Chúng ta đều biết rằng gia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng cho sự ổn định và phát triển. Gia đình đồng thời cũng là đối tượng và mục tiêu tuyên truyền, vận động của các chương trình dân số – sức khoẻ sinh sản. Bạo lực gia đình là một sự lệch chuẩn có những tác động tiêu cực nói riêng tới các chính sách, chươn trình phát triển đối với gia đình nói riêng và sự phát triển toàn diện của gia đình nói chung.
Những năm gần đây, gia đình Việt Nam đã có nhiều biến đổi sâu sắc về mặt quy mô, cấu trúc và phương thức tổ chức hoạt động sống. Bên cạnh đó, gia đình cũng phải đối mặt và xử lý không ít những vấn đề khó khăn, phức tạp nảy sinh dưới tác động của nền kinh tế thị trường. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự khủng hoảng trong những mối quan hệ gia đình đang là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các hiện tượng tiêu cực như ngoại tình, ly thân, ly hôn, cha mẹ bỏ bê không chăm sóc con cái, con cái ngược đãi cha mẹ…
Một trong những vấn đề đang thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và dư luận xã hội là tình trạng bạo lực trong gia đình vẫn còn tồn tại ở một số khu vực nông thôn hiện nay. Chúng ta vẫn chưa có những số liệu thống kê chính thức về bạo lực gia đình và các dạng của bạo lực gia đình, nhưng những hậu quả mà bạo lực gia đình gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Nó không chỉ gây tổn thương tới cuộc sống, sức khoẻ, danh dự của các thành viên trong gia đình, mà còn vi phạm tới các chuẩn mực, đạo đức của xã hội, tiếp tay cho sự gia tăng của các tệ nạn như mại dâm, ma tuý, người lang thang cơ nhỡ, nạn buôn bán trẻ em và phụ nữ…Riêng trong vấn đề sức khoẻ sinh sản, bạo lực gia đình là mối nguy hại to lớn đối với phụ nữ, trẻ em, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến các chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản.

Nằm trong khuôn khổ dự án nghiên cứu về bạo lực gia đình, vừa qua Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển – Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã tiến hành trưng cầu ý kiến 300 hộ gia đình, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung tại ba địa bàn Hà Nội, Thái Bình và Phú Thọ nhằm tìm hiểu và làm rõ vấn đề này. Dưới đây là một số kết quả phân tích số liệu từ cuộc nghiên cứu.
Về vấn nạn Bạo lực gia đình :
Tìm hiểu về mối quan hệ gia đình và bạo lực gia đình, kết quả điều tra 300 hộ gia đình cho thấy 67.4% người trả lời cho rằng gia đình mình tương đối hoà thuận, 30.6 % thừa nhận gia đình có mâu thuẫn, xung đột, trong đó 2.7% khẳng định có bạo lực gia đình.
Đánh giá về quan hệ gia đình là một vấn đề khá tế nhị. Để mở rộng thông tin thu thập, chúng tôi sử dụng câu hỏi gián tiếp là ông bà đánh giá về mối quan hệ trong các gia đình hàng xóm của mình. Kết quả điều tra thu được cho thấy tỷ lệ đánh giá gia đình hoà thuận giảm xuống 44.1 % và mâu thuẫn, xung đột gia đình tăng lên 55.9 %. Đáng quan tâm là số người cho rằng từ mâu thuẫn, xung đột dẫn đến bạo lực gia đình là 11.8 %.
Như vậy, qua số liệu điều tra cho thấy bên cạnh những gia đình gìn giữ được mối quan hệ hoà thuận và tích cực, cũng có không ít các gia đình đang gặp những mâu thuẫn, rắc rối và có hành vi sử dụng bạo lực để giải quyết các vấn đề của gia đình.

Một phát hiện khá quan trọng của chúng tôi là các kiểm định thống kê phản ánh mối tương quan khá chặt giữa gia đình hoà thuận và các đặc điểm về địa bàn nghiên cứu, thu nhập gia đình và học vấn của người trả lời. Gia đình ở thành phố, gia đình có thu nhập ổn định và người trả lời có trình độ học vấn cao cho thấy các quan hệ trong gia đình ít xung đột và bạo lực. Điều này có thể giải thích là những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần, đặc biệt trong sự chênh lệch về khu vực có thể tạo cơ hội cho bạo lực gia đình xuất hiện và phát triển.
Trong loại hình xung đột và bạo lực gia đình ở địa phương, dựa trên nhận xét của người trả lời cho thấy hiện tượng chồng đánh vợ là hiện tượng phổ biến nhất chiếm tỷ lệ 81.1%. Các hiện tượng khác cũng có tỷ lệ người trả lời khá cao như chồng chì chiết chửi mắng vợ ( 68.7%), vợ chì chiết chửi mắng chồng (66.1%), cha mẹ đánh đập con cái (63.5 %) và anh em đánh nhau (41.1%). Đáng lưu ý là hành vi bạo lực nghiêm trọng đáng bị lên án là con cái đánh đập cha mẹ cũng chiếm tới 14.5%.
Các chỉ báo định lượng bước đầu đã khẳng định tình trạng bạo lực gia đình đang tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Kết quả mà chúng tôi thu được từ thảo luận các nhóm tập trung ở các địa bàn nghiên cứu còn là minh chứng xác thực và đầy đủ hơn về bức tranh bạo lực gia đình. Nó phản ánh mức độ khá thường xuyên và phổ biến của các hiện tượng này, đặc biệt đối với hiện tượng chồng đánh vợ :
“ Cả nhóm ngồi đây chỉ trừ một anh thôi còn tất cả đều đánh vợ. Đánh không nặng đâu, chỉ tát tai hoặc đấm vài cái. Chuyện ấy thì ở địa phương nhiều lắm..”
( Thảo luận nhóm nam, thị trấn Thanh Nê, Thái Bình )
“1 năm có 6, 7 vụ đánh vợ nghiêm trọng còn đấm tát thì rất nhiều. Có ông nhốt vợ trong buồng khoá cửa không cho chạy, ra đấm vào thụi. Nhiều trường hợp vợ bị đánh nhưng không dám nói ra. Khi phát hiện thì mới nói”.
( Thảo luận nhóm, cán bộ lãnh đạo thị trấn Thanh Nê, Thái Bình )
Đối với các hành vi bạo lực trong gia đình, qua kết quả phỏng vấn sâu nạn nhân, chính quyền và cộng đồng, chúng tôi nhận thấy hiện nay các hành vi này là khá đa dạng, có những mức độ khác nhau và phụ thuộc vào những tình huống cụ thể. Có những trường hợp bạo lực xảy ra như chửi mắng, xô đẩy, đập phá đồ đạc trong gia đình nhưng cũng có những trường hợp bạo lực nghiêm trọng như đánh đấm, dùng roi vọt, thậm chí cố tình hành hung và gây thương tích cho các nạn nhân. Một thực tế là hầu hết các trường hợp bạo lực gia đình đều phản ánh xu hướng gia tăng về mức độ và tính chất các hành vi bạo lực theo thời gian. Có thể hiểu là khi sử dụng bạo lực để giải quyết những vấn đề của gia đình, điều đó đồng nghĩa với việc lại tạo ra mâu thuẫn và xung đột gia đình, đồng thời dẫn đến bạo lực gia đình. Điều đó giống như một vòng tròn luẩn quẩn nhưng hậu quả của bạo lực gia đình ngày càng trở nên nghiêm trọng và bức xúc:
“Cứ 3 trên 10 phụ nữ bị đánh. Chồng mắng chửi vợ thường xuyên, vợ cãi, cằn nhằn. Chồng nói tục, vợ bực quá cũng có lúc cũng nói tục, chồng cáu hơn vợ. Có trường hợp vợ bị đánh nhiều quá cũng đánh lại.”
(Thảo luận nhóm nữ, thị trấn Đoan Hùng, Phú Thọ)
Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy bạo lực gia đình là một vấn đề khá phức tạp và có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. Qua trưng cầu ý kiến các hộ gia đình cho thấy bốn nguyên nhân được các gia đình lựa chọn nhiều nhất là gia đình có người cờ bạc rượu chè (81.1 %), gia đình nghèo đói, thiếu việc làm (75.7%), gia đình coi nhẹ việc giáo dục nề nếp gia phong (69.7%) và có người ngoại tình (69.5%).
Đối với một số nguyên nhân khác cũng có tỷ lệ người trả lời trên 60 % như ghen tuông thái quá, gia đình không quan tâm đến nhau, ông bà cha mẹ không gương mẫu để con cháu noi theo, con cháu không hiếu thảo. Đối với các nguyên nhân trên 50 % người trả lời như người vợ hay nói nhiều, con cái bỏ bê học hành, tư tưỏng trọng nam khinh nữ. Các nguyên nhân khác như thói quen đàn ông, sức khoẻ, tình dục không phù hợp chiếm tỷ lệ dưới 40 %.
Mặc dù có rất nhiều nguyên nhân được đưa ra thảo luận xung quanh vấn đề bạo lực gia đình, tuy nhiên qua kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, chúng tôi nhận thấy một trong những nguyên nhân cơ bản là tình trạng bất bình đẳng giới. Có thể thấy điều này biểu hiện ngay trong nhận thức và hành vi của những người trong cuộc. Đối với những người chồng gây ra bạo lực, bạo lực không chỉ là cách giải quyết các mâu thuẫn xung đột thông thường mà còn là cái để họ bày tỏ uy quyền, mệnh lệnh, sự áp đặt và gia trưởng đối với người phụ nữ trong gia đình. Điều nguy hiểm là họ xử lý bằng các hành vi mang tính bạo lực tuỳ tiện, giống như thói quen bình thường :
“Lý do đánh vợ thì đa dạng lắm : không hợp nhau, chồng đi với gái, say rượu, bực vợ làm sai ý mình, nghi vợ làm sai cũng đánh. Thường con rể đánh vợ thì đối với nhà vợ không tốt. Con rể nói vào băng chửi nhà vợ và quay về phía nhà vợ chửi. Có 1 số trường hợp chạy vào chính quyền nhờ. Có trường hợp hoà giải xong rồi vẫn đánh. Có trường hợp chỉ đi quá giờ là đánh. Có trường hợp đuổi con ra sân, đóng cửa đánh vợ bằng roi mây. Hàng xóm sang vây cũng không mở cửa. Có trường hợp vợ đẻ con trai nhưng vợ béo còn con gầy cũng đánh. Nói rằng vợ không biết nuôi con. Cho con uống thuốc không vừa ý chồng cũng đánh. Có một vài trường hợp khi phụ nữ mệt nhọc, ốm đau không thoả mãn sinh lý cũng bị đánh. Có trường hợp như vợ ông G., trước đây không muốn lấy ông G. , ông ta ghi âm lại, đến khi lấy được bà rồi, ông ta mở băng lại cho nghe và đánh bà . Đi ngủ bắt vợ để đôi dép sáng dậy phải đặt chân đúng đôi dép. Nếu sai bị chửi. Quần áo không để đúng quy định sẽ chém. Loại phụ nữ nói nhiều, cẩu thả, hay cãi lại, cư xử không khéo, làm ăn không đúng ý chồng thường bị đánh”.
( Thảo luận nhóm lãnh đạo thị trấn Thanh Nê, Thái Bình )
Từ phía các nạn nhân của bạo lực gia đình phần lớn là những vợ, bên cạnh vị trí thấp kém hơn trong gia đình, bản thân nhận thức của họ về pháp luật và cách xử lý các mối quan hệ gia đình cũng không đầy đủ dẫn đến tình trạng họ không biết cách tự bảo vệ mình hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài. Điều đó càng làm cho bạo lực gia đình có cơ hội phát triển trong bóng tối và trở nên nguy hiểm không thua kém các tệ nạn xã hội khác. Đây là lời tâm sự của một phụ nữ là nạn nhân thường xuyên từ các hành vi bạo lực của người chồng :
“ Chồng tôi luôn to tiếng trước, chửi tục. Tôi phải nín nhịn, nếu mà cãi thì có thể bị đánh chết, đặc biệt khi chồng tức lên thì càng phải nhịn. Thường tôi bị đánh vào ban đêm hoặc lúc con đi học, chồng tôi không muốn cho con cái biết. Anh ta thường nhốt vợ khi đánh, chửi bới rất tục, đánh, đấm vào mặt nhiều lần, bạ cái gì nhặt được là ném vào mặt. Có lần vớ được gậy thì đánh vào người. Đã 2 lần tôi bị bóp cổ, sau không ăn uống được phải đi xông cuống họng. Có 1 lần tôi bị đánh vào sống mũi, ra nhiều máu tràn đầy mặt”.
(Phỏng vấn sâu – nữ, 35 tuổi, Thái Bình, làm ruộng)
Có rất nhiều trường hợp như người phụ nữ trên. Thực tế cho thấy hiện nay công tác ngăn chặn và xử lý bạo lực gia đình ở nhiều địa phương còn khó khăn và chưa có những biện pháp cụ thể. Sự phối hợp giữa chính quyền, đoàn thể và cộng đồng trong chương trình hành động phòng chống bạo lực gia đình còn tỏ ra lúng túng và chưa đem lại hiệu quả thiết thực ngoài công tác hoà giải hoặc chỉ xử lý những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Điều đó có nghĩa là bạo lực gia đình vẫn có cơ hội phát sinh, phát triển và ảnh hưởng không tốt đối với gia đình và xã hội.
Bạo lực gia đình trong vấn đề sức khoẻ sinh sản
Như phân tích ở phần trên, bạo lực gia đình là một vấn đề khá bức xúc, ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều nhóm xã hội, đặc biệt là đối với phụ nữ. Chúng ta đều biết, phụ nữ ngoài vai trò chính trong sản xuất nông nghiệp và lao động nội trợ, họ còn chịu trách nhiệm trong vấn đề sinh sản và nuôi dạy con cái. Trong những năm gần đây, tình hình chăm sóc sức khoẻ sinh sản ở nước ta được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên công tác tuyên truyền và thực hiện quyền sức khoẻ sinh sản của phụ nữ vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở các địa phương nơi bạo lực gia đình vẫn còn đang tồn tại một cách công khai, được coi là những chuẩn mực trong nhận thức, hành vi của một số nhóm người chồng.
Đối với những hành vi bạo lực với phụ nữ trong thời gian sinh đẻ, nuôi con, mặc dù không phải là một hiện tượng phổ biến, song kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy những hành vi này vẫn tồn tại từ nhiều năm ở một số gia đình. Có 9.9 % người trả lời khẳng định hiện tượng phụ nữ có thai bị chồng đánh đã xảy ra tại địa phương. Tỷ lệ này đặc biệt cao hơn ở khu vực nông thôn ( 11.9 %) và ở Thái Bình (17%).
Đối với một chỉ báo khác về hiện tượng phụ nữ sinh con sau 5 tháng bị chồng đánh, cũng có 9.9% người trả lời thừa nhận là có tồn tại. Con số này ở khu vực nông thôn là 10.9%, Thái Bình là 16%, trong khi thấp hơn ở thành thị và ở địa bàn hai tỉnh Hà Nội và Phú Thọ.
“Từ 1989 – 1999 tôi bị đánh 12 trận gây thương tích nặng. 1996 tôi được trạm xá cho đi học y sĩ. Chồng tôi ngăn cấm không cho đi. Gia đình chồng bảo vệ khuyến khích nên tôi cứ đi học ở tỉnh. Đi về, chồng đánh tối tăm mặt mũi. 1999 tôi tốt nghiệp về càng bị đánh nhiều trận. Chồng gọi là “con đĩ”. Tôi luôn bị chồng lăng mạ tục tằn. Khi tôi có thai cũng bị đánh nhưng nhẹ hơn”
(Phỏng vấn sâu – Phụ nữ 40 tuổi, y sĩ, Thái Bình )
Phân tích về các hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong thời kỳ sinh sản, kết quả điều tra cho thấy trong tổng số người trả lời quan sát được các trường hợp phụ nữ bị chồng đánh có những hành vi đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm như phụ nữ mang thai bị đánh bằng vật nặng (18.8%), bị chồng đấm đá (18.8%) và phụ nữ sinh con sau 5 tháng bị chồng đấm đá (41.2 %).
Như vậy mặc dù đo lường thông qua một số chỉ báo gián tiếp song kết quả điều tra cho thấy khá rõ mức độ nghiêm trọng của các hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong thời kỳ sinh sản, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Hậu quả của nó gây ra không chỉ ảnh hưởng đối với phụ nữ mà còn xâm hại trực tiếp đến con cái họ. Qua các kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm của chúng tôi, hầu hết các trường hợp bạo lực đối với phụ nữ trong thời gian mang thai đều gây thương tật lâu dài cho người mẹ và dẫn đến kết quả không tốt cho thai nhi:
“Ở xã Phú Hoà có người chồng đánh vợ bắt ra hè nằm. Đánh 2 lần vợ truỵ thai, lần khác vợ chửa đến tháng thứ 7 thì bị chồng đẩy xuống ao”.
( PVS một cán bộ Phòng thi hành án huyện Kiến Xương, Thái Bình )
“ Chị H. khi đang có chửa 3 tháng bị chồng nghi lấy 250.000 đ. Mẹ chồng thúc con trai đánh vợ truỵ thai. Sau đó, họ tìm thấy tiền rồi nhưng vẫn đánh chị. Bà mẹ bắt con trai ngủ gần giường mình để kiểm soát và không cho con ngủ với vợ”.
(Thảo luận nhóm, lãnh đạo thị trấn Thanh Nê, Thái Bình )
Có thể nói những nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong thời kỳ chăm sóc sức khoẻ sinh sản là khá đa dạng. Tuy nhên kết quả phỏng vấn sâu của chúng tôi cho thấy với nhiều trường hợp đó vẫn là tình trạng bất bình đẳng giới mà trong đó, đối với những người chồng vũ phu họ hành động theo thói quen thường nhật và bất kể là vợ đang mang thai hay nuôi con nhỏ.
Trong nhiều trường hợp khác, bất bình đẳng giới biểu hiện ngay trong quan niệm về sinh con trai của gia đình và cộng đồng. Các hành vi bạo lực xuất phát từ phía người chồng, gia đình chồng có nguyên nhân từ việc vợ đẻ con gái hoặc vợ không chịu đẻ, vợ mang thai con gái mà không chịu nạo phá thai. Nhiều phụ nữ vẫn còn mang nặng tâm lý bị lệ thuộc, họ cho rằng mình có lỗi nên nhiều trường hợp họ chấp nhận các hành vi bạo lực mà thiếu sự phản kháng cần thiết.
“ Trước nếu phụ nữ không đẻ con trai thì bị đánh, bắt đẻ thêm, nếu không đẻ được thì gửi ngoài hoặc bỏ vợ. Nhiều phụ nữ thích con gái hơn nhưng không yên lòng vì sợ chồng đi với gái lại cố đẻ.”
(PV nhóm nữ, thị trấn Đoan Hùng, Phú Thọ)
Hiện tượng bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong thời kỳ chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói riêng là một tệ nạn không thể chấp nhận được. Nó vi phạm những nguyên tắc tối cao và chuẩn mực đạo đức của xã hội, đồng thời đi ngược lại truyền thống của dân tộc. Điều đáng nói là vẫn còn những người trong cuộc và cộng đồng chưa nhận thức hết được hậu quả và những tác hại do bạo lực gia đình gây ra. Qua trưng cầu ý kiến 300 hộ gia đình cho thấy hầu hết người trả lời cho rằng hậu quả của bạo lực gia đình dẫn đến tình trạng gia đình tan nát, ly dị, ly thân (49.7%), chồng vợ, con cái tiêm nhiễm tệ nạn xã hội (34.2%) và con cái bỏ đi lang thang (26.3 %). Tuy nhiên với những hậu quả trực tiếp và nghiêm trọng của bạo lực gia đình đối với người phụ nữ là người vợ bị tàn tật ốm đau, thậm chí bị chết lại chưa được người dân nhận thức đầy đủ.
Một vài khuyến nghị :
Bạo lực gia đình là một vấn đề của gia đình, cộng đồng và xã hội. Chúng ta cần sớm xây dựng nhưng giải pháp đồng bộ và hiệu quả để ngăn chặn cũng như loại bỏ tệ nạn này ra khỏi đời sống văn hoá xã hội.

Từ những nghiên cứu về bạo lực gia đình và bạo lực gia đình trong vấn đề sức khoẻ sinh sản hiện nay, bước đầu chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị sau :
Nâng cao nhận thức của phụ nữ và cộng đồng về gia đình và phòng chống bạo lực gia đình :
Tổ chức truyền thông về giới, bình đẳng và hòa nhập giới, chăm sóc sức khỏe sinh sản và chống bạo lực gia đình. Có thể tổ chức các hình thức truyền thông rộng rãi dưới nhiều hình thức cho cán bộ lãnh đạo, các tổ chức đoàn thể, các báo cáo viên từ đó truyền thông xuống các hộ gia đình và phụ nữ. Các lớp tập huấn cần tổ chức gọn nhẹ nhưng nội dung sâu sắc, cần tập trung vào các chủ đề sau :
Vấn đề bình đẳng giới và tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam và trên thế giới. Nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình. Các hoạt động của liên hợp quốc, chính phủ, phong trào phụ nữ quốc tế và các lực lượng tiến bộ trong việc ngăn chặn bạo lực gia đình. Công ước Chống mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ – (CEDAW) , Công ước quốc tế về quyền trẻ em… Tuyên truyền, giáo dục về pháp luật Việt Nam liên quan đến bạo lực gia đình.
Bên cạnh đó cần lồng ghép hoạt động tuyên truyền chống bạo lực gia đình vào các chương trình dân số, sức khoẻ sinh sản, các chương trình sinh hoạt ở địa phương như họp tổ dân phố, họp thôn, xóm, đoàn thể.
Xây dựng mạng lưới, có sự thống nhất chỉ đạo hành động từ chính quyền xuống các tổ chức và nhân dân địa phương.
Thành lập bộ phận phòng chống bạo lực gia đình và các tệ nạn xã hội khác (PCBLGĐ & TNXH) có trách nhiệm và quyền hạn theo quy định của địa phương và mạng lưới thành viên và cộng tác viên đến tận thôn xóm. Bộ phận này có thể chia thành hai nhóm hòa giải : “Nhóm phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc” và “Nhóm nam giới văn minh không dùng bạo lực”. Nhóm phụ nữ sẽ giúp đỡ nạn nhân là phụ nữ về cả vật chất và tinh thần, còn nhóm nam giới ( Men to men ) sẽ giáo dục những người đàn ông hay đánh vợ con và những người thân khác. Các thành viên của nhóm có khả năng làm tư vấn cho các nạn nhân cũng như ngừơi gây ra bạo lực.
Xây dựng các Trung tâm cứu giúp phụ nữ bị bạo lực tại địa phương. Các Trung tâm này nằm trong trạm xá, bệnh viện của địa phương. Giao trách nhiệm cho các cán bộ y tế có trách nhiệm chữa trị vết thương cho nạn nhân. Các bệnh xá xã, bệnh viện huyện không được có thái độ kỳ thị hoặc khó khăn đối với nạn nhân của bạo lực gia đình. Các chuyên gia tư vấn sẽ là thành viên của các tổ hoà giải ở địa phương. Động viên sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân địa phương với nạn nhân như các thành viên trong gia đình, họ hàng, bạn bè của gia đình nạn nhân, người hàng xóm.
Phối hợp với chương trình xây dựng gia đình văn hoá mới và phòng chống tệ nạn xã hội ở địa phương. Xây dựng các câu lạc bộ gia đình hạnh phúc không có bạo lực gia đình.
Đưa vấn đề bạo lực gia đình và xử lý các hành vi bạo lực gia đình vào quy định tại địa phương (theo kiểu hương ước) và giám sát việc thực hiện các quy định này. Phát huy vai trò tích cực, chủ động của gia đình, dòng họ trong việc giáo dục và ngăn ngừa bạo lực gia đình. Đề nghị các thành viên gia đình cam kết, ký vào văn bản về lối sống văn hoá. Một điều đáng chú ý là những kẻ thường đánh vợ khi con cái còn nhỏ, khi con cái lớn thì họ ít đánh hoặc ngừng đánh. Một phần vì con cái ngăn cản, phần khác họ không muốn biểu lộ những hành vi tàn bạo trước con cái. Trong chương trình giáo dục những người này, có thể chúng ta nên sử dụng áp lực từ con cái.
Tạo điều kiện cho nam giới sinh hoạt vào các tổ chức như tổ chức Hội phụ nữ đối với phụ nữ, chẳng hạn, củng cố và phát triển các Hội nông dân hoặc các đoàn thể khác tại địa phương cho nam giới.
Tăng cường hiệu lực của pháp luật ở địa phương
Giáo dục pháp luật cho nhân dân địa phương. Trợ giúp pháp lý tuyên truyền pháp luật, tư vấn cho phụ nữ. Từng bước xây dựng cơ chế thực thi pháp luật trong đó có Luật hôn nhân gia đình tại địa phương.
Trang bị các kỹ năng và tổ chức các chương trình phòng ngừa, ngăn chặn và giải quyết nạn bạo lực gia đình. Trang bị các kỹ năng làm việc cụ thể khi bạo lực xảy ra, bao gồm công tác cứu giúp nạn nhân và con cái họ, giáo dục, trừng phạt kẻ phạm tội, nhanh chóng ổn định an ninh trật tự ở địa phương.
Lập quỹ phòng chống bạo lực gia đình
Để các chương trình phòng chống bạo lực gia đình có thể triển khai và đạt hiệu quả trong thực tiễn, cần xây dựng quỹ phòng chống bạo lực gia đình, trong đó một mặt xin hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, mặt khác cần huy động mạnh mẽ các nguồn kinh phí đóng góp từ các cá nhân, những người hảo tâm, các tổ chức xã hội và quốc tế. Số tiền gây Quỹ sẽ dành để chi trả cho việc chăm sóc, hỗ trợ và cứu giúp các nạn nhân trong chương trình hành động của địa phương.
Đặng Vũ Cảnh Linh, Tạp chí Báo chi và Tuyên truyền số 3/2004
