VÀI NÉT VỀ KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, MÔ HÌNH VÀ LỊCH SỬ TRUYỀN THÔNG

• Khái niệm truyền thông (Communication)

Truyền thông là một trong những thuật ngữ cơ bản trong đời sống con người và xã hội phản ánh quan hệ giao tiếp thông tin giữa con người với con người, giữa các cá nhân, nhóm, tổ chức và cộng đồng xã hội với nhau.

        Theo từ điển bách khoa thư mở (Wikipedia), Truyền thông (từ Latin: commūnicāre, nghĩa là “chia sẻ“) là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như: ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từhóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị. Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa 2 hoặc nhiều thành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng).

Như vậy, theo nghĩa rộng, ở đâu có thông tin, có sự giao tiếp thông tin, ở đó có truyền thông. Truyền thông không chỉ tạo nên quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin về các sự kiện, phản ánh ý kiến, quan điểm, tình cảm, giá trị giữa các cá nhân hay các nhóm người nhằm đạt được hiểu biết lẫn nhau mà bên cạnh đó, đây còn là quá trình chuyển giao tri thức liên tục, tạo nên sự cộng cảm văn hóa chung trong cộng đồng và xã hội.

Một số định nghĩa cơ bản về truyền thông:

“Truyền thông là cách mà một thành viên, tổ chức chia sẻ ý nghĩa và sự hiểu biết với người khác.” – Koontz và O’Donnell

“Truyền thông là quá trình truyền thông tin và hiểu biết từ người này sang người khác.” – Keith Davis

“Truyền thông là tổng thể những việc một người làm khi muốn tạo ra sự hiểu biết trong tâm trí người khác. Nó là cầu nối ý nghĩa, bao gồm một quá trình kể, nghe và hiểu có hệ thống và liên tục” – Louis A. Allen

Khác với truyền thông thông thường, khi truyền thông được xem xét như một khoa học thì truyền thông mang tính mục đích và chủ đích rõ ràng được xác lập trong một quy trình chặt chẽ nhiều công đoạn và thống nhất. Truyền thông dựa trên những nguyên tắc chuyển hóa thông tin có tính toán của người truyền thông, bắt đầu từ việc tạo ra thông điệp (các thông tin được mã hóa), cho đến việc xây dựng chỉ tiêu, kế hoạch đưa thông điệp đến đối tượng tiếp nhận nhằm đạt được mục tiêu truyền thông. Những người tiếp nhận thông tin đóng vai trò là người giải mã thông tin, phản hồi thông tin và cũng từ đó các nhà truyền thông có thể đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình truyền thông.

Mục đích truyền thông là sử dụng thiết chế chuyển tải thông tin góp phần vào quá trình xã hội hóa cá nhân. Thông qua các kênh thông tin mà các giá trị xã hội, các quy tắc, luật lệ thành văn cũng như bất thành văn của xã hội được phổ biến và nhăn đi nhắc lại cho mọi người cùng biết, trên cơ sở đó thuyết phục họ đồng tình và tuyên truyền vận động cùng nhau tuân thủ.

• Các yếu tố của quy trình truyền thông

Các yếu tố của quá trình truyền thông gồm: Nguồn phát, Thông điệp, Kênh, Người nhận, Nhiễu, Phản hồi/ Hiệu quả. Các yếu tố này thể hiện chu kỳ khép kín của một quá trình truyền thông có chủ đích.

Nguồn phát: là chủ thể, nơi phát thông tin trả lời cho câu hỏi ai phát thông tin, mục đích gì. Nguồn phát có thể là một người, một nhóm người, cơ quan, tổ chức hay một thiết chế xã hội mang một hoặc nhiều nội dung thông tin muốn chuyển tải đến một người, nhóm người khác. Mục đích của chuyển tải thông tin có thể được các chủ thể xác định rõ ràng về đối tượng, phạm vi và quy mô trong toàn bộ quá trình truyền thông cũng như sự tác động của thông tin đến nhận thức, tâm lý, tình cảm, hành vi của những người tiếp nhận.

Thông điệp: là nội dung thông tin trả lời cho câu hỏi thông tin gì được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp biểu hiện những tâm tư tình cảm, mong muốn, hiểu biết, ý kiến, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thống ký hiệu này phải được cả nguồn phát và người nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu.

Các ký hiệu trong thông điệp có thể biểu hiện qua âm thanh, chữ viết, các logo, biển báo, biểu tượng, hình ảnh, phim ảnh và các cử chỉ biểu đạt khác của con người…chịu sự chi phối của các yếu tố chủ quan và khách quan như: thời điểm phát thông điệp, quan niệm của nơi phát thông điệp, mức độ cần thiết của thông điệp, độ chính xác và đầy đủ của thông điệp…

Kênh: là phương tiện, con đường, cách thức để chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến người nhận trả lời cho câu hỏi ở đâu, khi nào, bằng cách nào thông tin có thể được trung chuyển theo đúng mục đích truyền thông. Hiện nay trong xã hội hiện đại, kênh truyền thông biểu hiện ở 3 khu vực có sự khác biệt căn bản về tính chất, đặc điểm, cũng như các tiêu chí, nguyên tắc và kỹ thuật cụ thể trong quá trình truyền thông

  • Khu vực truyền thông giao tiếp (Inter Personal communication)

Truyền thông giao tiếp là cách thức sử dụng con người là kênh chuyển tải thông tin như hình thức sử dụng tuyên truyền viên, chuyên gia tư vấn, tham vấn, các giảng viên để chuyển tải các thông điệp truyền thông. Các hình thức của truyền thông giao tiếp là các lớp đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực, các buổi thuyết trình tại các nơi công cộng, tổ chức hội nghị, hội thảo, các hình thức sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ…với các công cụ hỗ trợ như tài liệu, tờ rơi phân phát, điện thoại, internet, phim ảnh…

Đặc điểm của truyền thông giao tiếp là có mục đích truyền thông rõ ràng, có kế hoạch kiểm soát toàn bộ quá trình truyền thông, khác thác toàn bộ điều kiện, bối cảnh, nhân lực, vật lực, điều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa phục vụ mục tiêu truyền thông. Ưu điểm của kênh truyền thông giao tiếp là thông tin sâu, rộng, tác động lâu dài tâm lý, tình cảm, tạo nên sự thay đổi hành vi của người nhận thông tin. Hạn chế của loại hình giao tiếp là thông tin chậm, cầu kỳ, nhiều rủi ro do quá trình giao tiếp, tương tác thông tin từ người sang người.

  • Khu vực truyền thông đại chúng (Mass Media)

Truyền thông đại chúng là cách thức sử dụng phương tiện, máy móc, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để chuyển tải thông tin như hình thức xuất bản sách, báo, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, điện ảnh…Ngày nay truyền thông đại chúng còn được sự hỗ trợ của hệ thống cơ sở hạ tầng internet, hệ thống viễn thông thông qua các mạng điện thoại di động.

Đặc điểm của truyền thông đại chúng là sự phân phối, phân loại thông tin chuyển tải thông điệp đến bộ phận công chúng lớn, giao tiếp xã hội rộng lớn, với quy trình truyền thông mang tính chuyên nghiệp và có hệ thống. Hệ thống thông điệp chứa trong tin tức phong phú, đa dạng, đa chiều và mang tính chính thống, phản ánh các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa mang tính đại chúng của phần đông cư dân trong cộng đồng và xã hội. Ưu điểm của truyền thông đại chúng là thông tin nhanh, mạnh, tác động đến các nhóm đối tượng có phạm vi và quy mô lớn. Nhược điểm là các thông điệp trong truyền thông thường ngắn, ẩn, khó nhận biết hoặc được giải thích tường tận, sự tương tác nguồn phát, và người tiếp nhận, phản hồi thông tin kém, mang tính một chiều.

  • Khu vực truyền thông xã hội (Social Media)

Truyền thông xã hội là cách thức sử dụng các mạng xã hội thông qua hệ thống internet để truyền thông như facebook, zalo, twitter, youtube…Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet trong việc kết nối cá nhân/nhóm chia sẻ thông tin, ý tưởng, sở thích, nghề nghiệp qua cộng đồng mạng và sự đa dạng của các dịch vụ và tích hợp ứng dụng, truyền thông xã hội đang là khu vực truyền thông có tiềm năng cao với ưu điểm nhanh, liên tục trung chuyển thông tin giữa các cá nhân, nhóm, sự tương tác và đổi vai liên tục chủ thể (nguồn phát) và khách thể (người nhận) truyền thông thông qua quá trình trao đổi, bình luận, thể hiện nhận thức, quan điểm,  tâm lý, tình cảm của các bên. Nhược điểm của truyền thông xã hội là thông tin không chính thống, nơi phát thông tin không hoàn toàn chịu trách nhiệm về độ tin cậy của thông tin (tùy theo pháp luật các quốc gia quy định về trách nhiệm công dân sử dụng mạng xã hội), khó kiểm soát thông tin, môi trường thông tin.

Người nhận: là khách thể chịu sự tác động, là đối tượng được cung cấp thông tin. Người nhận có thể là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận theo múc đích ban đầu của quá trình truyền thông. Người tiếp nhận thông chịu sự chi phối nhận thức cá nhân, điều kiện sống, các mối quan hệ xã hội hiện có hoàn cảnh xung quanh.

Nhiễu: là những tác động của môi trường truyền thông (lời nói, tiếng ồn, tin đồn…biểu hiện trong môi trường, hoàn cảnh không gian, thời gian nhất định) gây nên sự sai lệch của thông điệp, làm cho thông điệp mà người nhận tiếp thu được không trùng hợp với thông điệp mà nguồn phát đã truyền đi.

Phản hồi: Phản hồi là thông tin ngược từ thông điệp nơi nhận trở về nguồn phát. Thông điệp phản hồi không hoàn toàn là thông điệp gốc (từ nguồn phát đến người nhận) mà là sự giải mã thông điệp gốc với những bình luận, phản ứng, phản ánh trở lại thông tin sau khi người nhận tiếp nhận thông tin. Trong một số trường hợp, mạch phản hồi bằng không hoặc không đáng kể, điều này cho thấy thông điệp phát ra không tạo nên sự quan tâm của công chúng.

• Một số mô hình lý thuyết về truyền thông

(1) Mô hình truyền thông Lasswell

Năm 1948, Harld Lasswell là một trong những người đi tiên phong trong việc xây dựng các lý thuyết truyền thông đã mô tả quá trình truyền thông gồm 5 yếu tố: Nguồn phát của chủ thể truyền thông (Who); Thông điệp, nội dung truyền thông (Says what); Kênh truyền thông (Which Channel); Người nhận thông điệp (To Whom); Hiệu quả truyền thông (With What Effects). Từ các yếu tố cơ bản, Harld Lasswell đã đưa ra mô hình hóa quá trình truyền thông theo sơ đồ dưới đây:

Theo Lasswell, mô hình truyền thông mang tính một chiều, được tiến hành bắt đầu từ nguồn tiếp nhận qua một quá trình đến người nhận, nó tác động vào đối tượng tiếp nhận thông tin và tạo hiệu quả của truyền thông. Trong mô hình này không thể thiếu đi một yếu tố hay một giai đoạn nào. Các nhà nghiên cứu sau này cho rằng là mô hình Lasswell là truyền thông đơn giản, song rất thuận lợi trong khi cần chuyển những thông tin khẩn cấp, tuy nhiên, hạn chế của mô hình là không đề cập đến những ý kiến phản hồi từ phía đối tượng tiếp nhận.

(2) Mô hình của Shannon

Khác với mô hình truyền thông một chiều, mô hình truyền thông hai chiều do Claude Shannon đưa ra vào năm 1949 đã khắc phục được nhược điểm của mô hình truyền thông một chiều bằng cách có thêm yếu tố phản ứng đáp lại của đối tượng tiếp nhận thông tin.

Claude Shannon cho rằng một mô hình truyền thông hoàn chỉnh cần có 7 yếu tố: S – Nguồn phát, chủ thể truyền thông (Source Sender); M – Thông điệp, nội dung truyền thông (Message); C – Kênh truyền thông (Channel); R Người nhận thông điệp (Receiver); E – Hiệu quả truyền thông (Effect); N – Nhiễu (Noise); F – Phản hồi (Feedback).

Như vậy, theo mô hình Shannon, thông điệp được bắt đầu từ nguồn phát (S) thông qua các kênh truyền thông (C) đến với người nhận (R) thu được hiệu quả (E) dẫn đến hành động và dẫn đến có phản ứng trả lời ngược lại hay phản hồi (F) đối với nguồn phát, nhờ đó nguồn phát sẽ biết được nội dung truyền thông đến với đối tượng tiếp nhận đạt hiệu quả ở mức độ nào, người nhận muốn thu được những thông tin về lĩnh vực nào. Các nhà truyền thông có thể dựa vào đó để điều chỉnh nội dung thông tin của mình cho phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận.

Mô hình của Shanon nhấn mạnh yếu tố con người trong quá trình truyền thông. Không phải tất cả các thông điệp có thể đến với người nhận đầy đủ, chính xác mà trong quá trình này các yếu tố xã hội, tâm lý, kỹ thuật… ảnh hưởng đến việc lựa chọn, xây dựng và chuyển tải thông điệp truyền thông. Các yếu tố đó gọi là nhiễu (N). Nhiễu tạo nên các sai lệch của thông điệp trong quá trình truyền thông. Đồng thời hiểu và phân tích được những yếu tố Nhiễu thì sẽ tăng hiệu quả tong việc truyền thông.

 (3) Mô hình của Gerbner

George Gerbner là giáo sư đứng đầu Trường Truyền thông Annenberg thuộc Đại học Pennsylvania. Năm 1956, Gerbner đã cố gắng đưa ra mô hình truyền thông, nhấn mạnh bản chất năng động của giao tiếp của con người trong mối quan hệ với quá trình trung chuyển thông tin.

Theo Gerbner, bắt đầu của quá trình truyền thông là sự kiện xảy ra trong đời sống, ký hiệu là chữ E (Event) và nội dung hoặc thông điệp của sự kiện được con người hoặc máy móc, ký hiệu là chữ M (Man or a Machine) cảm nhận và truyền thông tin. Sau khi nhận được thông điệp thực tế từ E,  yếu tố M sẽ truyền tin và tạo ra các phiên bản thông tin được gọi là E1. Theo phân tích của Gerbner, E1 không giống như E, bởi bất kỳ con người hoặc máy móc nào đều không thể nhận thức được toàn bộ sự kiện và họ chỉ nhận biết được một phần của sự kiện (E1). Điều này được gọi là “Kích thước tri giác”.

M (người hoặc máy) không thể nhận thức được toàn bộ nội dung của sự kiện E. Vì vậy, M chọn nội dung thú vị hoặc cần thiết từ toàn bộ sự kiện và lọc những nội dung khác. Bối cảnh xảy ra trong sự kiện và tính khả dụng dựa trên thái độ, tâm trạng, văn hóa và tính cách của M. (Ví dụ: Cách một nhà báo cảm nhận thông điệp từ sự kiện và cũng không thể tập trung toàn bộ sự kiện để họ lọc nội dung không mong muốn hoặc không liên quan khỏi sự kiện. Nội dung được lọc này không giống với nội dung sự kiện thực tế vì nhà báo chỉnh sửa nội dung dựa trên thái độ, tâm trạng và nền tảng văn hóa của anh ta hoặc các chính sách báo chí).

E2 là nội dung sự kiện được vẽ hoặc nhân tạo bởi M. Ở đây M trở thành nguồn của một thông điệp về E để gửi cho người khác. M tạo ra một tuyên bố hoặc tín hiệu về thông điệp và Gerbner gọi Hình thức và nội dung, ký hiệu bằng chữ S (Tín hiệu hoặc Hình thức) cần và E2 (Nội dung của con người). Ở đây Nội dung (E2) được cấu trúc hoặc hình thành (S) bởi M và nó có thể giao tiếp theo những cách khác nhau hoặc dựa trên những cách có cấu trúc.

Như vậy theo mô hình Gerbner, sự lan tỏa thông điệp trong truyền thông luôn không hoàn toàn giống như sự kiện thực tế và trái lại nó lại trở nên khá phong phú và đa dạng với nhiều chiều cạnh thông qua quá trình giao tiếp và tạo và lan truyền ra thông điệp của con người, cùng các phương tiện truyền thông.

(4) Mô hình của Berlo 1960

Năm 1960, David Berlo đưa ra mô hình giao tiếp SMCR (Sender-Message-Channel-Receiver) phát triển từ Mô hình truyền thông của Shannon Weaver (1949). Ông mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến các thành phần riêng lẻ trong truyền thông làm cho truyền thông hiệu quả hơn.

Mô hình Berlo tập trung vào mã hóa và giải mã xảy ra trước khi người gửi gửi tin nhắn và trước khi người nhận nhận được tin nhắn tương ứng. Theo chủ yếu có bốn thành phần để mô tả quá trình truyền thông là người gửi, tin nhắn, kênh và người nhận. Mỗi thành phần bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.

Các thành phần của Mô hình Truyền thông của Berlo

S-Người gửi

Người gửi là nguồn của thông điệp hoặc người tạo ra thông điệp. Người hoặc nguồn gửi tin nhắn đến người nhận. Sau đây là các yếu tố liên quan đến người gửi và cũng tương tự trong trường hợp người nhận.

Kỹ năng truyền thông: Kỹ năng truyền thông của một người là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình truyền thông. Nếu người gửi có kỹ năng truyền thông tốt, thông điệp sẽ được truyền đạt tốt hơn. Tương tự, nếu người nhận không thể nắm bắt được thông điệp, thì việc liên lạc sẽ không hiệu quả. Kỹ năng truyền thông bao gồm các kỹ năng nói, trình bày, đọc, viết, nghe…

Thái độ: Thái độ của người gửi và người nhận tạo ra hiệu ứng của thông điệp. Thái độ của người đó đối với bản thân, người nhận và môi trường thay đổi ý nghĩa và tác dụng của thông điệp.

Hiểu biết: Sự quen thuộc với chủ đề của thông điệp làm cho thông điệp được truyền đạt có tác dụng hơn. Kiến thức về chủ đề làm cho người giao tiếp gửi thông điệp một cách hiệu quả.

Hệ thống xã hội: Giá trị, niềm tin, luật pháp, quy tắc, tôn giáo và nhiều yếu tố xã hội khác ảnh hưởng đến cách truyền đạt thông điệp của người gửi. Nó tạo ra sự khác biệt trong việc tạo ra thông điệp. Địa điểm và hoàn cảnh truyền thông cũng thuộc các hệ thống xã hội.

Văn hóa: Sự khác biệt về văn hóa làm cho các thông điệp khác nhau. Một người từ một nền văn hóa có thể thấy điều gì đó xúc phạm nhưng lại rất được chấp nhận ở một nền văn hóa khác.

M – Thông điệp

Thông điệp là nội dung được người gửi gửi đến người nhận, có thể ở dạng giọng nói, âm thanh, văn bản, video hoặc các phương tiện khác. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến thông điệp là:

Nội dung: nội dung là điều cốt lõi của thông điệp và toàn bộ thông điệp từ đầu đến cuối đều bao chứa các nội dung.

Thành phần: các yếu tố là những thứ phi ngôn ngữ gắn thẻ cùng với nội dung như cử chỉ, dấu hiệu, ngôn ngữ…

Sự đối xử: là cách thức mà thông điệp được truyền tải đến người nhận. Sự đối xử cũng ảnh hưởng đến phản hồi của người nhận.

Kết cấu: cấu trúc của thông điệp hoặc cách nó được cấu trúc hoặc sắp xếp, ảnh hưởng đến hiệu quả của thông điệp.

Mã: Mã là hình thức mà thông điệp được gửi đi. Nó có thể ở dạng ngôn ngữ, văn bản, video…

C – Kênh

Kênh là phương tiện được sử dụng để gửi thông điệp. Trong truyền thông đại chúng và các hình thức giao tiếp khác, máy móc kỹ thuật có thể được sử dụng như một kênh như điện thoại, internet… Nhưng nói chung, năm giác quan của con người là kênh dẫn luồng truyền thông và nó ảnh hưởng đến hiệu quả của kênh.

Thính giác: Chúng ta nhận được thông điệp thông qua thính giác.

Thị giác:  Chúng ta nhận thức thông qua cái nhìn. Chúng ta cũng nhận được thông điệp không lời bằng cách nhìn thấy.

Xúc giác:  Nhiều giao tiếp không lời xảy ra từ việc chạm vào như nắm tay.

Khứu giác: Chúng ta thu thập thông tin từ việc ngửi.

Vị giác: cũng cung cấp thông tin được gửi dưới dạng thông điệp

R- Người nhận

Người nhận là nơi tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. Mô hình Berlo tin rằng mô hình tư duy và tất cả các yếu tố khác được đề cập ở trên phải đồng bộ với mô hình của người gửi để truyền thông có hiệu quả. Thông điệp có thể không có tác dụng như dự kiến ​​nếu người nhận và người gửi không giống nhau. Người nhận cũng phải có kỹ năng tốt và các yếu tố khác tương tự như của người gửi.

Nhìn chung điểm mạnh trong mô hình Berlo đã phân tích sâu các thành tố trong quá trình truyền thông, tuy nhiên việc phản hồi thông tin và nhiễu thông tin lại không được ông đề cập nên vẫn thiên về mô hình truyền thông tuyết tính một chiều.

(5) Lựa chọn mô hình truyền thông phù hợp

Đối với mục đích truyền thông có thể xác định lựa chọn mô hình truyền thông theo 2 hướng sau:

Mô hình truyền thông 1 chiều:

Thông tin được truyền một chiều từ nguồn phát đến người nhận.

Nguồn phát giữ vai trò quyết định, áp đặt ý chí của mình đối với công chúng, công chúng tiếp nhận thụ động

Không có khả năng thiết lập kênh phản hồi; trình độ nhận thức,  tập quán xã hội; nguồn thông tin hạn chế

Mô trình truyền thông một chiều nên áp dụng trong các thông báo, các kiến thức, kỹ năng cơ bản trong khoa học, luật pháp…

Mô hình truyền thông 2 và đa chiều:

Chú ý nhiều hơn đến vai trò của công chúng: lựa chọn thông tin tiếp nhận, bày tỏ lòng mong muốn, yêu cầu đối với thông tin tiếp nhận, thậm chí công chúng còn tham gia trực tiếp trong quá trình truyền thông, điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phương thức truyền thông.

Mô trình truyền thông đa chiều nên áp dụng trong việc truyền thông thức, kỹ năng mở, thảo luận vấn đề mở, tạo nên sự tương tác thông tin sinh động, đồng thời toàn bộ quá trình truyền thông trở nên hấp dẫn, lôi cuốn hơn so với truyền thông một chiều. 

• Phổ biến kiến thức (Disterminated knowlge)

Phổ biến kiến thức là hoạt động thông tin có phạm vi nhỏ hơn truyền thông, là truyền thông có chủ đích, mang tính giáo dục, cung cấp kiến thức khoa học phổ thông hoặc chuyên sâu về các chủ đề, lĩnh vực, có thể giúp các đối tượng tiếp nhận triển khai, ứng dụng thông tin (kiến thức) trong thực tế hoạt động nghề nghiệp và đời sống.

Hoạt động phổ biến kiến thức về cơ bản, tuân thủ đúng quy trình, các bước của truyền thông từ việc việc xác định mục đích, bối cảnh, đối tượng, quy mô, nội dung, thông điệp, kênh chuyển tải thông tin và kiểm soát, đánh giá hiệu quả của toàn bộ hoạt động truyền thông.

Sự khác biệt cơ bản giữa phổ biến kiến thức (theo nghĩa hẹp) và truyền thông (theo nghĩa rộng) còn ở chỗ nội dung thông điệp, thông tin mang tính chuẩn mực đã được các kiểm chứng. Nguồn phát, nơi phát của phổ biến kiến thức là nơi chịu trách nhiệm và cam kết về toàn về kiến thức cung cấp cho đối tượng tiếp nhận trong quá trình phổ biến và được đánh giá bằng hiệu quả của việc nâng cao kiến thức, kỹ năng, hành vi của các đối tượng tiếp nhận sau truyền thông.

Để đạt yêu cầu về việc phổ biến, truyền bá kiến thức, hoạt động phổ biến kiến thức đòi hỏi quy trình chặt chẽ, chuyên sâu và lâu dài hơn các hoạt động truyền thông ví dụ các chương trình, chuyên mục phổ biến kiến thức xây dựng quan hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng cần được duy trì trong một thời gian dài bởi những người có kiến thức, chuyên môn. Các lớp đào tạo, tập huấn, các tài liệu phục vụ phổ biến kiến thức không chỉ bao hàm các thông điệp đơn lẻ mà kiến thức cần được hệ thống chặt chẽ, mạch lạc và logic theo các cấp độ và quy luật chung của sự phát triển tri thức.

Hoạt động phổ biến kiến thức luôn có mối quan hệ tương tác với hoạt động giáo dục, tuy nhiên giáo dục được hiểu là bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng ngắn hạn (có thể chính quy hoặc không chính quy), đồng thời đối tượng tiếp nhận thông tin có thể ở cấp bậc cao hơn so với học sinh trong hệ thống giáo dục.

• Vài nét về lịch sử phát triển các phương tiện truyền thông và phổ biến kiến thức

  • Truyền thông phát triển trên nền tảng khi con người có chữ viết, ra đời 000 năm trước công nguyên khi người Sumerien ở vùng Lưỡng Hà đã sáng tạo nên chữ tượng hình
  • 3000 năm trước Công nguyên khai sinh quảng cáo ở Ai Cập khi một ông chủ đã treo một sách giấy cói trên đó thông báo một món tiền thưởng cho ai bắt được nô lệ của ông ta bỏ trốn.
  • Gần 2000 năm trước công nguyên loài người có hệ thống chữ cái không có nguyên âm và cho đến khoảng 800 năm trước công nguyên người Hy Lạp mới tạo ra chữ cái có nguyên âm tạo nên cuộc cách mạng về chữ viết qua đó chuyển tải thông tin tốt hơn qua việc hoàn thiện các ghi chép về lịch sử, văn hóa
  • 500 năm trước công nguyên, khoa hùng biện ra đời (môn tu từ học) hoàn thiện lô gíc biểu đạt và hiệu quả của ngôn ngữ nói.
  • Khoảng hơn 100 năm trước công nguyên Trung Quốc đã có giấy và bản in khắc gỗ, sau đó lan sang nhiều nước khác, các nước phương Đông đã biết làm ra những bản khắc chữ bằng đất nung và năm 105 Thái Luân đã phát minh ra giấy để ghi chép
  • Cuối thế kỷ VI Trung Quốc có báo in bằng bản gỗ
  • Giữa thế kỷ XIV người Châu Âu bắt đầu làm giấy từ bột gỗ thay cho da thuộc.
  • Năm 1409, tại Triều Tiên đã có những cuốn sách đầu tiên được in bằng bản in kim loại.
  • Năm 1440, tại Thụy sỹ, Gutenberg đã phát minh ra kỹ thuật in typô và năm 1457 có cuốn sách đầu tiên in typô sau đó có hàng loạt sách được in (43 năm sau 1457 có 35.000 đầu sách được in và gần 20 triệu bản sách).
  • Năm 1485 tại Ý xuất hiện những tờ rơi đầu tiên do chính quyền sử dụng để truyền tin thời sự.
  • Năm 1605 có tạp chí đầu tiên ra đời 2 số/ tháng tại Ý.
  • Năm 1609 ở Đức có tờ báo tuần đầu tiên và năm 1613 Tờ báo hàng tuần đầu tiên ra đời tại Ý: La Gazette. Cho đến năm 1777, tờ báo hàng ngày đầu tiên ra đời tại Pháp với tên gọi Le Journal de Paris.
  • Năm 1887, phát minh máy thu phát sóng điện tử đầu tiên và đến 1895 tại Xanh Pêtécbua nhà vật lý A. Pôpốp đã phát minh ra máy vô tuyến điện.
  • Năm 1895, điện ảnh được phát minh (28/12/1895 tại quán cà phê Grant ở Pari anh em nhà Lomia đã chiếu một đoạn hình ảnh chuyển động của đoàn đại biểu đi dự đại hội nhiếp ảnh) không có tiếng.
  • Đến những năm 20 của thế kỷ XX mới xuất hiện phim có tiếng. Bộ phim đầu tiên Jazz singer của hãng Warner Bros.
  • Năm 1895, Guglielmo Marconi, gửi và nhận thành công những tín hiệu radio và năm 1906, Lee De Fores đã phát minh triode một chi tiết quan trọng quyết định sự ra đời của phát thanh. Cho đến cuối những năm 30 của thế kỷ XX, con người đã phát minh đài FM.
  • Năm 1923, cùng với sự phát triển của công nghệ chụp ảnh, đã ra đời loại hình báo ảnh.
  • Năm 1937 ra đời chiếc máy tính đầu tiên tại Mỹ và năm 1943 ENIAC chiếc máy tính hoàn chỉnh được thiết kế bởi giáo sư Mauchly tại Đại học Pennsylvania, Mỹ.
  • Năm 1959, hệ thống FAX lần đầu tiên được sử dụng tại Nhật.
  • Năm 1969 Mạng nội bộ ARPANET được thiết kế dùng trong Bộ quốc phòng Mỹ và năm 1972 kết nối 42 máy tính. Cũng trong năm này, Ray Tomlinsonphát minh ra E-mail.
  • Năm 1978, tại Mỹ, tiếp tụcthiết lập mạng USENET và năm 1986 thiết lập mạng NSF dành cho người sử dụng thuộc khu vực dân sự.
  • Năm 1991 Tim Berner phát minh ra WWW.
  • Tháng 8 năm 1999 sáu công ty tương thích Ethernet không dây VECA. Thuật ngữ Wi-Fi ra đời.
  • Năm 2004 ra đời mạng xã hội Facebook.

Như vậy lịch sử phát triển của truyền thông gắn liền với sự phát triển của phương tiện truyền thông từ các quan hệ đơn lẻ, mang tính tiểu chúng, trở nên hệ thống, mang tính đại chúng, tạo nên sự đa dạng về quy mô, cách thức chuyển tải thông tin từ nguồn phát đến nơi nhận. Bên cạnh đó, khoa học truyền thông cũng ngày càng hoàn thiện, có thể lượng giá được hiệu quả của các loại hình, phương pháp, phương thức truyền thông trong các chương trình, kế hoạch truyền thông được triển khai cụ thể.

Theo Đặng Vũ Cảnh Linh (chủ biên), tác giả chương 1: Sổ tay Truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ dành cho cán bộ Hội, Nhà xuất bản Nông nghiệp 2020

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan