hoặc ăn kiêng giảm cân, 65,7% từng tổ chức các chuyến đi và gặp gỡ bạn bè, 63,9% từng làm video để đăng lên Facebook, YouTube hoặc TikTok, 63,5% từng mua mỹ phẩm và sản phẩm làm đẹp, 63,4% từng mua sắm trực tuyến, 62,8% từng nhuộm tóc theo thần tượng, 61,2% từng ăn mặc theo phong cách thần tượng và 56,8% từng xăm, vẽ hoặc sử dụng hình dán trên cơ thể (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2024).
Các con số trên phản ánh mức độ từng tham gia, không có nghĩa những hành vi ấy đều diễn ra thường xuyên. Nhuộm tóc, xăm mình, theo thần tượng hay chú trọng làm đẹp trước hết cho thấy khuynh hướng gia tăng tự do cá nhân và nhu cầu thể hiện bản sắc của người trẻ. Nhiều biểu hiện từng bị các thế hệ trước xem là khác lạ hoặc lệnh chuẩn nay đã dần trở nên quen thuộc hơn trong đời sống xã hội.
Điều đáng chú ý về mặt xã hội học vì thế không nằm ở bản thân một kiểu tóc, hình xăm hay phong cách ăn mặc, mà ở sự thay đổi những chuẩn mực về cái được phép khác biệt, mức độ xã hội chấp nhận cá tính cá nhân và cách người trẻ sử dụng các biểu hiện văn hóa để xác lập mình trong quan hệ với người khác.
Trong đời sống thường ngày, sự hiện diện mạnh của môi trường số cũng không đồng nghĩa người trẻ rút khỏi các quan hệ trực tiếp. Điều tra thanh niên năm 2025 cho thấy 54,3% thường xuyên giải trí qua internet và 52,4% thường xuyên tham gia mạng xã hội, nhưng 50,1% vẫn thường xuyên dọn dẹp, chăm sóc gia đình và 47,0% thường xuyên gọi điện giao tiếp với gia đình. Chơi thể thao theo lịch cố định đạt 30,3%, còn sinh hoạt câu lạc bộ, hội nhóm là 28,4% (Viện Nghiên cứu Thanh niên, 2025).
Những chỉ báo này gợi ra một đời sống văn hóa lai ghép, trong đó trực tuyến và trực tiếp không thay thế nhau hoàn toàn mà ngày càng đan xen. Một cuộc gọi video về nhà vừa là hành vi số vừa là thực hành quan hệ gia đình, trong khi một cộng đồng trực tuyến có thể trở thành điểm khởi đầu cho những cuộc gặp và hoạt động ngoài đời.
Hội nhập quốc tế làm bức tranh ấy đa dạng hơn khi số liệu khảo sát văn hóa số năm 2023 cho thấy các sản phẩm được thanh niên yêu thích có xu hướng ngắn, trực quan và giàu tính giải trí, trong đó clip ngắn trên TikTok, Facebook đạt 56,2%, web drama 51,0%, video review quảng cáo, tiêu dùng và làm đẹp 48,8%, MV hoặc video ca nhạc 45,7% và review phim 44,2% (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2024). Trong các sản phẩm văn hóa nước ngoài, Hàn Quốc là một nguồn ảnh hưởng nổi bật với clip ngắn 29,6%, nội dung review và làm đẹp 27,2%, web drama 25,2% và MV, video ca nhạc 24,8%. Từ phim truyền hình, âm nhạc đến thời trang, mỹ phẩm và ẩm thực, làn sóng văn hóa Hàn Quốc cho thấy một xu hướng tiếp nhận xuyên biên giới khá rõ ở người trẻ Việt Nam.
Tuy nhiên, hội nhập không đồng nghĩa với sự thay thế một chiều của văn hóa bên ngoài đối với văn hóa trong nước. Cùng khảo sát cho thấy khi tiếp cận nội dung giới thiệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, thanh niên bị thu hút khá mạnh bởi những hình thức được trình bày theo ngôn ngữ truyền thông mới như truyện hoặc sách nói 63,7%, video clip 58,0%, nội dung có nhân vật nổi tiếng hoặc nhân vật lịch sử tham gia 54,8% và MV ca nhạc 51,8% (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2024).
Điều này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở việc người trẻ “thích truyền thống” hay “thích ngoại lai”, mà ở cách chất liệu văn hóa được kể lại, trình diễn và kết nối với thị hiếu đương đại. Một thanh niên có thể nghe K-pop, xem phim Hàn Quốc, mua sắm trực tuyến nhưng đồng thời vẫn bị hấp dẫn bởi một câu chuyện lịch sử Việt Nam nếu câu chuyện ấy được thể hiện bằng hình thức phù hợp.
Bản sắc của thanh niên hiện đại không hình thành từ một hệ văn hóa duy nhất, mà từ sự lựa chọn và kết hợp nhiều nguồn ảnh hưởng khác nhau. Sự phát triển của các nền tảng số làm quá trình ấy diễn ra nhanh hơn, trực quan hơn và lan truyền rộng hơn. Thanh niên Việt Nam vì thế vừa tiếp nhận các xu hướng toàn cầu, vừa chủ động chọn lọc, biến đổi và bản địa hóa chúng trong đời sống của mình.
Từ tiếp nhận đến sáng tạo: cơ hội mở rộng nhưng năng lực phân hóa
Một thay đổi quan trọng của thời đại số là ranh giới giữa người thưởng thức và người sản xuất văn hóa trở nên linh hoạt hơn. Các điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên cho thấy khả năng tiếp cận rộng chưa tự động chuyển thành năng lực sáng tạo tương ứng. Ở hầu hết các lĩnh vực được khảo sát năm 2023, tỷ lệ xem cao hơn rõ rệt tỷ lệ chia sẻ, bình luận và đặc biệt là sáng tạo nội dung. Điều này giúp kiểm chứng cho luận điểm ở phần 2 rằng công nghệ hạ thấp một số rào cản tham gia, nhưng không xóa bỏ những khác biệt về kỹ năng, thời gian, vốn văn hóa và cơ hội.
Bảng 2. Các hình thức tham gia một số lĩnh vực văn hóa số của thanh niên năm 2023
Đơn vị tính: %
| Lĩnh vực | Xem | Chia sẻ, bình luận | Sáng tạo, sản xuất nội dung |
| Âm nhạc | 76,5 | 37,7 | 16,5 |
| Điện ảnh | 56,3 | 15,9 | 30,5 |
| Ẩm thực | 53,0 | 33,4 | 13,6 |
| Du lịch | 52,8 | 33,2 | 14,8 |
| Thời trang | 52,4 | 29,3 | 13,4 |
| Sách truyện | 50,8 | 25,8 | 13,1 |
Nguồn: Đặng Vũ Cảnh Linh (2024)
Âm nhạc là ví dụ rõ nhất: 76,5% xem nhưng chỉ 16,5% sáng tạo nội dung. Với sách truyện, hai tỷ lệ tương ứng là 50,8% và 13,1%. Riêng điện ảnh có tỷ lệ sáng tạo 30,5%, cao hơn các lĩnh vực khác, nhưng báo cáo gốc lưu ý chỉ báo này bao gồm cả việc tạo các clip từ hình ảnh và video, không nên hiểu theo nghĩa hẹp là sản xuất phim chuyên nghiệp. Khoảng cách giữa xem và sáng tạo vì thế không chỉ phản ánh sở thích mà còn phản ánh ngưỡng nguồn lực khác nhau của từng loại hình. Để từ người nghe nhạc trở thành người làm nhạc, cá nhân cần nhiều hơn một chiếc điện thoại. Họ còn cần kiến thức, thiết bị, thời gian, không gian thực hành và mạng lưới hỗ trợ.
Sự phân hóa càng rõ khi văn hóa số trở thành một nguồn sinh kế mới trong thanh niên. Mẫu khảo sát năm 2023 cho thấy, 31,4% cho biết có thu nhập từ internet và mạng xã hội. Tỷ lệ này ở thanh niên thành thị là 33,5%, cao hơn mức 22,5% ở nông thôn. Trong số những người có nguồn thu, bán hàng trực tuyến chiếm 48,2%, thu nhập từ lượt xem hoặc lượt thích video 37,9%, còn video review du lịch, văn hóa là 29,3%. Đáng chú ý, trong nhóm người sáng tạo nội dung, 76,9% nguồn thu gắn với lượt xem hoặc lượt thích, trong khi review du lịch, văn hóa và sản xuất trò chơi trực tuyến cùng ở mức 65,4% (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2024). Những số liệu này cho thấy văn hóa số không còn chỉ là không gian giải trí mà đã gắn với thị trường, nghề nghiệp và cơ chế phân phối lợi ích hiện đại.
Chính ở đây có thể thấy sự tiếp nối với nghịch lý về thương mại hóa và văn hóa đã được phân tích ở phần 1 bài viết. Khi lượt xem và sự chú ý trở thành nguồn thu nhập, người sáng tạo có thêm động lực đầu tư cho nội dung nhưng đồng thời cũng chịu sức ép phải làm sản phẩm dễ được nhìn thấy. Khảo sát cho thấy ba tiêu chí thu hút sự quan tâm của thanh niên cao nhất là nội dung thú vị, hấp dẫn 60,7%, nội dung nói về điều họ đang quan tâm 56,0% và hình ảnh đẹp, hấp dẫn 55,2%, trong khi tiêu chí giúp bản thân hoàn thiện hơn chỉ đạt 23,8% (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2024). Những con số này không cho phép kết luận nội dung giải trí tất yếu nông cạn, nhưng cho thấy sự cạnh tranh chú ý đang trở thành một điều kiện thực tế của sản xuất văn hóa.
Các khó khăn được người trẻ nhận diện cũng cho thấy vấn đề sáng tạo không chỉ nằm ở công nghệ. 48,3% cho rằng khâu kiểm duyệt nội dung chưa chặt chẽ, 45,3% nêu tình trạng sao chép nội dung tràn lan, 44,9% gặp khó khăn trong tìm chủ đề mới, 37,9% cho rằng có những biến tấu không còn phù hợp với văn hóa đất nước, trong khi khó khăn về công nghệ sản xuất là 33,2% và tài chính 28,4% (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2024). Khi công cụ tạo sinh ngày càng dễ sử dụng, một phần rào cản kỹ thuật có thể giảm, nhưng tính nguyên gốc, năng lực đánh giá và khả năng tạo ra tiếng nói riêng có thể trở thành những đường phân hóa mới.
Từ góc nhìn đó, bất bình đẳng văn hóa trong thời đại số không chỉ còn là chuyện ai có thiết bị hay có kết nối internet. Quan trọng hơn là ai có khả năng biến công nghệ thành tri thức, sản phẩm, vị thế xã hội và cơ hội nghề nghiệp.
Hệ giá trị, phản văn hóa và năng lực tự chủ trong văn hóa thanh niên
Nếu chỉ nhìn văn hóa thanh niên qua âm nhạc, thời trang, phim ảnh hay các xu hướng trên mạng, rất dễ bỏ qua tầng sâu hơn là những giá trị đang định hướng hành vi. Điều tra năm 2025 cho thấy trong nhóm được khảo sát, nhiều giá trị truyền thống vẫn được đánh giá ở mức rất cao. Tôn trọng học vấn, tri thức và tôn sư trọng đạo đạt 81,3%, trọng tình nghĩa và sẵn sàng giúp đỡ người khác 76,5%, yêu nước và tự hào dân tộc 75,4%, giữ gìn phong tục, tập quán và lễ hội quê hương 75,4%, ý thức cộng đồng và tôn trọng công ích 74,4%, còn thật thà, trung thực là 72,6% (Viện Nghiên cứu Thanh niên, 2025).
Bảng 3. Giá trị truyền thống được thanh niên đánh giá “rất quan trọng” năm 2025
Đơn vị tính: %
| Giá trị | Tỷ lệ |
| Tôn trọng học vấn, tri thức, tôn sư trọng đạo | 81,3 |
| Trọng tình nghĩa, sẵn sàng giúp đỡ người khác | 76,5 |
| Yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc | 75,4 |
| Giữ gìn phong tục, tập quán, lễ hội quê hương | 75,4 |
| Ý thức cộng đồng, tập thể, tôn trọng công ích | 74,4 |
| Thật thà, trung thực | 72,6 |
Nguồn: Viện Nghiên cứu Thanh niên (2025)
Kết quả trên cho thấy hội nhập và số hóa không đồng nghĩa với việc các giá trị truyền thống mất đi trong thanh niên. Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị được tiếp nối, những định hướng mới gắn với thành đạt, thu nhập và vị thế xã hội cũng ngày càng hiện diện rõ hơn. Cùng bộ dữ liệu cho thấy 24,9% lựa chọn mục tiêu “kiếm tiền bằng mọi giá” và 24,4% lựa chọn “phải có vị trí, chức vụ bằng mọi giá”. Đây là những lựa chọn trong bảng hỏi, không đồng nghĩa với việc từng ấy người đã hành động bất chấp chuẩn mực. Điều đáng chú ý là khi đặt bên cạnh tỷ lệ cao coi trọng trung thực, tình nghĩa và công ích, các kết quả cho thấy hệ giá trị của thanh niên hiện nay không vận động theo hướng cái mới thay thế hoàn toàn cái cũ, mà là sự đồng thời tồn tại, đan xen và đôi khi cạnh tranh giữa nhiều định hướng giá trị khác nhau.
Khi được hỏi về những nội dung tiêu cực trên mạng, thanh niên đánh giá cao nhất các hiện tượng tạo scandal để nổi tiếng với điểm trung bình 3,45/5, quảng cáo tràn lan hoặc sai sự thật 3,44/5, câu tương tác không phù hợp 3,37/5 và lừa đảo, chiếm đoạt tài sản 3,35/5. Các nội dung bạo lực, vi phạm pháp luật đạt 3,26/5, ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi thanh thiếu niên 3,33/5 và tác động xấu đến chuẩn mực văn hóa Việt Nam 3,30/5 (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2024). Đây là đánh giá về mức độ tiêu cực, không phản ánh mức độ phổ biến của từng hành vi, nhưng cho thấy chính người trẻ cũng nhận diện khá rõ những giới hạn cần được tôn trọng trong môi trường số.
Một phong cách khác biệt, việc theo thần tượng hay tham gia một cộng đồng sở thích không tự nó mang ý nghĩa tiêu cực. Vấn đề chỉ trở nên đáng lo ngại khi những thực hành ấy chuyển thành bạo lực, lừa đảo, xúc phạm, cổ súy chất gây nghiện, tình dục hóa, tự gây tổn thương hoặc những hành vi gây hại cho bản thân và người khác. Trong môi trường số, các biểu hiện này còn có thể được khuếch đại bởi tâm lý nhóm, cơ chế bắt chước, thuật toán đề xuất và phần thưởng từ sự chú ý.
Nhìn rộng hơn, văn hóa thanh niên Việt Nam hiện nay không vận động theo một đường thẳng từ truyền thống sang hiện đại, từ trong nước ra quốc tế hay từ trực tiếp sang trực tuyến. Điểm nổi bật không phải là cái mới thay thế hoàn toàn cái cũ, mà là sự đan xen, chọn lọc và kết hợp giữa nhiều hệ giá trị, phong cách sống và nguồn ảnh hưởng khác nhau. Chính quá trình ấy làm cho văn hóa thanh niên trở thành một không gian phản ánh rõ những chuyển động của xã hội Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và số hóa.
5. Kết luận
Văn hóa thanh niên được hình thành từ sự tương tác giữa đặc điểm của tuổi trẻ với những điều kiện xã hội mà mỗi thế hệ đang sống trong đó. Nhu cầu thử nghiệm, khẳng định bản sắc, tìm kiếm sự thừa nhận có tính tương đối phổ biến, nhưng cách chúng được biểu đạt lại phụ thuộc vào vị thế xã hội, nguồn lực, thị trường, công nghệ và các thiết chế xã hội. Bởi vậy, không thể quy các biểu hiện văn hóa của người trẻ về tính “bồng bột” của lứa tuổi, nhưng cũng không nên lãng mạn hóa mọi khác biệt như một biểu hiện của sáng tạo.
Nền tảng số và thuật toán ngày càng tham gia quyết định cái gì được nhìn thấy, được lan truyền và được tưởng thưởng, còn AI bắt đầu tham gia trực tiếp vào sáng tạo, giao tiếp và hình thành trải nghiệm trong văn hóa thanh niên. Vì thế, nghiên cứu văn hóa thanh niên hiện nay không thể chỉ xem xét quan hệ giữa người trẻ với gia đình, bạn bè, cộng đồng hay thị trường, mà còn phải tính đến vai trò của những hệ thống công nghệ đang tổ chức ngày càng sâu đời sống xã hội.
Trường hợp Việt Nam cho thấy số hóa và hội nhập không tạo ra sự đứt gãy văn hóa đơn giản với truyền thống. Người trẻ có thể cùng lúc tiếp nhận các xu hướng toàn cầu, duy trì quan hệ gia đình, coi trọng học vấn, tình nghĩa và lòng yêu nước, đồng thời chịu sức ép ngày càng lớn của thu nhập, vị thế, ngoại hình và thành công. Cơ hội tiếp cận văn hóa được mở rộng, nhưng khả năng chuyển từ tiếp nhận sang sáng tạo và biến công nghệ thành nguồn lực phát triển vẫn phân hóa. Hệ giá trị của thanh niên vì thế không vận động theo hướng cái mới thay thế hoàn toàn cái cũ, mà là quá trình đan xen, lựa chọn và đôi khi cạnh tranh giữa nhiều định hướng khác nhau.
Trong bối cảnh đó, vấn đề quan trọng không chỉ là trang bị kỹ năng công nghệ mà còn phải hình thành năng lực tự chủ văn hóa: khả năng lựa chọn, hiểu và kiểm chứng những gì cá nhân tiếp nhận, giữ được tiếng nói riêng trong sáng tạo, có trách nhiệm với người khác và đủ bản lĩnh trước sức ép của nhóm, thị trường, nền tảng hay thuật toán. Các bằng chứng lý luận và thực nghiệm trong bài viết cho thấy văn hóa thanh niên là được ví như “hàn thử biểu” nhạy cảm của biến đổi xã hội. Qua những lựa chọn, thử nghiệm, sáng tạo và cả những xung đột của người trẻ, xã hội có thể nhận ra sớm những thay đổi đang diễn ra trong chính cấu trúc, quan hệ và hệ giá trị của mình.
Bài viết mới dừng ở việc gợi mở một số vấn đề và chỉ báo cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, như khả năng chuyển từ tiếp nhận sang sáng tạo văn hóa, mức độ tự chủ trước tác động của nền tảng và thuật toán, sự thay đổi trong quan hệ trực tiếp và trực tuyến, cũng như sự phân hóa cơ hội văn hóa giữa các nhóm thanh niên. Do giới hạn của dữ liệu và phạm vi phân tích, những vấn đề này cần được kiểm chứng thêm bằng các nghiên cứu chuyên sâu và so sánh rộng hơn.
Tài liệu tham khảo
- boyd, d. (2010). Social network sites as networked publics: Affordances, dynamics, and implications. In Z. Papacharissi (Ed.), A networked self: Identity, community, and culture on social network sites (pp. 39–58). Routledge. https://www.danah.org/papers/2010/SNSasNetworkedPublics.pdf
- Linh DVC., Anh, D.-T. K., Thuy, T. T. T., Trang, P. T. T., Hoang, T.-N., & Thang, N. T. (2023). Cultural expressions and value orientations of the youth. Hong Kong Journal of Social Sciences, 61, 670–678. https://doi.org/10.55463/hkjss.issn.1021-3619.61.59
- Cohen, S. (2011). Folk devils and moral panics. Routledge. (Original work published 1972).
- Common Sense Media. (2025). Talk, trust, and trade-offs: How and why teens use AI companions. https://www.commonsensemedia.org/research/talk-trust-and-trade-offs-how-and-why-teens-use-ai-companions
- Doshi, A. R., & Hauser, O. P. (2024). Generative AI enhances individual creativity but reduces the collective diversity of novel content. Science Advances, 10(28), eadn5290. https://doi.org/10.1126/sciadv.adn5290
- Đặng Vũ Cảnh Linh. (2024). Lưu hành và phát triển các sản phẩm văn hóa số của thanh niên, Báo cáo nghiên cứu đề tài cấp bộ, mã số ĐT.KXĐTN 23-08, dữ liệu khảo sát năm 2023.
- Faverio, M., & Sidoti, O. (2025, December 9). Teens, social media and AI chatbots 2025. Pew Research Center. https://www.pewresearch.org/internet/2025/12/09/teens-social-media-and-ai-chatbots-2025/
- Hall, S., & Jefferson, T. (Eds.). (2006). Resistance through rituals: Youth subcultures in post-war Britain (2nd ed.). Routledge. (Original work published 1976).
- Mannheim, K. (1952). The problem of generations. In P. Kecskemeti (Ed.), Essays on the sociology of knowledge (pp. 276–322). Routledge & Kegan Paul. (Original work published 1928).
- National Museum of African American History and Culture. (n.d.). Hip-hop origins. Smithsonian Institution. https://www.searchablemuseum.com/hip-hop-origins/
- Victoria and Albert Museum. (2024, April 17). Vivienne Westwood: Punk, new romantic and beyond. https://www.vam.ac.uk/articles/vivienne-westwood-punk-new-romantic-and-beyond
- Viện Nghiên cứu Thanh niên. (2025). Báo cáo tổng hợp đề tài điều tra thường niên về thanh niên Việt Nam năm 2025 (Mã số ĐT.KXĐTN 25-01, chủ nhiệm Đỗ Minh Hoàng, bản sửa ngày 2/7/2025). Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Đặng Vũ Cảnh Linh, tham luận và trình bày tại LỄ KỶ NIỆM 20 NĂM THÀNH LẬP HỘI XÃ HỘI HỌC VIỆT NAM VÀ HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA “Xã hội học Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Đóng góp vào phát triển đất nước bền vững 1/10/2026
