Bí quyết dạy con đáng ngưỡng mộ trong gia đình “nhà Nho cuối cùng” của Việt Nam

“Với các con, tôi luôn nhắc nhở chúng phải biết thương yêu, nhường nhịn nhau. Phải theo dõi các con thường xuyên, nếu chúng mắc sai lầm thì cha mẹ phải nhắc nhở, để đến khi con hình thành những thói hư tật xấu mới dạy dỗ thì không còn hiệu quả nữa”, đó là cách mà Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu – người được người đương thời tôn xưng là “nhà Nho cuối cùng” của Việt Nam răn dạy các thế hệ con cháu.

GS Vũ Khiêu bên con cháu

“Phúc đức tại mẫu”

Dù đã ở vào độ tuổi xưa nay hiếm nhưng GS Vũ Khiêu vẫn miệt mài viết, dịch, nghiên cứu học thuật. Ông là người coi trọng chữ “tri” (tri thức – PV) và luôn hướng các thế hệ con cháu theo điều này. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho giáo tại làng Hành Thiện (xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), ngay từ nhỏ GS Vũ Khiêu đã học thuộc lòng “tứ thư”, “ngũ kinh”. Sau này, ông nghiên cứu về triết học, chịu ảnh hưởng của tinh thần Nho học là không quá chú trọng tới chuyện phú quý, công danh mà quan tâm nhiều hơn tới cốt cách tinh thần.

“Trước kia, mối quan hệ gia đình thường chặt chẽ, gần gũi hơn bởi các thành viên thường xuyên gặp mặt, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Vì thế, con cái cũng được thừa hưởng những đức tính tốt từ ông bà, cha mẹ. Còn bây giờ, với nhịp sống hiện đại, cha mẹ thường dành nhiều thời gian cho công việc, ít có điều kiện chăm sóc cho con cái hơn. 

Có những khi, cha mẹ đi làm về thì con cái đã ngủ say. Đến sáng, họ lại đi làm sớm để con cho người giúp việc trông nom hoặc phó mặc cho nhà trường… Nhiều gia đình đã quen với nếp sống hiện đại mà vô tình làm mất đi những nét đẹp của một gia đình truyền thống”, GS bày tỏ.

Đối với gia đình mình, GS luôn cố gắng giữ gìn những nét đẹp của một gia đình truyền thống nhưng cũng không quên điều chỉnh cho phù hợp với nhịp sống hiện đại. Từ đó, ông tìm ra phương pháp dạy dỗ các con trưởng thành và sống có ích cho xã hội. Theo GS, điều này xuất phát từ truyền thống hiếu học của gia đình. 

Ông kể: “Không chỉ cụ ông, cụ bà tôi cũng xuất thân trong một gia đình Nho học. Thân sinh của cụ bà từng đỗ tú tài nên dù là phận nữ, cụ vẫn được cha dạy học chữ. Đến khi về bên này làm dâu, cụ bà đã khuyến khích mọi người trong gia đình theo con đường học vấn. Cụ sinh được 4 người con (2 trai, 2 gái). Lẽ đương nhiên, hai người con trai được cụ rèn giũa và đều đã đỗ đạt thành tài. Đến khi 2 cô con gái đi lấy chồng, cụ cũng yêu cầu các con rể phải dùi mài kinh sử. Thế nên ngày ấy, người ta mới gọi gia đình tôi là tứ tử đăng khoa”.

Tự hào về bề dày truyền thống gia đình, giáo sư khẳng định: “Trong khi cha dạy chữ thì mẹ là người dạy tôi cách sống. Ngay từ nhỏ, tôi đã được bà uốn nắn từ cách ăn mặc, nói năng, đi đứng cho đến cách ứng xử với những thành viên khác trong gia đình. Từng câu, từng từ tôi nói ra nếu không đúng đều được mẹ nhắc nhở. Bà luôn yêu cầu khi nói chuyện thì lời phải rõ ràng, từ tốn, không nói to hay gắt gỏng. Bà dạy tôi khi chào hỏi người lớn thì phải nghiêm cẩn chắp hai tay. 

Khi nhà có khách, nếu tôi đang cởi trần thì phải mặc áo để giữ phép lịch sự. Trong lúc ăn cơm, nếu khách chưa đứng dậy thì mình cũng không được phép đứng lên trước. Đó là những lễ giáo rất quan trọng và phải hình thành thói quen từ nhỏ. Mẹ là người rất nghiêm khắc và tôi hiểu bà làm như vậy cũng vì muốn con cái sống chuẩn mực hơn”, GS chia sẻ.

Thuở thiếu thời, GS cũng như bao người khác, từng là một đứa trẻ nghịch ngợm. Ông tâm sự: “Khi còn nhỏ, tôi cũng mải chơi lắm, không chuyên tâm vào chuyện học hành nên kết quả lúc nào cũng thấp nhất lớp. Sau đó, cha mẹ đã gửi tôi cho một người anh họ. Hoàn cảnh của người anh này cũng rất khó khăn. Cha anh mất sớm nên mẹ đã đưa anh một số tiền nhỏ để nhờ kèm cặp, bảo ban tôi. Vậy là 11 tuổi, tôi đã phải xa nhà theo anh lên Thái Bình học. 

Có một lần, do tôi lười học nên bị anh đánh một trận rất đau. Sau lần ấy, tôi nghe lời anh và chuyên tâm vào việc học hơn. Kết quả là trong kỳ thi vượt cấp, tôi đạt thành tích khá cao còn anh ấy thì ngược lại. Sau này, chính tôi lại là người kèm cặp anh ấy. Điều này cho thấy, trẻ con phải có người dạy dỗ, quan tâm thì mới nên người được”. 

Anh chị phải là người chỉ lối cho các em

GS Vũ Khiêu có 4 người con, mỗi người đều để lại dấu ấn ở những lĩnh vực khác nhau. Con gái cả của ông là Đặng Thị Quỳnh Khanh, là một cử nhân ngành sử học. Người con trai thứ hai Đặng Vũ Cảnh Khanh – Giáo sư, tiến sĩ ngành xã hội học. Người con thứ ba của GS Vũ Khiêu là Đặng Vũ Hạ, một kỹ sư vô tuyến điện và người con thứ tư Đặng Vũ Hoa Thạch là họa sĩ.

Trong số 4 người con của GS Vũ Khiêu, nổi tiếng nhất là GS.TS Đặng Cảnh Khanh và vợ là GS.TS Lê Thị Quý. GS Đặng Vũ Cảnh Khanh (SN 1947) nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thanh niên và hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu truyền thống và phát triển. GS.TS Lê Thị Quý – con dâu GS Vũ Khiêu – là nhà nghiên cứu đầu ngành về giới và gia đình, nổi tiếng với những cuốn sách bình đẳng giới, phong trào nữ quyền rất được nể trọng. 

Dù đã về hưu nhưng GS.TS Lê Thị Quý vẫn lao động không ngừng nghỉ, bà là Viện trưởng Viện Nghiên cứu giới và phát triển, tham gia nhóm chuyên gia tư vấn về các vấn đề giới và gia đình cho Quốc hội… Nói về sự thành đạt của các con, Giáo sư Vũ Khiêu chia sẻ: “Với các con, vợ chồng tôi cũng áp dụng đúng cách được học từ các cụ thân sinh trước kia. Tôi chủ yếu dạy chúng về nguyên tắc và đạo lý, còn vợ tôi dạy các con về cách sống”.

“Trong gia đình, tôi vẫn luôn nhắc nhở con cháu phải sống có nề nếp. Anh chị phải nhường nhịn, làm gương để các em noi theo. Ngược lại, các em cũng phải biết yêu thương, quý mến anh chị. Những khuyết điểm mà con cái mắc phải thì bậc làm cha mẹ phải nhắc nhở, giảng giải cho các con hiểu. Ngay cả bản thân tôi cũng thế. Khi còn nhỏ, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên tôi cũng thường xuyên phải phụ giúp cha mẹ và chăm sóc các em. Đến khi cha qua đời, tôi vừa là anh lại vừa như một người cha lo lắng, dạy dỗ các em”, GS cho biết.

Mặc dù áp dụng phương pháp giáo dục nghiêm khắc nhưng GS Khiêu lại luôn đề cao sự tự do về tư tưởng, cảm xúc, không bao giờ ép buộc con cái phải tuân theo ý mình. Tuy nhiên, ông luôn đòi hỏi các con phải tự lập, sống bằng sức lao động của bản thân. Bên cạnh đó, ông cũng muốn các con của mình phải đoàn kết, gánh vác và chia sẻ những công việc trong gia đình. 

“Các con tôi đều đã trưởng thành và có công việc riêng. Mặc dù cuộc sống khá bận rộn nhưng để tạo sự gần gũi giữa các thành viên, cả gia đình lại quây quần bên nhau vào mỗi thứ 7. Đây cũng là dịp, tôi ôn lại truyền thống gia đình cho con cháu nghe, để chúng biết mà noi theo”, GS chia sẻ.

Tiếp nối mạch nguồn lấy chữ học làm trọng của cha ông, vợ chồng GS Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý đã rất quan tâm đến việc gìn giữ, phát triển, luôn coi tri thức làm trọng. Thế hệ thứ 3, thứ 4 của gia đình GS Vũ Khiêu vẫn giữ được nét văn hóa truyền thống trong gia đình Nho học này. Con trai của GS Khanh là Đặng Vũ Cảnh Linh được bố mẹ và ông bà cho tiếp xúc với sách từ rất sớm. Để bồi đắp niềm đam mê đọc sách ở con, vợ chồng GS Đặng Cảnh Khanh thường xuyên đọc sách cho con nghe. Lên 10 tuổi, Cảnh Linh đã thông thuộc sử Việt và có lần nói với cố GS Trần Quốc Vượng: “Mẹ cháu không phải là nhà Sử học mà chỉ là mẹ của nhà Sử học thôi”. Lúc này, bà Quý đang học lấy bằng Tiến sỹ lịch sử ở Liên Xô (cũ). Trước đó, bà là học trò của cố GS Trần Quốc Vượng.

http://baobacgiang.com.vn/bg/xa-hoi/129264/bi-quyet-day-con-dang-nguong-mo-trong-gia-dinh-nha-nho-cuoi-cung-cua-viet-nam.html

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan