Một số chỉ báo về hoạt động nghề nghiệp của trí thức trẻ Hà Nội hiện nay

Ngày nay, cùng với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới, đội ngũ trí thức trẻ luôn được nhìn nhận là thế hệ mới, là đầu tầu cho công cuộc xây dựng và phát triển ở mỗi quốc gia. Vai trò của đội ngũ trí thức trẻ không chỉ gói gọn ở việc lao động,  nâng cao các giá trị kinh tế, hàm lượng chất xám trong sản xuất và kinh doanh, mà còn góp phần vào việc quản lý và tổ chức xã hội, định hướng phát triển văn hoá và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho xã hội. Sự phát triển và đóng góp của đội ngũ trí thức trẻ luôn được đánh giá là một trong những tiêu chí cơ bản của trình độ phát triển nền kinh tế tri thức.

Với mục tiêu nghiên cứu, đánh giá hoạt động nghề nghiệp của trí thức trẻ hiện nay, Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển đã tổ chức thực hiện đề tài cấp thành phố Nghiên cứu thực trạng và tiềm năng của đội ngũ trí thức trẻ trên địa bàn Hà Nội qua khảo sát 1000 trí thức trẻ trong độ tuổi từ 21 đến 40 đang sống và làm việc tại thủ đô. Dưới đây là một số chỉ báo về hoạt động nghề nghiệp của trí thức trẻ từ cuộc khảo sát.

Cơ cấu nghề nghiệp và lao động của trí thức trẻ Hà Nội

Tìm hiểu về nghề nghiệp của trí thức trẻ trên địa bàn Hà Nội trong mẫu điều tra hiện nay, kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 21% làm trong nhóm nghề kĩ sư, bác sĩ, luật sư, nhà khoa học; 17,6% làm hành chính văn phòng, 16% là công nhân viên chức nhà nước; 18,6% là bộ đội, công an, giáo viên; 8,5% làm kinh doanh dịch vụ; 5,6% làm công nghệ thông tin; 4,4% lao động tự do, 2,2% lao động nghệ thuật. Như vậy, qua số liệu điều tra có thể thấy ngành nghề của trí thức trẻ hiện nay rất đa dạng, họ dường như có mặt ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề của xã hội.

Phân tích tương quan giữa nghề nghiệp với giới tính, sự chênh lệch tỷ lệ giữa nam và nữ ở trong quá trình tham gia các ngành nghề khác nhau là khá rõ. Tỉ lệ nam giới ở các nghề thuộc ngành khoa học học xã hội như: chuyên viên, công chức nhà nước, hành chính văn phòng, giáo viên thấp hơn tỉ lệ của nữ giới. Trong khi ngược lại những nghề thuộc ngành khoa học tự nhiên như: kỹ sư, bác sỹ, công nghệ thông tin, hay nghề mang tính đặc thù như bộ đội, công an tỉ lệ nam giới lại cao hơn tỉ lệ của nữ giới. Kết quả phân tích tương quan này cũng cho thấy sự thống nhất với các số liệu thống kê của ngành giáo dục về việc lựa chọn ngành học giữa sinh viên nam và sinh viên nữ nam và nữ hiện nay.

Trong mối quan hệ giữa nghề nghiệp và nhóm tuổi, có sự tỷ lệ thuận giữa các nhóm tuổi và các ngành nghề mang tính ổn định như tuổi càng cao thì tỷ lệ tập trung vào những ngành nghề ít có sự biến đổi như chuyên viên, công chức nhà nước, kỹ sư, bác sỹ,  bộ đội, công an, giáo viên… Trong khi đó những ngành nghề như: kinh doanh dịch vụ, lao động nghệ thuật, hành chính văn phòng, công nghệ thông tin những ngành đòi hỏi sự năng động, nhạy bén đáp ứng yêu cầu của thị trường thì mức độ trí thức trẻ tham gia tỉ lệ nghịch với độ tuổi. Điều này cũng phản ánh đúng xu thế phát triển của thị trường lao động hiện nay, khi thiếu độ tuổi và những kinh nghiệm cần thiết trong công việc thì trí thức trẻ dễ tìm việc làm và tham gia nhiều hơn trong khu vực thị trường tự do thay vì môi trường công chức nhà nước mang tính ổn định cao.

Trí thức trẻ, minh họa internet

Khảo sát về mô hình làm việc của trí thức trẻ hiện nay, qua số liệu  biểu đồ 1, khu vực lao động tập trung trí thức trẻ nhiều nhất là khu vực doanh nghiệp tư nhân chiếm 46%, tiếp đến là khu vực nhà nước (42,9%) và thấp nhất là trong khu vực xã hội dân sự chỉ có 11,1%.

Thực tế cho thấy cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, sự mở cửa giao lưu hội nhập với các nền kinh tế trên thế giới đã và đang hình thành những mô hình làm việc mới, với sự xuất hiện của các thành phần kinh tế ngày càng đa dạng. Tính năng động của thị trường cũng phản ánh xu hướng chuyển đổi ngành nghề và khu vực làm việc của trí thức trẻ hiện nay giống như một hệ thống mở. Nếu như trong thời kỳ bao cấp, việc làm của trí thức trẻ tập trung chủ yếu trong khu vực nhà nước, phụ thuộc vào sự phân công, điều động của các cơ quan quản lý nhà nước thì hiện nay xu hướng làm việc của thế hệ trí thức trẻ hiện nay tăng lên ở khu vực ngoài nhà nước, đồng thời việc chuyển đổi giữa khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân cũng dễ dàng hơn khi vấn đề biên chế không còn là một trong những tiêu chí sống còn của họ.

Nhiều công trình nghiên cứu hiện nay cho thấy khi khởi nghiệp, trí thức trẻ thường có xu hướng lựa chọn cơ quan nhà nước để làm việc, nhưng sau một thời gian họ di chuyển từ khu vực nhà nước sang khu vực doanh nghiệp hoặc  khu vực xã hội dân sự, thậm chí là khu vực kinh tế có sự đầu tư của nước ngoài với những chế độ và điều kiện được xem là “hấp dẫn” hơn so với cơ quan nhà nước. Các nhà nghiên cứu và quản lý đang gọi đây là hiện tượng “chảy máu chất xám” đã và đang ngày càng phổ biến hơn. Tính hai mặt của vấn đề này nằm ở sự luân chuyển nhân sự một cách dễ dàng dẫn đến những thiệt hại không thể tính hết cho các cơ quan, tổ chức nhà nước, trong khi lại làm lợi cho các thành phần kinh tế khác. Điều này cũng làm sụt giảm uy tín nghiêm trọng của nhà nước, thậm chí là sự thua thiệt trong các hoạt động mang tính cạnh tranh dựa trên yếu tố nguồn lực trẻ. Về vấn đề pháp lý, hiện tượng này cũng khá phức tạp nảy sinh từ những tranh chấp giữa các chủ thể quản lý trong hoạt động đào tạo và sử dụng lao động trí thức trẻ cần điều chỉnh cân đối và hợp lý giữa các khu vực lao động có sự tham gia của trí thức trẻ.

Về điều kiện và môi trường làm việc.

Nghiên cứu về điều kiện, chế độ và môi trường làm việc của trí thức trẻ là một trong những chỉ báo quan trọng phản ánh về các nhân tố cơ bản tác động đến chất lượng của lao động trẻ hiện nay. Số liệu bảng 2 cho thấy trí thức trẻ hiện nay vẫn đang hoạt động nhiều nhất là làm việc theo biên chế nhà nước chiếm 32,7%, tiếp đến là làm việc theo hợp đồng dài hạn 24,9%, tỷ lệ trí thức trẻ làm việc theo hợp đồng vô thời hạn chiếm 17,5%, hợp đồng ngắn hạn chiếm 8,6%, và trong đó làm việc theo chế độ hợp đồng theo đồng theo công việc, làm việc theo thỏa thuận cá nhân tương ứng với 6,7% và 6,2%.

Như vậy có thể thấy rằng, những năm qua cùng với những chính sách tích cực của nhà nước đã có nhiều thay đổi về mô hình chế độ làm việc dành cho trí thức trẻ. Sự lựa chọn của các nhà quản lý và trí thức trẻ nhiều hơn với các mô hình làm việc theo hợp đồng, ngay cả trong khu vực nhà nước, tỷ lệ trí thức trẻ có biên chế đã giảm nhiều lần so với thế hệ trước. Kết quả điều tra  cũng phản ánh trí thức trẻ làm việc nhiều nhất với hình thức ký kết hợp đồng vô thời hạn và dài hạn. Điều này đã vẫn tạo ra sự ổn định trong công việc, tuy nhiên mang tính tương đối, đòi hỏi sự thích nghi tích cực cho cả nhà quản lý và trí thức trẻ.

Bảng 2: Tương quan phương thức làm việc của trí thức trẻ với giới tính và học vấn hiện tại (%)

Chế độ Giới tính Học vấn hiện tại Chung
Nam Nữ Cao Đẳng Đại học Trên đại học
Biên chế nhà nước 38.9 29.1 38.7 28.7 45.2 32.7
Hợp đồng vô thời hạn 19.3 17.6 12.9 19.9 16.1 17.5
Hợp đồng dài hạn 22.7 25.5 26.8 25.3 14.5 24.9
Hợp đồng ngắn hạn 7.1 9.9 7.7 10.1 0.0 8.6
Hợp đồng theo công việc 7.5 6.0 4.3 7.1 12.9 6.7
Hợp đồng không lương 0.7 0.8 0.9 0.7 0.0 0.7
Không có hợp đồng, làm theo thỏa thuận cá nhân 4.9 8 8.1 5.2 8.1 6.2
Hình thức khác 1.8 3.0 1.3 3.0 3.2 2.5

Phân tích tương quan về giới tính, có thể thấy sự khác biệt, tuy nhiên không nhiều giữa hai nhóm nam và nữ trong chỉ báo về chế độ làm việc. Tỷ lệ nam có chế độ làm việc theo biên chế Nhà nước, hợp đồng vô thời hạn, dài hạn đều cao hơn nữ giới trong khi đó ở phương thức làm việc hợp đồng ngắn hạn, không có hợp đồng, theo thỏa thuận cá nhân thì nữ giới lại chiếm tỷ lệ cao hơn so với nam. Điều này cũng phản ánh một tâm lý của các nhà tuyển dụng và sử dụng lao động trí thức trẻ thường coi trọng nhóm nam hơn so với nhóm nữ, tuy nhiên điều này cũng cần kiểm chứng sâu hơn trong những nghiên cứu về vai trò giới với nghề nghiệp.

Biểu hiện rõ hơn của chế độ làm việc được thể hiện trong tương quan với trình độ học vấn của trí thức trẻ. Nhóm có trình độ trên đại học làm việc trong biên chế Nhà nước chiếm số lượng cao nhất (45,2%). Trong khi 0% nào trên đại học làm việc theo chế độ hợp đồng ngắn hạn thì trình độ cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ khá lớn (7,7% và 10,1%). Như vậy, chế độ làm việc tốt luôn có quan hệ tỷ lệ thuận với bằng cấp, chứng tỏ tay nghề mà trí thức trẻ có được. Điều này cũng phù hợp với yêu cầu chung của các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan nhà nước.

Quan hệ giữa mô hình tổ chức và chế độ làm việc cũng được phản ánh rõ với tỷ lệ trí thức trẻ ở cơ quan nhà nước có biên chế khá cao (64,2%), trong khi với doanh nghiệp tư nhân thì chế độ làm việc của trí thức trẻ lại tập trung trong hai nhóm hợp đồng dài hạn (39,3%) và hợp đồng vô thời hạn (23,0%). Chỉ báo đáng mừng là dù ở khu vực nhà nước hay tư nhân, tỷ lệ trí thức trẻ làm việc theo các chế độ không ổn định như : hợp đồng công việc và theo thỏa thuận là khá ít (dưới 5%), cho thấy việc “giữ người làm việc” đã được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm.

Trong thời gian gần đây, dư luận cũng đã tranh luận khá nhiều về thời gian làm việc hành chính và hiệu quả với công việc. Thực tế ở một số ngành nghề, lĩnh vực đòi hỏi sự năng động và sáng tạo thì việc làm 8 tiếng hành chính đã không đem lại hiệu quả cao và phí phạm trong việc sử dụng nguồn lực lao động. Mặt khác nhiều cơ quan, tổ chức tư nhân còn “lạm dụng” lao động trí thức trẻ như ngoài thời gian hành chính họ vẫn phải sử dụng quỹ thời gian cá nhân của mình cho công việc cơ quan, tổ chức. Kết quả bảng 3 đã phản ánh đúng thực trạng trên khi chỉ có 10,7% trí thức trẻ  làm việc không cố định, theo khoán công việc và 3% làm việc dưới 8 tiếng, trong khi đó hình thức phổ biến nhất là làm việc 8 tiếng theo giờ hành chính (70,2%). Làm việc cả thứ bảy và chủ nhật là 14,4% và  làm việc trên 8 tiếng là 8,8%.

 Một lần nữa, số liệu điều tra lại phản ánh sự khác biệt cơ bản về giới trong hình thức làm việc của trí thức trẻ. Trong khi phần đông nhóm nữ tập trung vào loại hình công việc mang tính hành chính, “8 giờ vàng ngọc” thì tỷ lệ nhóm nam lại cao hơn trong các mô hình làm việc thêm ngoài giờ và làm việc không cố định. Điều này cũng phản ánh sự năng động của nhóm nam trong các loại hình công việc tập trung ở khu vực kinh tế tư nhân, trong khi nhóm nữ hướng sự ổn định trong công việc vào khu vực nhà nước.

     Bảng 3: Tương quan  hình thức làm việc tại cơ quan với giới  (%)

Chế độ Giới tính Khu vực làm việc Chung
Nam Nữ Nhà nước Doanh nghiệp XHDS
– Làm việc giờ hành chính 59.5 73.5 74.2 76.4 66.9 70.2
– Làm việc trên 8 tiếng 10.6 6.5 8.0 9.1 10.1 8.8
– Làm việc dưới 8 tiếng 2.2 4.3 2.9 3.3 1.1 3.0
– Không cố định, khoán 16.8 9.1 10.0 8.3 14.6 10.7
– Làm việc thứ 7, chủ nhật 18.2 13.4 9.6 19.7 21.2 14.4
– Nghỉ phép quý/ hàng năm 21.6 17.8 21.8 21.1 24.8 19.9
– Có bảo hiểm lao động 21.5 29.3 27.0 29.8 36.2 27.9
– Chế độ lễ, tết, nghỉ mát 35.9 36.8 37.8 34.2 33.8 35.9
– Khác 0.9 1.4 1.1 0.8 2.2 1.0

    Bên cạnh những chỉ báo về chế độ làm việc nặng về mô hình hành chính hóa thì kết quả điều tra lại cho thấy một sự trái ngược trong những tiêu chuẩn mà trí thực trẻ được hưởng khi ký kết hợp đồng lao động. Đó là các chế độ ngày nghỉ lễ, tết, nghỉ phép hàng quý, hàng năm và được đóng bảo hiểm lao động. Theo kết quá điều tra những chế độ đó chưa đạt đến ½ số trí thức trẻ trả lời trong mẫu điều tra. Đặc biệt tỷ lệ trí thức trẻ có bảo hiểm lao động là khá thấp, chỉ có 27.9%. Tuy nhiên số liệu này cũng cần kiểm chứng đặc biệt với nhóm trí thức trẻ đang làm việc ở khu vực nhà nước khi tỷ lệ này còn thấp hơn ở khu vực doanh nghiệp và xã hội dân sự (Xem bảng 3).

Về địa vị của trí thức trẻ trong đơn vị công tác, cơ quan, doanh nghiệp, kết quả cho thấy chỉ có 3,8% là thủ trưởng đơn vị, 3,4% là phó thủ trưởng đơn vị, 3,5% giữ vị trí trưởng bộ phận, 2% là phó bộ phận, 1,1% trí thức trẻ là lãnh đạo các bộ phận đoàn thể, tỉ lệ vị trí trí thức trẻ trong mẫu điều tra đảm nhận nhiều nhất là nhân viên chiếm 86,2%.

Theo phân tích tương quan giữa chức vụ với giới tính, nam giới thường giữ chức vụ thủ trưởng đơn vị (nam 5,3% và nữ 1,2%) trưởng bộ phận nhiều hơn, trong khí nữ giới chủ yếu giữ chức vụ phó ( nam 3,3% và nữ 3,6%) và lãnh đạo của các bộ phận đoàn thế (nam 0,8% và nữ 1,6%). Điều đáng ngạc nhiên là kết quả điều tra cho thấy nhóm trí thức trẻ nắm giữ chức vụ thủ trưởng, thủ phó đơn vị khá tương đồng với ở doanh nghiệp (6,7% so với 6,5%) nhưng ở vị trí trưởng, phó bộ phận thì doanh nghiệp lại cao hơn so với khu vực nhà nước (6,1% so với 4,4%).

 Như giả thuyết nghiên cứu ban đầu, kết quả điều tra cho thấy độ tuổi càng tăng thì càng giữ các vị trí chủ chốt trong cơ quan, đơn vị càng nhiều, phản ánh tình trạng sống lâu lên lão làng còn khá phổ biến trong các nhóm lao động ở Việt Nam, không loại trừ họ hoạt động trong lĩnh vực tri thức. Thực tế từ lâu nay, những người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm lâu năm luôn được lựa chọn là những người nắm những vị trí chủ chốt, trọng yếu của cơ quan và không phải trong cơ quan, tổ chức nào, trí thức trẻ cũng được trọng dụng, bổ nhiệm vào những vị trí phù hợp với khả năng của họ.

Tìm hiểu về các nguyên tắc của cơ quan, chế độ kèm theo trong việc hỗ trợ trí thức trẻ thực hiện công việc chuyên môn, kết quả điều tra bảng 4 phản ánh ý kiến hơn ½ trí thức trẻ cho rằng họ được cung cấp trang thiết bị làm việc (64,1%), tiếp đến là được khen thưởng khi làm tốt công việc (53,2%). Tiêu chí thứ 3 có tỷ lệ trí thức trẻ đồng thuận cao là được giao quyền trong công việc chiếm 41,7%. Ngoài ra  các chỉ báo khác như được đưa ra ý kiến quyết định chuyên môn, được đóng góp xây dựng tổ chức, được  hỗ trợ kinh phí trong giao dịch, được có thêm người cộng sự, trợ lý…là chưa nhiều (thấp hơn 20%).

                           Bảng 4: Chế độ làm việc trong cơ quan (%)

Các  chế độ kèm theo công việc Giới tính Trình độ học vấn Chung
Nam Nữ Cao đẳng Đại học Trên đại học
– Trang thiết bị làm việc 61.9 68.2 62.3 67.3 55.2 64.1
– Giao quyền trong công việc 41.7 41.9 40.8 44.8 37.9 41.7
– Khen thưởng 52.7 53.8 53.7 55.5 51.7 53.2
– ý kiến quyết định chuyên môn 25.5 24.0 22.6 25.6 37.9 24.8
– ý kiến xây dựng tổ chức 17.6 14.0 19.5 15 15.5 16.2
– Hỗ trợ kinh phí trong giao dịch 19.0 17.0 16.4 19.8 22.4 18.0
– Có cộng sự, giúp việc, trợ lý 16.6 14.0 15.5 16.9 13.8 15.7
– Khác 1.3 2.1 2.2 1.0 6.9 1.6

Theo phân tích tương quan giữa hai nhóm nam và nữ, có sự chênh lệch không nhiều về tỷ lệ giữa hai nhóm nam và nữ trong các chỉ báo trong khi sự khác biệt lại thể hiện qua các nhóm học vấn. Trong khi các nhóm trí thức trẻ có trình độ cao đẳng và đại học có vẻ được các nhà quản lý ưu ái hơn trong việc cung cấp trang thiết bị làm việc, giao quyền trong công việc thì nhóm có trình độ trên đại học lại có tỷ lệ quyết định về hoạt động chuyên môn cao (37,9% so với 44,8% và 40,8%).

Một điểm khá thú vị trong kết quả điều tra là so sánh 3 khu vực lao động, với tất cả các chỉ báo về chế độ làm việc, khu vực xã hội dân sự chiếm ưu thế hơn so với khu vực nhà nước và doanh nghiệp. Ví dụ như trong vấn đề giao quyền cho trí thức trẻ thì ở khu vực xã hội dân sự là 46,1% trong khi ở khu vực nhà nước và doanh nghiệp là 42,6 và 39,1%. Tương tự như vậy trong các chỉ báo về đưa ra ý kiến quyết định chuyên môn, ý kiến quyết định xây dựng tổ chức trí thức trẻ ở khu vực xã hội dân sự cũng có tiếng nói cao hơn hai khu vực còn lại. Nhìn chung sự phát triển của các tổ chức NGOs, NPOs và các đoàn thể xã hội, đã và đang tạo ra sự khác biệt trong quản lý và sử dụng nguồn lực trí thức trẻ.

Thu nhập và điều kiện sống

Khi tìm hiểu về lương của trí thức trẻ hiện nay kết quả điều tra cho thấy trí thức trẻ là nhóm có thu nhập cao hơn so thu nhập trung bình của xã hội với tỷ lệ dao động từ 1 triệu – 2,99 triệu chiếm 49,5%. Nhóm trí thức trẻ có thu nhập  từ 3 triệu – 4, 99 triệu cũng chiếm tỷ lệ khá cao, hơn 1/3 trong mẫu điều tra (34,6%), mức lương từ 5 – 10 triệu chiếm 8,4% và mức lương trên 10 triệu là 1,7%.. Ngược lại trí thức trẻ có mức thu nhập thấp, lương dưới 1 triệu chỉ có 5,8%.

Như vậy có thể thấy loại hình lao động tri thức hiện nay đang có thu nhập khá tốt so với các loại hình lao động phổ thông và so các thế hệ trí thức trước đây, đặc biệt là ở khu vực doanh nghiệp khi mọi thứ trả công đều được đánh giá trên những tiêu chí thị trường.

So sánh về mức lương giữa nam và nữ, có thể thấy có sự khác biệt cơ bản về lương theo giới tính. Trong khi nữ giới tập trung chủ yếu ở mức lương thấp và trung bình từ 1 triệu – 2,99 triệu/ tháng thì nam giới lại cao hơn ở mức từ 3 triệu – 4,99 triệu (39,9%) và trên 5 triệu. Điều này cũng phù hợp với chỉ báo lao động ở phần trên khi nam giới có thời gian lao động thứ 7, chủ nhật, làm ngoài giờ cao hơn so với nhóm nữ. Mặt khác về tính chất công việc nam giới cũng thường có ưu thế hơn so với phụ nữ khi nhận những công việc khó, khắt khe và đương nhiên là kèm với nó là mức thu nhập hấp dẫn hơn theo thực tế thị trường.

Xem xét vấn đề lương bổng đối với các khu vực lao động, kết quả điều tra cho thấy ở mức độ thu nhập cao, doanh nghiệp luôn chiếm ưu thế hơn hai khu vực nhà nước và xã hội dân sự. Ví dụ thu nhập của trí thức trẻ ở doanh nghiệp từ 5 triệu trở lên chiếm 14.3%, trong khi ở nhà nước mức thu này chỉ có 6,2 trí thức trẻ đạt được. Thu nhập của nhóm trí thức trẻ ở khu vực NGO là thấp nhất do loại hình của tổ chứ này chủ yếu dựa trên các hoạt động dự án và phi lợi nhuận.

Bảng 5: Tương quan mức lương với giới tính và Trình độ học vấn (%)

Mức lương Giới tính Trình độ học vấn Chung
Nam Nữ Cao đẳng Đại học Trên đại học
Dưới 1 triệu 4.7 7.5 11.6 2.4 0.0 5.8
1 triệu – 2,99 triệu 42.6 59.6 48.7 49.2 66.7 49.5
3 triệu – 4,99 triệu 39.9 27.0 35.2 35 27.5 34.6
5 triệu – 9,99 triệu 11.1 4.1 4.0 10.8 5.9 8.4
Trên 10 triệu 1.8 1.6 0.5 2.9 0.0 1.7

Ngoài nguồn thu chính là lương, để phân tích rõ hơn thu nhập của trí thức trẻ hiện nay, tìm hiểu về các nguồn thu của họ, kết quả điều tra cho thấy đa số trí thức trẻ đều có những nguồn thu ngoài luồng. Theo kết quả điều tra hơn một nửa trí thức trẻ trong mẫu điều tra có phụ cấp thêm của cơ quan chiếm 50,5%, có thu nhập từ nguồn làm thêm trong cơ quan chiếm 12%, hoạt động làm thêm ngoài cơ quan chiếm 17,9%.  Bên cạnh đó, có 17,7% trí thức trẻ hiện nay phải nhận sự hỗ trợ kinh tế từ gia đình, đặc biệt chiếm tỷ lệ cao trong nhóm nữ. Số lượng trí thức trẻ không có nguồn thu thêm chỉ chiếm 21% trên tổng mẫu điều tra.

Như vậy, qua một số chỉ báo về hoạt động nghề nghiệp của trí thức trẻ đã phản ánh phần nào tính năng động của trí thức trẻ trong hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp và lao động, một xu thế tất yếu khi thu nhập đang ngày càng trở thành thước đo cho các sản phẩm lao động trong thị trường. Tuy nhiên cũng có một thực tế đang diễn ra là có sự phân hóa khá cao giữa các nhóm phân theo giới tính, độ tuổi, học vấn và khu vực làm việc. Tỷ lệ trí thức trẻ giữ các cương vị quản lý chưa nhiều. Mức lương hiện nay của trí thức trẻ mặc dù cao hơn so với các nhóm xã hội khác nhưng vẫn không đảm bảo nhu cầu cuộc sống của bản thân và gia đình. Bên cạnh đó, không phải trí thức trẻ nào cũng có thể tìm được những công việc làm thêm theo mong muốn bởi sự cạnh tranh của thị trường luôn có những yêu cầu, đòi hỏi khắt khe mà họ khó có thể đáp ứng được.

Trí thức tham gia sản xuất, minh họa internet

Số liệu điều tra đã là một minh chứng phản ánh về bức tranh tương phản giữa quá trình lao động và những điều kiện cần thiết để lao động trí thức trẻ có thể yên tâm sáng tạo và cống hiến. Trong chừng mực của loại hình lao động tri thức và đối tượng trẻ, những khả năng về thu nhập và có điều kiện sống luôn khó khăn thì trên thực tế họ vẫn còn phải tìm kiếm những cơ hội khác ngoài thị trường. Điều đó cũng có thể giải thích như một trong những tác nhân cơ bản của quá trình lãng phí chất xám, chảy máu chất xám trong giới trẻ hiện nay.

Những chủ trương, chính sách chung của nhà nước là thu hút, trọng dụng nhân tài, tạo điều kiện và môi trường tốt nhất cho lao động, sáng tạo của trí thức trẻ thì cần phải được nghiên cứu và cụ thể hóa bằng các cơ chế tại các cơ quan, tổ chức có trí thức trẻ đang làm việc, như vậy thì trí thức trẻ mới có điều kiện để phát huy khả năng của mình phục vụ sự  phát triển cơ quan, tổ chức nói riêng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung.

Đặng Vũ Cảnh Linh, Bài đăng trên tạp chí Truyền thống và Phát triển, ấn phẩm khoa học  năm 2014

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan