1. Đặt vấn đề
Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác định xã hội số là xã hội tích hợp công nghệ số một cách tự nhiên và mặc định vào mọi mặt đời sống, nơi người dân được kết nối, tương tác, sử dụng dịch vụ số và hình thành các quan hệ, thói quen, văn hóa mới trong môi trường số (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Theo cách tiếp cận đó, công nghệ là điều kiện và động lực quan trọng, nhưng nội dung xã hội của chuyển đổi nằm ở sự biến đổi trong cách con người học tập, lao động, giao tiếp, tiêu dùng, tham gia cộng đồng và ra quyết định.
Thanh niên là nhóm nhân khẩu học xã hội thể hiện khá rõ sự biến đổi này do hiện diện cao trên Internet và mạng xã hội. Người trẻ vừa tiếp nhận và tạo nội dung, vừa học tập, giao tiếp, giải trí, tìm kiếm việc làm và thực hiện các hoạt động kinh tế. Không gian hoạt động mở rộng tạo thêm cơ hội nhưng cũng làm rủi ro chuyển từ sự cố kỹ thuật sang thông tin sai lệch, lừa đảo, xâm phạm dữ liệu, danh tính, sức khỏe tâm lý và khả năng tự chủ.
Đặc biệt, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh làm tăng tốc độ và giảm chi phí sản xuất nội dung, đồng thời làm cho văn bản, hình ảnh, giọng nói và video giả có thể trở nên thuyết phục hơn. Điều này khiến yêu cầu tự bảo vệ không thể chỉ dừng ở kỹ năng vận hành thiết bị. Người dùng cần biết nhận diện nguy cơ, đánh giá nguồn, kiểm chứng nội dung, bảo vệ dữ liệu và lựa chọn cách ứng phó phù hợp. Các khung năng lực số hiện nay cũng chuyển từ cách hiểu thiên về kỹ thuật sang kết hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ để cá nhân có thể tham gia môi trường số một cách tự tin, có phê phán và an toàn (Vuorikari, Kluzer & Punie, 2022, tr. 6, 36–39; OECD, 2024, tr. 17, 60).
Từ vấn đề trên, bài viết tập trung trả lời hai câu hỏi: thanh niên Việt Nam đang hiện diện trong môi trường số và nhận diện những dạng rủi ro nào và năng lực tự bảo vệ của họ được thể hiện ra sao qua khả năng nhận diện, kiểm chứng và lựa chọn hành động. Bài viết được thực hiện theo hướng nghiên cứu so sánh, sử dụng phương pháp phân tích thứ cấp một số cuộc điều tra thực nghiệm trong giai đoạn 2023–2025. Việc so sánh được tiến hành trên từng nhóm chỉ báo và kết quả nghiên cứu có nội dung tương đồng nhằm nhận diện những điểm giống, khác và các vấn đề nổi bật giữa các cuộc điều tra.
Do các bộ dữ liệu khác nhau về thời điểm khảo sát, địa bàn, cỡ mẫu, đối tượng và công cụ đo lường, bài viết không gộp các bộ dữ liệu thành một mẫu chung, không thực hiện suy luận thống kê hoặc suy luận quan hệ giữa các biến thuộc những cuộc điều tra khác nhau, đồng thời không xem chênh lệch tỷ lệ giữa các năm là biểu hiện của xu hướng nếu cách đo lường không tương đồng. Cách tiếp cận này cho phép khai thác giá trị so sánh và tính bổ trợ của nhiều nguồn bằng chứng, nhưng vẫn bảo đảm giới hạn phương pháp và tránh khái quát vượt quá khả năng của dữ liệu.
2. Cơ sở khái niệm và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khái niệm và khung phân tích
Trong phạm vi bài viết, rủi ro số được hiểu là khả năng cá nhân hoặc nhóm xã hội bị tổn hại về thông tin, dữ liệu, tài sản, danh dự, sức khỏe tinh thần, quyền riêng tư, quyền tự chủ hoặc cơ hội phát triển trong quá trình tham gia môi trường số. Rủi ro có thể xuất phát từ hành vi của cá nhân và tổ chức, từ cách nền tảng và hệ thống thuật toán vận hành, hoặc từ sự thiếu hụt kiến thức, kỹ năng và cơ chế bảo vệ. Cách hiểu này đặt rủi ro trong quan hệ giữa người dùng với môi trường xã hội – kỹ thuật, thay vì xem rủi ro chỉ là sự cố của thiết bị.
Rủi ro thông tin là một bộ phận quan trọng của rủi ro số, bao gồm việc tiếp xúc với thông tin sai, xuyên tạc, chưa kiểm chứng, nội dung độc hại, quảng cáo sai sự thật, thông điệp kích động, kỳ thị hoặc nội dung được thiết kế để tác động mạnh đến nhận thức và hành vi. Trong môi trường số, rủi ro thông tin có thể kết nối với rủi ro dữ liệu, tài chính và tâm lý. Chẳng hạn, một nội dung giả mạo có thể đồng thời đánh lừa nhận thức, dẫn người dùng đến liên kết thu thập dữ liệu và tạo ra thiệt hại tài sản. Vì vậy, phân tích rủi ro số cần nhận diện tính liên kết giữa các dạng tổn hại thay vì tách thành những hiện tượng hoàn toàn độc lập.
Năng lực tự bảo vệ là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng hành động giúp cá nhân phòng ngừa, nhận diện và ứng phó với nguy cơ trong môi trường số. Khái niệm thao tác được tham chiếu từ cách tiếp cận năng lực số, trong đó an toàn bao gồm quản trị rủi ro, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, bảo vệ sức khỏe thể chất và tâm lý, đồng thời duy trì khả năng sử dụng công nghệ một cách chủ động (Vuorikari, Kluzer & Punie, 2022, tr. 36–39). Trên cơ sở những chỉ báo thực tế có trong các cuộc điều tra, bài viết xem xét ba phương diện: năng lực nhận diện nguy cơ, năng lực kiểm chứng và đánh giá thông tin và năng lực hành động tự bảo vệ. Đây là các phương diện phân tích không phải một thang đo đã được kiểm định như một cấu trúc thống kê thống nhất.
2.2. Nguồn dữ liệu và phương pháp phân tích
Bài viết sử dụng phân tích số liệu từ 4 nguồn dữ liệu định lượng do Viện Nghiên cứu Thanh niên (nay là Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học) thực hiện giai đoạn 2023–2025, bao gồm:
(1) Điều tra tình hình thanh niên năm 2023 khảo sát 1.250 thanh niên từ đủ 16 đến 35 tuổi tại năm địa bàn, cung cấp chỉ báo về sử dụng Internet, mạng xã hội và phản ứng trước nội dung xấu độc hoặc chưa kiểm chứng.
(2) Đề tài Lưu hành và phát triển các sản phẩm văn hóa số của thanh niên năm 2023 khảo sát 900 người tại Bắc Ninh, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, phản ánh cảm nhận về chất lượng nội dung và thông tin sai lệch.
(3) Điều tra kỹ năng thích ứng và sử dụng sản phẩm trí tuệ nhân tạo của thanh niên năm 2024 khảo sát 800 thanh niên tại bốn địa bàn, tập trung vào dữ liệu cá nhân, lừa đảo, nội dung giả, lệ thuộc công nghệ và sức khỏe tâm lý.
(4) Điều tra thường niên về thanh niên Việt Nam năm 2025 khảo sát 800 thanh niên từ đủ 16 đến 30 tuổi tại Bắc Giang, Thanh Hóa và Cần Thơ, cung cấp dữ liệu về sử dụng mạng xã hội, phản ứng trước thông tin sai trái và tự đánh giá kỹ năng số.
Phương pháp phân tích là tổng hợp bằng chứng khoa học theo từng chiều cạnh. Mỗi bảng chỉ sử dụng chỉ báo từ một cuộc điều tra để tránh trộn lẫn mẫu số và cách đo. Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng vì nhận thức về nguy cơ không đồng nghĩa với năng lực thực hành, còn phản ứng tự báo cáo không hoàn toàn tương đương với hành vi được quan sát trong đời sống thực.
2.3. Một số tiếp cận và kinh nghiệm quốc tế
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy năng lực tự bảo vệ trong môi trường số không nên được thu hẹp thành kỹ năng an ninh kỹ thuật. Khung năng lực số cho công dân của Liên minh châu Âu xác định 05 nhóm năng lực gồm thông tin và dữ liệu; giao tiếp và hợp tác; sáng tạo nội dung số; an toàn; giải quyết vấn đề. Cách tiếp cận này đặt việc bảo vệ người dùng trong toàn bộ quá trình tìm kiếm, đánh giá, tạo lập và chia sẻ thông tin, qua đó gắn an toàn số với tư duy phản biện, quyền riêng tư và trách nhiệm khi tham gia môi trường số (Vuorikari, Kluzer & Punie, 2022, tr. 6, 36–39).
Từ góc độ giáo dục, kinh nghiệm quốc tế cho thấy cần chuyển từ truyền đạt quy tắc sang thực hành theo tình huống. Người học được đặt trước nguồn tin mâu thuẫn, nội dung giả mạo hoặc yêu cầu cung cấp dữ liệu để thực hành so sánh nguồn, kiểm chứng bằng chứng, cân nhắc hệ quả và lựa chọn hành động phù hợp.
Ở cấp độ quản trị, kinh nghiệm quốc tế cũng nhấn mạnh rằng trách nhiệm bảo vệ không thể đặt hoàn toàn lên cá nhân. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế chỉ ra rằng tính toàn vẹn của môi trường thông tin phụ thuộc đồng thời vào năng lực người dùng, trách nhiệm của nền tảng, tính minh bạch của hệ thống phân phối nội dung và năng lực của các thiết chế công. Điều này gợi mở cho Việt Nam cách tiếp cận đa chủ thể, trong đó giáo dục kỹ năng cho thanh niên phải đi cùng cơ chế cảnh báo, báo cáo, hỗ trợ nạn nhân và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp công nghệ (OECD, 2024, tr. 17, 60).
3. Mức độ hiện diện và các dạng rủi ro số của thanh niên
3.1. Mức độ hiện diện của thanh niên trong môi trường số
Cường độ tham gia cao không tự động đồng nghĩa với mức rủi ro cao hơn ở mọi cá nhân, nhưng làm tăng số tình huống người dùng phải phán đoán: có nên tin nội dung, mở liên kết, cung cấp dữ liệu, chuyển tiền, chia sẻ hình ảnh hay sử dụng kết quả do trí tuệ nhân tạo tạo ra. Vì vậy, vấn đề không chỉ là thời gian trực tuyến mà còn là chất lượng phán đoán và khả năng kiểm soát hành vi.
Điều tra năm 2025 cho thấy mạng xã hội đã trở thành một phần thường nhật trong đời sống của phần lớn thanh niên. Chỉ 20,3% người trả lời sử dụng dưới hai giờ mỗi ngày, trong khi 52,7% sử dụng từ bốn giờ trở lên. Mục đích sử dụng cũng không chỉ tập trung vào giải trí mà trải rộng từ cập nhật tin tức, giao tiếp, học tập đến làm kinh tế và sáng tạo nội dung. Điều đó cho thấy không gian số đã kết nối nhiều chức năng vốn trước đây phân bố ở những không gian xã hội khác nhau (Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học, 2025, tr. 31–32).
Bảng 1. Thời gian và mục đích sử dụng mạng xã hội của thanh niên năm 2025
| Chỉ báo sử dụng mạng xã hội của thanh niên | Tỷ lệ (%) |
| Thời gian sử dụng | |
| Dưới 2 giờ/ngày | 20,3 |
| Từ 2 đến dưới 4 giờ/ngày | 27,1 |
| Từ 4 đến dưới 6 giờ/ngày | 24,5 |
| Từ 6 đến dưới 8 giờ/ngày | 19,4 |
| Từ 8 giờ trở lên | 8,8 |
| Mục đích sử dụng | |
| Sử dụng để giải trí | 67,3 |
| Cập nhật tin tức | 53,3 |
| Giao tiếp, kết bạn | 52,4 |
| Học tập, tìm kiếm thông tin | 49,5 |
| Làm kinh tế | 30,0 |
| Sáng tạo nội dung | 26,5 |
| Thể hiện bản thân | 16,9 |
Nguồn: Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học (2025), tr. 31–32.
Cường độ tham gia cao không tự động đồng nghĩa với mức rủi ro cao hơn ở mọi cá nhân, nhưng làm tăng số lượng tình huống người dùng phải đưa ra phán đoán. Trong một ngày, người trẻ có thể liên tục quyết định có nên tin một nội dung, mở một liên kết, cung cấp thông tin cá nhân, chuyển tiền, chia sẻ hình ảnh hay sử dụng kết quả do trí tuệ nhân tạo tạo ra. Vì vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là thời gian trực tuyến mà là chất lượng của năng lực phán đoán và khả năng kiểm soát hành vi trong một môi trường có tốc độ tương tác cao.
3.2. Rủi ro từ nội dung sai lệch và môi trường văn hóa số
Kết quả nghiên cứu đề tài Lưu hành và phát triển các sản phẩm văn hóa số của thanh niên năm 2023 cho thấy thanh niên nhận diện đồng thời cả giá trị tích cực và tiêu cực trên mạng xã hội. Đối với nhóm nội dung có nguy cơ, điểm trung bình của các nhận định về nội dung phản cảm, thông tin sai chưa được kiểm chứng, nội dung vô bổ và thông tin bị bóp méo đều xấp xỉ hoặc vượt mức 3 trên thang năm mức. Kết quả này không cho phép kết luận toàn bộ môi trường mạng là tiêu cực, nhưng phản ánh trải nghiệm của người trẻ trong một không gian thông tin có chất lượng không đồng đều (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2023, tr. 62–63).
Bảng 2. Cảm nhận của thanh niên về một số nội dung rủi ro trên mạng xã hội
| Nội dung | Điểm trung bình | Độ lệch chuẩn |
| Nhiều nội dung phản cảm | 3,12 | 1,38 |
| Nhiều thông tin sai, không được kiểm chứng | 3,09 | 1,28 |
| Nhiều nội dung vô bổ | 3,02 | 1,29 |
| Thông tin bị bóp méo, xuyên tạc | 3,01 | 1,32 |
| Nội dung vi phạm bản quyền | 2,99 | 1,29 |
| Nội dung mang tính kỳ thị | 2,96 | 1,31 |
Nguồn: Đặng Vũ Cảnh Linh (2023), Đề tài mã số ĐT.KXĐTN 23-08, tr. 62–63.
Điểm đáng chú ý về mặt xã hội học là rủi ro thông tin không tách khỏi cấu trúc tương tác của các nền tảng số. Nội dung sai lệch có thể xuất hiện trong quảng cáo, video giải trí, bình luận, lời khuyên tiêu dùng hoặc một câu chuyện giàu cảm xúc. Người sử dụng không chỉ tiếp nhận mà còn có thể bình luận, chia sẻ và tái tạo nội dung, khiến ranh giới giữa người phát và người nhận ngày càng khó phân định. Do đó, năng lực tự bảo vệ cần bao gồm cả khả năng đánh giá nguồn và bằng chứng, nhận diện động cơ của nội dung và cân nhắc hệ quả trước khi khuếch tán thông tin.
3.3. Rủi ro dữ liệu, tài chính và thách thức từ trí tuệ nhân tạo
Dữ liệu năm 2024 cho thấy cấu trúc rủi ro đã mở rộng rõ sang quyền riêng tư, tài chính và khả năng tự chủ nhận thức. Trong số các rủi ro thanh niên lo ngại khi sử dụng sản phẩm trí tuệ nhân tạo, 54,1% đề cập khả năng dữ liệu cá nhân bị đánh cắp hoặc bị lộ, 48,2% lo ngại dữ liệu bị thu thập mà không được thông báo đầy đủ, 45,4% cho rằng lừa đảo và gian lận trở nên tinh vi hơn, còn 49,5% nhận thấy nguy cơ lệ thuộc và mất dần khả năng tư duy độc lập (Viện Nghiên cứu Thanh niên, 2024, tr. 28–30).
Bảng 3. Những rủi ro thanh niên lo ngại khi sử dụng trí tuệ nhân tạo
| Rủi ro | Tỷ lệ (%) |
| Dữ liệu cá nhân bị đánh cắp hoặc bị lộ | 54,1 |
| Lệ thuộc, mất dần khả năng tư duy độc lập | 49,5 |
| Bị thu thập dữ liệu cá nhân nhưng không được thông báo đầy đủ | 48,2 |
| Lừa đảo, gian lận trở nên tinh vi hơn | 45,4 |
| Lệ thuộc thiết bị điện tử, giảm tương tác trực tiếp | 39,0 |
| Tiếp xúc nội dung độc hại do hệ thống lọc AI chưa hoàn thiện | 34,4 |
| Khó tìm việc do lao động bị thay thế | 23,7 |
Nguồn: Viện Nghiên cứu Thanh niên (2024), tr. 28–30.
Cần phân biệt các tỷ lệ trên là sự nhận diện hoặc lo ngại về rủi ro với trải nghiệm đã xảy ra của thanh niên. Cùng cuộc điều tra này, 44,0% thanh niên cho biết từng bị gửi tin giả hoặc tin sai, 24,7% từng bị lừa mất tiền, 21,8% từng bị tài khoản ảo tấn công và 18,3% từng nhận hình ảnh hoặc âm thanh giả mạo. Khi được hỏi về tác động sau khi gặp vấn đề, 30,7% cho biết từng rơi vào trạng thái căng thẳng hoặc suy sụp tinh thần. Những chỉ báo này cho thấy rủi ro số có thể đi qua nhiều lớp tổn hại, từ thông tin đến tài sản và tâm lý, nhưng mức độ và cơ chế tác động cần được tiếp tục kiểm chứng bằng các nghiên cứu chuyên biệt (Viện Nghiên cứu Thanh niên, 2024, tr. 29–30).
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh làm cho yêu cầu kiểm chứng thông tin trở nên phức tạp hơn. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) chỉ ra rằng công nghệ này có thể tạo thông tin sai hoặc gây hiểu lầm nhưng vẫn có vẻ đáng tin cậy ở quy mô lớn, đồng thời làm giảm chi phí tạo văn bản, hình ảnh và nội dung giả, khiến việc phân biệt nội dung xác thực với nội dung bị thao túng khó khăn hơn (OECD, 2024, tr. 17, 60). Trong bối cảnh đó, tự bảo vệ đòi hỏi người dùng chuyển từ kiểm tra các dấu hiệu bề mặt sang đánh giá nguồn, bằng chứng, bối cảnh và mục đích của thông tin.
4. Phản ứng và năng lực tự bảo vệ của thanh niên
4.1. Phản ứng trước thông tin xấu độc hoặc chưa kiểm chứng
Điều tra năm 2023 đưa ra một tình huống giả định về bài viết hoặc dòng trạng thái có nội dung xấu độc, chưa kiểm chứng và đang thu hút nhiều bình luận. Phản ứng do người trả lời lựa chọn khá phân hóa giữa các nhóm. Tỷ lệ chọn báo cáo và ẩn bài viết dao động từ 30,4% ở thanh niên nông dân đến 44,7% ở học sinh. Tỷ lệ chọn bỏ qua, không quan tâm nằm trong khoảng 28,6% đến 43,9% thanh niên. Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ vẫn chọn chia sẻ lên trang cá nhân, từ 4,5% đến 9,3%, hoặc chia sẻ qua tin nhắn, từ 6,1% đến 13,7% (Viện Nghiên cứu Thanh niên, 2023, tr. 43–44).
Các kết quả này cần được đọc đúng bản chất là phản ứng tự báo cáo trước một tình huống khảo sát, không phải hành vi được quan sát trực tiếp. Dù vậy, sự song song giữa lựa chọn tích cực như báo cáo, ẩn nội dung với lựa chọn thụ động như bỏ qua hoặc tiếp tục chia sẻ cho thấy nhận diện nguy cơ chưa tạo ra một chuẩn hành động thống nhất. Một thanh niên có thể cho rằng nội dung đáng ngờ nhưng vẫn chia sẻ để hỏi ý kiến, vì tò mò hoặc để tham gia cuộc tranh luận. Chính khoảng cách giữa nhận biết và hành động là một chiều cạnh quan trọng của năng lực tự bảo vệ.
4.2. Khả năng nhận diện và kiểm chứng thông tin
Kết quả Điều tra năm 2025 tiếp tục cho thấy nhiều phản ứng có tính chủ động khi thanh niên tiếp cận tin, bài chứa thông tin hoặc quan điểm sai trái. Có 45,1% lựa chọn đọc kỹ để nắm thông tin, 42,1% đọc kỹ để tìm luận điểm sai, 43,4% phản ánh hoặc báo cáo đến cơ quan chức năng, 42,3% báo cáo trang đăng tải và 39,5% báo cáo bài viết. Tỷ lệ lựa chọn không làm gì là 6,5%. Đây vẫn là dữ liệu tự báo cáo, nhưng cho thấy ở một bộ phận thanh niên đã hình thành ý thức kiểm tra và sử dụng các cơ chế phản hồi của nền tảng hoặc cơ quan chức năng (Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học, 2025, tr. 20–21, 69).
Tuy nhiên, tự đánh giá kỹ năng số của thanh niên cho thấy một khoảng cách đáng chú ý giữa khả năng tìm kiếm và khả năng đánh giá chất lượng thông tin. Có 46,0% thanh niên tự đánh giá thuần thục trong tìm kiếm, khai thác thông tin trên Internet, trong khi tỷ lệ tự đánh giá thuần thục về nhận diện thông tin giả trong lĩnh vực học tập và giáo dục là 39,4%. Có 53,8% đánh giá năng lực nhận diện thông tin giả ở mức bình thường (Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học, 2025, tr. 69). Kết quả không chứng minh rằng người sử dụng nhiều sẽ yếu hơn về kiểm chứng, nhưng cho thấy kỹ năng tiếp cận thông tin và kỹ năng thẩm định thông tin không thể được coi là một. Trong xã hội số, tiếp cận nhanh chỉ tạo lợi thế khi đi cùng khả năng đánh giá độ tin cậy và kiểm soát quyết định.
5. Thảo luận và hàm ý chính sách
Các kết quả cho thấy mức độ tham gia số cao và khả năng nhận biết rủi ro chưa tất yếu chuyển hóa thành năng lực tự bảo vệ đồng đều. Khoảng cách này cần được giải thích ở nhiều cấp độ thay vì quy hoàn toàn về kỹ năng cá nhân.
Ở cấp độ cá nhân, môi trường số đòi hỏi người dùng đưa ra nhiều quyết định với tốc độ cao, trong khi năng lực đánh giá thông tin hình thành không đồng đều. Kỹ năng sử dụng thiết bị và tìm kiếm nội dung là điều kiện cần nhưng chưa đủ, người dùng còn phải nhận diện giả mạo, đánh giá bằng chứng và biết dừng lại trước yêu cầu cung cấp dữ liệu hoặc chuyển tiền. Kết quả năm 2025 về khoảng cách giữa kỹ năng tìm kiếm và nhận diện tin giả gợi mở sự phân tách giữa năng lực tiếp cận và năng lực thẩm định.
Ở cấp độ quan hệ xã hội, hành vi số diễn ra trong mạng lưới bạn bè, người thân và cộng đồng trực tuyến. Nhu cầu tương tác và thể hiện quan điểm có thể khiến việc nhận biết nội dung đáng ngờ chưa dẫn ngay đến hành động bảo vệ phù hợp. Giáo dục kỹ năng an toàn số vì vậy cần chú ý cả chuẩn mực nhóm và trách nhiệm đối với người khác.
Ở cấp độ nền tảng, thiết kế công nghệ ảnh hưởng đến điều kiện mà người dùng đưa ra quyết định. Các cơ chế gợi ý, chỉ số tương tác và lợi ích kinh tế từ sự chú ý có thể làm gia tăng lợi thế của nội dung gây cảm xúc, tranh cãi hoặc có tính lan truyền. OECD cũng lưu ý rằng động lực lan truyền và thuật toán đề xuất có thể ưu tiên giá trị hàng hóa của thông tin hơn giá trị công, trong khi trí tuệ nhân tạo tạo sinh tiếp tục hạ thấp rào cản sản xuất nội dung giả (OECD, 2024, tr. 17, 60). Vì thế, không thể chuyển toàn bộ trách nhiệm tự bảo vệ sang cá nhân nếu môi trường nền tảng thiếu minh bạch hoặc cơ chế báo cáo khó sử dụng.
Ở cấp độ thiết chế, nhu cầu hỗ trợ của thanh niên cho thấy an toàn số đã trở thành một nội dung của chính sách thanh niên. Điều tra năm 2025 ghi nhận 74,6% thanh niên mong muốn được cảnh báo và ngăn chặn thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội, còn 70,0% mong muốn được cung cấp kiến thức và kỹ năng sử dụng mạng xã hội tích cực (Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học, 2025, tr. 65–66). Nhu cầu này cho thấy tự bảo vệ không nên được hiểu như trách nhiệm riêng của người dùng mà cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, tổ chức thanh niên, cơ quan quản lý và doanh nghiệp công nghệ.
Từ các phân tích trên, cần xây dựng khung năng lực tự bảo vệ dành cho thanh niên theo hướng thực hành được và phù hợp từng nhóm. Trọng tâm gồm nhận diện và kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận diện lừa đảo và giả mạo, sử dụng cơ chế báo cáo, tìm kiếm hỗ trợ và duy trì quyền tự chủ khi sử dụng trí tuệ nhân tạo. Hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và nhà trường nên tăng giáo dục theo tình huống thay cho tuyên truyền nguy cơ đơn thuần.
Cần hình thành cơ chế cảnh báo sớm và hỗ trợ nạn nhân dễ tiếp cận, với đầu mối hỗ trợ kỹ thuật, pháp lý và tâm lý khi xảy ra lừa đảo, quấy rối, giả mạo hoặc phát tán dữ liệu. Cơ chế phản ánh cần có hồi đáp rõ để việc báo cáo trở thành công cụ bảo vệ có hiệu quả.
Nền tảng và doanh nghiệp công nghệ cần minh bạch việc thu thập dữ liệu, đơn giản hóa thiết lập quyền riêng tư, hạn chế khuếch đại nội dung sai lệch và tăng khả năng nhận biết nội dung do máy tạo ra. Các nghiên cứu tiếp theo cần xây dựng bộ chỉ báo ổn định về trải nghiệm tổn hại, hành vi kiểm chứng và khả năng ứng phó để có thể kiểm định sâu hơn quan hệ giữa tham gia số, rủi ro và năng lực tự bảo vệ.
6. Kết luận
Phân tích kết quả từ 04 cuộc điều tra giai đoạn 2023–2025 cho thấy môi trường số đã trở thành không gian sống đa chức năng của thanh niên Việt Nam. Bên cạnh cơ hội học tập, giao tiếp, sáng tạo và kinh tế, người trẻ nhận diện nhiều rủi ro về thông tin, dữ liệu, tài chính, sức khỏe tâm lý và trí tuệ nhân tạo. Các phản ứng tích cực đã xuất hiện nhưng còn phân hóa, trong khi khả năng tự đánh giá về nhận diện thông tin giả thấp hơn khả năng tìm kiếm thông tin.
Phát hiện chính của bài viết là khoảng cách giữa sự mở rộng nhanh của tham gia số với mức độ hoàn thiện chưa đồng đều của năng lực tự bảo vệ, chứ không phải một quan hệ nhân quả giữa cường độ sử dụng và mức độ rủi ro. Thu hẹp khoảng cách này đòi hỏi đồng thời nâng năng lực cá nhân, củng cố chuẩn mực xã hội, tăng trách nhiệm của nền tảng và hiệu quả của các thiết chế giáo dục, hỗ trợ, bảo vệ thanh niên. Chất lượng của xã hội số vì vậy không chỉ nằm ở mức độ kết nối hay phổ cập công nghệ, mà còn ở khả năng bảo đảm để thanh niên nói riêng và người dân nói chung tham gia môi trường số một cách an toàn, có năng lực phê phán, không bị dẫn dắt thụ động và vẫn duy trì được quyền tự chủ trong nhận thức, lựa chọn và hành động.
Tài liệu tham khảo
Đặng Vũ Cảnh Linh (2023), Báo cáo tổng hợp đề tài Lưu hành và phát triển các sản phẩm văn hóa số của thanh niên, mã số ĐT.KXĐTN 23-08, Hà Nội.
Organisation for Economic Co-operation and Development – OECD (2024), Facts Not Fakes: Tackling Disinformation, Strengthening Information Integrity, OECD Publishing, Paris.
Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học (2025), Báo cáo Điều tra thường niên về thanh niên Việt Nam năm 2025, Hà Nội.
Viện Nghiên cứu Thanh niên (2023), Báo cáo tình hình thanh niên Việt Nam năm 2023, Hà Nội.
Viện Nghiên cứu Thanh niên (2024), Báo cáo Điều tra kỹ năng thích ứng và sử dụng sản phẩm trí tuệ nhân tạo của thanh niên, Hà Nội.
Vuorikari, R., Kluzer, S. & Punie, Y. (2022), DigComp 2.2: The Digital Competence Framework for Citizens,
Đặng Vũ Cảnh Linh, tham luận dự HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA XÃ HỘI SỐ: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9/2026
