MỘT SỐ NỘI DUNG CẦN ĐỀ CẬP TRONG NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG LUẬT PHỔ BIẾN KIẾN THỨC (BÀI 2)

Các khái niệm được nêu trong dự thảo Luật phổ biến kiến thức

Để hiểu thế nào là phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ thì trước hết cần làm rõ nghĩa của một số cụm từ:

  • “Khoa học” là “hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” (Luật khoa học công nghệ 2013). Trong đó, Hệ thống tri thức bao gồm khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật, định luật.. Tùy vào từng ngành, lĩnh vực khoa học khác nhau (Tự nhiên, Kinh tế, Kỹ thuật, Xã hội nhân văn…) mà người ta dùng các thuật ngữ tương ứng và được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
  • “Công nghệ” là” giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. (Luật Khoa học và công nghệ 2013).
Gen Z, minh họa internet
  • “Phổ biến” là “làm cho đông đảo người biết bằng cách truyền đạt, truyền bá trực tiếp hay gián tiếp thông qua một hình thức nào đó” (từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam xuất bản năm 1997).
  • “Kiến thức” là “một tổng hợp đa dạng các kinh nghiệm đã được đúc kết, những giá trị, thông tin trong từng bối cảnh và quan điểm của chuyên gia, hình thành một khung đánh giá và kết hợp những kinh nghiệm và thông tin mới. Kiến thức được sản sinh và áp dụng trong đầu óc của người có kiến thức đó” (Davenport & Prussak 1998:5).
  • Phân biệt kiến thức thông thường và kiến thức khoa học: Kiến thức thông thường biểu hiện nhận thức khoa học ở trình độ thấp, sơ sài thông qua quan sát sự vật, cảm xúc, tổng kết các quy luật đơn giản còn kiến thức khoa học biểu hiện nhận thức khoa học ở trình độ cao, tường tận, tổng kết các quy luật của sự vật từ lý luận, thực tế, thực nghiệm…

Như vậy, với ý nghĩa của các cụm từ trên, trong phạm vi của nghiên cứu dự thảo Luật này, khái niệm về Phổ biến kiến thức được hiểu như sau:

Phổ biến kiến thức là hoạt động truyền bá trực tiếp hay gián tiếp thông qua một hình thức nào đó nhằm mục đích làm cho đông đảo người biết đến những kiến thức, kinh nghiệm, thành tựu khoa học và công nghệ đã được đúc kết về hệ thống tri thức các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy cùng với các giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm phục vụ mục tiêu phát triển xã hội.

Bên cạnh đó cùng có thể hiểu ở nghĩa đơn giản nhất phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ là quá trình trao đổi tri thức, biến tri thức khoa học phức tạp thành kiến thức chuẩn, đơn giản, phổ biến đại chúng, ứng dụng trong đời sống nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn

Về thực chất, phổ biến kiến thức là hoạt động làm cho tri thức của loài người về thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy được lan tỏa đến mọi người, giúp họ nhận thức, hiểu được bản chất của những tri thức này và biến nó thành kiến thức của chính mình, giúp họ có được cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ hơn. Tuy nhiên, hoạt động phổ biến kiến thức, muốn thành công, trước tiên phải dựa trên một nền tảng giáo dục căn bản và liên tục truyền bá, nhân rộng kiến thức cho mọi thành viên trong xã hội. Ngoài ra, sự thành công của hoạt động này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, từ phía người được phổ biến cũng như cá nhân và tổ chức làm công tác phổ biến kiến thức.

Vai trò của phổ biến kiến thức cần được xác định trong Luật Phổ biến kiến thức

Khoa học và công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Những thành quả của khoa học và công nghệ đã thực sự thúc đẩy sự gia tăng của cải vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người. Khoa học và công nghệ đã trực tiếp tác động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệ hao vật chất, tăng tỷ lệ giá trị gia tăng trong cấu tạo sản phẩm.

Phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ là một nội dung có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Nước ta đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ kinh tế- xã hội, trong đó phát triển khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ quan trọng nhằm giảm bớt thời gian phát triển, tạo đà cho các mục tiêu tiếp theo. Nhằm nâng cao tiềm năng trí tuệ, tiềm lực khoa học và công nghệ của xã hội thì  nhu cầu phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, phổ cập thông tin khoa học và công nghệ sâu và rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là quan trọng. Đó là con đường đúng đắn nhất để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 theo đường lối chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đã đề ra.

Quy trình phổ biến kiến thức được diễn giải

Phổ biến kiến thức là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục và diễn ra ở mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội. Hoạt động này thường diễn ra theo một quy trình được mô tả như sau:

Xác định nhu cầu Phổ biến kiến thức

Kiến thức khoa học và công nghệ chỉ có ích khi đáp ứng được một nhu cầu nào đó của một đối tượng cụ thể. Chính vì vậy, bước đầu tiên của phổ biến kiến thức là phải xác định được nhu cầu phổ biến kiến thức. Có 2 loại nhu cầu:

– Nhu cầu của người đi phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ: nhu cầu này xuất phát từ ý niệm, mong muốn của người có kiến thức hoặc người đang nắm giữ kiến thức đó, muốn truyền đạt tới đối tượng đích để nhằm nâng cao kiến thức,  tác động đến hành vi của đối tượng.

Nhu cầu này thường có ở các cấp quản lý Nhà nước muốn phổ biến chính sách, pháp luật, đường lối, chủ trương phát triển khoa học và công nghệ, phát triển đất nước cho mọi tầng lớp nhân dân để nâng cao hiểu biết của người dân và thực thi tốt nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ.

– Nhu cầu của xã hội: Nhu cầu này là những nội dung cụ thể được xác định qua nắm bắt thông tin, điều tra, khảo sát nhu cầu người dân, đối tượng cụ thể.

Tổng hợp kiến thức

Sau khi xác định được nhu cầu về nội dung, đối tượng cần phổ biến kiến thức, người đi phổ biến kiến thức sẽ sắp xếp, chọn lọc các thông tin, các kiến thức đã có (các kinh nghiệm đã được đúc kết, được chứng nhận) phù hợp với trình độ, đặc điểm của người tiếp nhận kiến thức.

Kiến thức tổng hợp được tồn tại dưới 2 dạng:

– Kiến thức không được viết ra, nằm ở trong đầu người đi phổ biến. Người đi phổ biến phải là các chuyên gia có trình độ, có uy tín được nhà nước và xã hội công nhận.

– Kiến thức được viết ra, thể hiện dưới dạng xuất bản phẩm (tác phẩm, tài liệu về khoa học, công nghệ được xuất bản qua Nhà xuất bản bao gồm: sách in; sách chữ nổi; tranh, ảnh, bản đồ, áp phích, tờ rời, tờ gấp; các loại lịch; bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách).

Khoa học cần hướng về đời sống, minh hoạt internet

 Phổ biến kiến thức

Đây là phần quan trọng trong chuỗi các bước để chuyển tải kiến thức đến với đối tượng cần.

 Sau khi xác định nội dung, đối tượng, công cụ (vật mang kiến thức), người đi phổ biến kiến thức sẽ lựa chọn hình thức để chuyển tải các kiến thức một cách phù hợp nhất đến đối tượng cần kiến thức đó. Có 2 hình thức chủ yếu:

– Phổ biến trực tiếp: thông qua việc trao đổi trực tiếp giữa người nói và người nghe. Hình thức này, người nghe sẽ hiểu một cách cụ thể nhất, đồng thời có thể tương tác 2 chiều, cùng trao đổi với người nói để hiểu vấn đề cặn kẽ hơn.

Phổ biến trực tiếp thường được tiến hành thông qua Hội thảo, Hội nghị, sinh hoạt Câu lạc bộ, nói chuyện chuyên đề, đào tạo tập huấn cầm tay chỉ việc cho người dân

– Phổ biến gián tiếp: thông qua phát hành các xuất bản phẩm, các chương trình truyền thanh, truyền hình, báo chí: thông tin, kiến thức được phát đi một cách thường xuyên, người có nhu cầu về loại hình kiến thức nào thì sẽ chủ động tham khảo, phân tích thông tin và vận dụng các kiến thức thu được vào thực tiễn.

 Đánh giá hiệu quả

Bước này được thực hiện sau khi kết thúc việc phổ biến kiến thức. Đây là việc làm quan trọng, căn cứ vào đó xác định lại, điều chỉnh các bước trên cho phù hợp và nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến kiến thức nhất.

Những hình thức phổ biến kiến thức cơ bản được diễn giải

Trong Luật cần phân biệt rõ khái niệm phổ biến kiến thức với 2 khái niệm gần gũi là giáo dục và truyền thông.

Giáo dục mang tính một chiều và áp đặt về kiến thức với các đối tượng tiếp nhận kiến thức. Truyền thông mang tính đa chiều về kiến thức, thông tin,vai trò người tiếp nhận lại chính là người xử lý kiến thức, thông tin nên đòi hỏi người tiếp nhận có trình độ nhất định để phân loại, xử lý đúng kiến thức họ tiếp nhận.

Trong hoạt động phổ biến kiến thức, có các hình thức chính như sau:

– Hội thảo, hội nghị phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ

– Đào tạo, tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ cho các nhóm đối tượng đích và người dân

– Câu lạc bộ khoa học và công nghệ

– Phối hợp các cơ quan thông tấn, báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội thực hiện các chương trình phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ

– Xuất bản thành ấn phẩm: sách in, sách chữ nổi, tranh, ảnh, bản đồ, áp phích, tờ rời, tờ gấp; các loại lịch; chương trình phát thanh, chương trình truyền hình phổ biến KH&CN

– Tổ chức các sự kiện khoa học và công nghệ, triển lãm các thành tựu khoa học và công nghệ, cuộc thi, các cuộc vận động, các lễ tôn vinh, nêu gương nhà khoa học, nhà sáng chế công nghệ…

– Xây dựng các phong trào xã hội tại cộng đồng về khoa học và công nghệ, lồng ghép các nội dung phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.

Một số nội dung, lĩnh vực ưu tiên cần đưa vào dự thảo Luật phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ

Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn

Lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn là đặc biệt quan trọng trong các chương trình phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ. Cần nghiên cứu, xác định và xây dựng các tiêu chí, nội dung, hình thức phổ biến kiến thức trong các chương trình phổ biến kiến thức phổ thông và nâng cao, phù hợp với các đối tượng cần được phổ biến, các vùng miền, gắn với nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương tại từng thời điểm.

Xây dựng bộ tài liệu chuẩn phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực chuyên môn nông nghiệp và phát triển nông thôn. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Cục, Vụ, Viện, các ban ngành đoàn thể có liên quan trong chương trình, tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm chương trình, đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên từ trung ương đến cơ sở. Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông xây dựng và tổ chức các chuyên mục, các chương trình thông tin – truyền thông khoa học và công nghệ trực tiếp đến người dân, lồng ghép trong các chương trình, các hoạt động của các đơn vị có liên quan khác.

Tiến hành phổ biến các kiến thức khoa học và công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học vả công nghệ vào thực tiễn, gồm:

– Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, quy định pháp luật liên quan đến khoa học và công nghệ áp dụng trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn.

– Phổ biến kiến thức và hỗ trợ pháp lý về các trình tự, thủ tục đăng ký các sáng chế trong nông nghiệp, tuyên truyền  các quyền, nghĩa vụ và lợi ích chủ sở hữu các đối tượng đó, cung cấp thông tin về khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ, hỗ trợ đăng ký bảo hộ, khai thác, bảo vệ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ, thành quả sáng tạo khoa học và công nghệ: khuyến khích lao động sáng tạo, khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tư phát triển công nghệ mới trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn. 

– Phổ biến các thành tựu khoa học và công nghệ, tri thức sáng tạo, khả năng áp dụng, ứng dụng, nhân rộng các mô hình thực tiễn trên từng đối tượng, địa bàn. Tập trung vào phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất bền vững, có tỷ trọng và giá trị cao, gắn phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, văn minh, hiện đại. Chú trọng các vấn đề đổi mới cơ cấu nông nghiệp, phát triển mạnh chăn nuôi, thủy hải sản, phát triển nông nghiệp sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, từng bước hình thành vùng chuyên canh các mặt hàng nông sản, đồng thời gắn với việc chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế nông thôn với các nhiệm vụ đảm bảo an ninh chính trị, quốc phòng, phát triển văn hóa xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.

– Nhân rộng các mô hình tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ ở các địa phương trong cả nước, đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, chuyển giao quyền sử dụng tài sản trí tuệ trong lĩnh vực nông nghiệp.

Lĩnh vực phát triển nhanh các ngành công nghiệp, dịch vụ mới dựa vào công nghệ cao

Lĩnh vực phát triển nhanh các ngành công nghiệp, dịch vụ mới dựa vào công nghệ cao là đặc biệt quan trọng trong chương trình phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ. Cần nghiên cứu, xác định và xây dựng các tiêu chí, nội dung, hình thức phổ biến kiến thức trong các chương trình phổ biến kiến thức phổ thông và nâng cao, phù hợp với các đối tượng cần được phổ biến, các vùng miền phát triển kinh tế trọng điểm, đặc biệt là khu vực đô thị, trung tâm, khu công nghệ cao gắn với nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương tại từng thời điểm.

Xây dựng bộ tài liệu chuẩn phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực chuyên môn các ngành công nhiệp, dịch vụ, thương mại. Phối hợp với Bộ Công nghiệp, Bộ Thương Mại, các Cục, Vụ, Viện, các ban ngành đoàn thể có liên quan trong chương trình, tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm chương trình, đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên từ trung ương đến cơ sở. Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông xây dựng và tổ chức các chuyên mục, các chương trình thông tin – truyền thông khoa học và công nghệ trực tiếp đến người dân, lồng ghép trong các chương trình, các hoạt động của các đơn vị có liên quan khác.

Tiến hành phổ biến các kiến thức khoa học và công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học vả công nghệ vào thực tiễn, gồm:

– Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, quy định pháp luật liên quan đến khoa học và công nghệ áp dụng trong lĩnh vực phát triển công nghiệp, dịch vụ và thương mại.

– Phổ biến kiến thức và hỗ trợ pháp lý về các trình tự, thủ tục đăng ký các sáng chế trong công nghiệp, dịch vụ và thương mại, tuyên truyền  các quyền, nghĩa vụ và lợi ích chủ sở hữu các đối tượng đó, cung cấp thông tin về khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ, hỗ trợ đăng ký bảo hộ, khai thác, bảo vệ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ, thành quả sáng tạo khoa học và công nghệ: khuyến khích lao động sáng tạo, khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tư phát triển công nghệ mới. 

– Giới thiệu, phổ biến công nghệ tiên tiến nhất, tạo ra sản phẩm mang tính cạnh tranh cao và chiếm lĩnh thị trường thế giới. Ưu tiên phát triển công nghệ cao, công nghệ thông tin viễn thông, tin học sinh học các ngành chế tạo máy, tự động hóa, vật liệu mới, năng lượng mới

– Giới thiệu, phổ biến công nghệ mới phục vụ sự phát triển các ngành thương mại, dịch vụ du lịch, bưu chính, tài chính, ngân hàng, có giá trị gia tăng cao và dựa vào tri thức

– Nhân rộng các mô hình tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ ở các đơn vị áp dụng công nghệ mới hiệu quả trong cả nước, đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, chuyển giao quyền sử dụng tài sản trí tuệ trong lĩnh vực phát triển công nghiệp, dịch vụ và thương mại.

Lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân

Phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trong lĩnh vực y học, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân cần nghiên cứu, xác định và xây dựng các tiêu chí, nội dung, hình thức phổ biến kiến thức phổ thông và nâng cao, phù hợp với các đối tượng cần được phổ biến bao gồm đội ngũ y bác sĩ, các nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực y tế và cộng đồng các vùng miền.

Xây dựng bộ tài liệu chuẩn phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Phối hợp với Bộ Y tế, các Cục, Vụ, Viện, các ban ngành đoàn thể có liên quan trong chương trình, gắn hoạt động của chương trình với các Chương trình mục tiêu y tế quốc gia, tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm chương trình, đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên từ trung ương đến cơ sở. Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông xây dựng và tổ chức các chuyên mục, các chương trình thông tin khoa học và công nghệ trực tiếp đến người dân, lồng ghép trong các chương trình liên quan khác.

Tiến hành phổ biến các kiến thức khoa học và công nghệ, ứng dụng trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân gồm:

– Nâng cao khả năng nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ trong hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là các tuyến y tế huyện.

– Nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc phòng bệnh và tự chăm sóc sức khỏe theo các kiến thức khoa học mới. Nghiên cứu, phát triển, phổ biến kiến thức y dược cổ truyền đã được kiểm định và Bộ y tế công nhận, hỗ trợ pháp lý và khuyến khích thành lập các mô hình khám chữa bệnh, sản xuất chế biến dược liệu để điều trị bệnh cho nhân dân.

– Tuyên truyền để nhân dân hiểu và tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện theo các hình thức khác nhau, tuyên truyền về y đức trong các bệnh viện, phòng khám, nâng cao hoạt động tư vấn y tế trực tiếp tại cơ sở.

– Đẩy mạnh các nghiên cứu y học để tìm ra các thuốc mới, tăng cường các hoạt động sáng tạo khoa học và công nghệ y học đồng thời có biện pháp đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ, quản lý và phát triển.

Lĩnh vực bảo vệ môi trường

Phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cần nghiên cứu, xác định và xây dựng các tiêu chí, nội dung, hình thức phổ biến kiến thức phổ thông và nâng cao, phù hợp với các đối tượng cần được phổ biến, các vùng miền gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương tại từng thời điểm.

Xây dựng bộ tài liệu chuẩn phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường. Phối hợp với Bộ Tài nguyên và môi trường, các Cục, Vụ, Viện, các ban ngành đoàn thể có liên quan trong chương trình, gắn hoạt động của chương trình với các Chương trình quốc gia về môi trường, tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm chương trình, đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên từ trung ương đến cơ sở.

Tiến hành phổ biến các kiến thức khoa học và công nghệ, ứng dụng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường gồm:

– Phổ biến kiến thức về Luật Bảo vệ Môi trường, các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, các giải pháp ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay.

– Nâng cao khả năng nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác bảo vệ môi trường và xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường trong các doanh nghiệp, làng nghề, trong các cơ quan, tổ chức và cộng đồng.

– Nâng cao nhận thức về việc bảo vệ môi trường trong toàn dân, khuyến khích thành lập các doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện dự án đầu tư hoạt động bảo vệ môi trường, chế biến phân hữu cơ vi sinh, sử dụng chế phẩm EM, các loại hình phát triển sản xuất sạch.

– Tăng cường các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng nhiên liệu sạch, hỗ trợ các sáng kiến áp dụng khoa học và công nghệ trong bảo vệ môi trường, tăng cường hỗ trợ quảng bá sản phẩm bảo vệ môi trường, phát triển các loại hình phân loại rác tại nguồn…

– Hợp tác chặt chẽ với Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam và các cơ quan chức năng khác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước và nhân dân trong việc bảo vệ môi trường.

Lĩnh vực văn hóa – xã hội

Phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trong lĩnh vực phát triển văn hóa – xã hội cần nghiên cứu, xác định và xây dựng các tiêu chí, nội dung, hình thức trong các chương trình phổ biến kiến thức phổ thông và nâng cao, phù hợp với các đối tượng cần được phổ biến, các vùng miền, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương tại từng thời điểm.

Xây dựng bộ tài liệu chuẩn phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực văn hóa – xã hội. Phối hợp với Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, các Cục, Vụ, Viện, các ban ngành đoàn thể có liên quan trong chương trình, tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm chương trình, đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên từ trung ương đến cơ sở. Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông xây dựng và tổ chức các chuyên mục, các chương trình thông tin – truyền thông khoa học và công nghệ trực tiếp đến người dân, lồng ghép trong các chương trình, các hoạt động của các đơn vị có liên quan khác.

Tiến hành phổ biến các kiến thức khoa học và công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học vả công nghệ vào thực tiễn, gồm:

– Tăng cường việc phổ biến, giáo dục các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, kiến thức pháp luật cho nhân dân, phổ biến các giá văn hóa truyền thống của dân tộc kết hợp với các giá trị văn hóa tiến bộ trên thế giới phù hợp với bối cảnh phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

– Thúc đẩy sự phát triển công nghệ giải trí lành mạnh hướng tới các giá trị chân, thiện mỹ, khắc phục những tác động mặt trái của phát triển công nghệ đến văn hóa và đời sống nhân dân.

– Nâng cao ý thức bảo vệ di sản trong cộng đồng, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong công tác bảo vệ di sản quốc gia và các vùng miền, dân tộc.

Một số nội dung khác có thể nghiên cứu đưa vào dự thảo Luật Phổ biến kiến thức

Thực hiện thí điểm phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trong một số lĩnh vực, tại một số vùng miền.

Xây dựng các mô hình thí điểm phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ tại một số vùng miền thông qua các hoạt động đào tạo, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ cho các địa phương, hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật, trang thiết bị, biên soạn các sản phẩm phổ biến kiến thức, vận động cơ chế, chính sách, lồng ghép hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trong các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Các Nhà nước miễn giảm thuế, cho vay vốn, nhà nước chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị, tài liệu cho các cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ hiệu quả, các hình thức nêu gương, khen thưởng các cá nhân, tổ chức làm tốt công tác phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ

Xây dựng, hoàn thiện thể chế khuyến khích sự tham gia của các cá nhân, tổ chức, tăng cường sự chỉ đạo, phối hợp của cơ quan quản lý nước về công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống; tăng cường phối hợp giữa các nhóm xã hội để thực hiện tốt chương trình phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.

Cần ưu tiên các hoạt động biên soạn các tài liệu phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ

Xây dựng tủ sách phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ phổ thông; Xây dựng các chương trình phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ chuyên sâu theo trọng tâm, trọng điểm của các ngành nghề, lĩnh vực; Xây dựng các chuyên mục phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, lồng ghép trong các chương trình truyền thông khác.

Liên tục đổi mới phương pháp, kỹ thuật tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, áp dụng khoa học và công nghệ vào thực tế sản xuất và đời sống.

Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn, phẩm chất tốt, làm công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ từ trung ương đến địa phương; Bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ về kiến thức khoa học và công nghệ, biết áp dụng và triển khai các thành tựu của sáng tạo khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống, cũng như cán bộ làm công tác trong các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, tổ chức xã hội các cấp.

Sử dụng phương pháp, hình thức phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn và điều kiện cụ thể của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Rà soát lại các hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ cho các đối tượng mục tiêu. Tùy theo tình hình, đặc điểm cụ thể của từng đối tượng, địa bàn sử dụng linh hoạt các hình thức phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.

Khuyến khích cá nhân, tổ chức doanh nghiệp đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, lồng ghép việc thực hiện chương trình với việc thực hiện các chương trình khác tại địa phương.

Huy động sự tham gia, đóng góp tự nguyện của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, nhất là việc áp dụng vào thực tế.

Tổ chức các hoạt động kiểm tra, giám sát định kỳ, sơ kết, tổng kết việc tổ chức thực hiện Luật phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ trong từng giai đoạn.

 

Danh mục tài liệu tham khảo

  1. Đặng Vũ Cảnh Linh (2014) Hoạt động Phổ biến kiến thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Báo cáo phục vụ Báo cáo số 393/BC-LHHVN ngày 27/5/2014 của Liên hiệp Hội Việt Nam về Tình hình hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam trong thời gian qua)
  2. Đặng Vũ Cảnh Linh, Tô Bá Trọng (2013) Hoạt động thông tin và phổ biến kiến thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ( Báo cáo chuyên đề phục vụ hoạt động kỷ niệm 30 năm thành lập Liên hiệp Hội Việt Nam).
  3. Đặng Vũ Cảnh Linh (2014), Thực trạng hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giai đoạn 2010-2014, đề xuất định hướng hoạt động trong thời gian tới (Báo cáo chuyên đề Phục vụ văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam)

Đặng Vũ Cảnh Linh báo cáo chuyên đề khoa học nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật Phổ biến kiến thức KHCN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan