MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ TRÍ THỨC VÀ VAI TRÒ TRÍ THỨC
Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Intelligentia” được hiểu là sự hiểu biết, sự thông thái và trí tuệ. Theo nghĩa từ ghép Hán Việt, “trí” thuộc về “trí tuệ”, “trí óc”, “tư duy” còn “thức” thuộc về “thức tỉnh”, “giác ngộ”, “lương tri”, “đạo đức”. Trí thức được hiểu là những người có năng lực tư duy kiến thức, có tài năng và đạo đức. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa xung quanh thuật ngữ này, tuy nhiên tuỳ theo mỗi hoàn cảnh và cách tiếp cận khác nhau của mỗi ngành khoa học mà trí thức cũng hiểu khác nhau.
Nhiều nước phương Đông có ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo trước đây xếp trí thức là tầng lớp cao nhất trong xã hội theo trật tự: “sĩ, nông, công, thương”. Trong xã hội Nho giáo, trí thức là tầng lớp quan hệ mật thiết với giai cấp thống trị, được gắn mác với hình tượng người “kẻ sĩ”, “người quân tử”. Thông qua hệ thống thi cử, tuyển chọn tài năng, họ có thể được bổ nhiệm vào hệ thống quan lại triều đình, trở thành lớp người địa vị cao trong xã hội, sẵn sàng cống hiến, bảo vệ chế độ bằng hệ giá trị tư tưởng và đạo đức như: “trung quân”, “ái quốc”.

Ngày nay, khái niệm trí thức được mở rộng với hàng loạt những đặc trưng về năng lực chuyên môn, nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mối quan tâm, các giá trị đạo đức và văn hóa, dưới tác động của các điều kiện chủ quan và khách quan khác.
Cho đến nay trong xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức, đã có rất nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau xoay quanh thuật ngữ “trí thức”.
Theo Bách khoa toàn thư mở, “Trí thức” dùng để định nghĩa loại người sau đây: “Một trí thức là một người sử dụng tư tưởng và suy luận, trí thông minh và các suy luận có tính phản biện và phân tích, trong một ngành nghề nào đó hay là trong tư cách cá nhân và là một người có liên hệ với các ý tưởng và các lý thuyết trừu tượng; một người mà với ngành của mình (ví dụ triết học, phê bình văn học, xã hội học, luật, phân tích chính trị, khoa học lý thuyết…) tạo ra và truyền bá các ý tưởng mới; một người với kiến thức sâu rộng về văn hóa nghệ thuật đã làm cho tiếng nói của họ có ảnh hưởng trong công chúng” (1).
Bên cạnh định nghĩa mang tính phổ quát và lịch sử trong “Bách khoa toàn thư” Pháp, thì trong công trình “Từ điển Bách khoa” của Liên Xô trước đây (A.M. Prokhorov chủ biên, 1985) lại xác định rõ vai trò trí thức là những người lao động trí óc, sáng tạo ra tri thức, phát triển và truyền bá tri thức :
“Trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hoá”. Từ điển Bách khoa Liên Xô, A.M. Prokhorov chủ biên, 1985 (2).
Theo Đại từ điển bách Khoa Xô Viết do do C.I Ozegov chủ biên thì trí thức được định nghĩa là “trí thức là tầng lớp xã hội của những người làm nghề nghiệp là làm lao động trí óc, chủ yếu là lao động phức tạp, sáng tạo, là phát triển và phổ biến văn hóa”. Liên đoàn lao động trí thức quốc tế thì cho rằng “trí thức là những người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, văn học, khoa học, những người làm nghề tự do, những lao động trí óc được trả lương và sinh viên” (2).
Theo từ điển xã hội học Oxford, khái niệm trí thức được hiểu khác nhau theo các thời kì lịch sử cụ thể. Ví dụ: “ Theo truyền thống, trí thức có vai trò là những nhà tư tưởng hay những người tìm kiếm chân lý”…, Ở châu Âu , từ thời Phục Hưng cho đến thế kỉ XIX, trí thức là những người sáng tạo văn hóa cao cấp, là triết gia và những nhà phát kiến khoa học của thời đại đó” (4). Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XX, người ta có xu hướng đánh giá lại vai trò của trí thức do cách thức tổ chức xã hội hậu công nghiệp với trình độ phát triển khoa học công nghệ cao và ứng dụng của nó trong sản xuất cũng như đời sống xã hội.
Tiếp cận từ góc độ Xã hội học tri thức, nhà xã hội học người Đức Karl Mannheim đã cho rằng không chỉ bằng hai tiêu chí học vấn và nghề nghiệp mà đã xác định được đầu đủ những đặc trưng có trong trí thức. Theo ông, khái niệm trí thức cần khẳng định rõ hơn về vị trí, vai trò của chính nhóm này trong sự phát triển xã hội. Ông khẳng định trí thức là những người sáng tạo, phổ biến và vận dụng văn hóa, họ được coi là trí thức nếu họ có một vị trí nhất định trong nền văn hóa .
Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin nhấn mạnh đến khía cạnh của người trí thức cách mạng, họ là những kỹ sư, bác sĩ, nhà khoa học xuất phát từ lợi ích của bản thân và lợi ích của nhân dân lao động, liên minh với giai cấp công nhân và nông dân. Trong thư gửi “Đại Hội quốc tế sinh viên xã hội chủ nghĩa” ngày 19-12-1893, Ph. Ăngghen viết “các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ đội ngũ sinh viên, giai cấp đó có sứ mệnh kề vai sát cánh và cùng đứng trong đội ngũ những người anh em của họ, những người công nhân lao động chân tay, đóng vai trò trong cuộc cách mạng sắp tới đây” (5).
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng trí thức và đánh giá cao vai trò của trí thức đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người định nghĩa về trí thức một cách khá toàn diện và dễ hiểu như sau: “trí thức là hiểu biết, trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là sự hiểu biết tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác. Một người học xong đại học có thể được gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế thì y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành người trí thức hoàn toàn, thì y phải đem trí thức đó áp dụng vào thực tế” (6).
Định nghĩa về trí thức của chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò thực tiễn và sự cống hiến của đội ngũ trí thức, gắn với các mục tiêu quốc gia, dân tộc. Trí thức không hoàn toàn là là lao động trí óc thuần túy sách vở, lý thuyết suông.
Ngày nay, Trí thức thường được hiểu là người có kiến thức sâu xa về một hay nhiều lĩnh vực, lao động trí óc gắn với thực tiễn phát triển đất nước. Kế thừa quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nghị quyết số 27-NQ/TW (6-8-2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta khẳng định: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội (7).
Như vậy ngoài việc phân loại trí thức trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, có học thức, có trình độ mới chỉ là người trí thức “một nửa” và một nửa còn lại đó là lý tưởng, sự nhận thức, đóng góp học vấn, công sức vào lợi ích chung của quốc gia, dân tộc thì đó mới được coi là trí thức. Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa với thời đại phát triển ngày nay.
Bên cạnh đó, nghiên cứu về trí thức cũng có khá nhiều học giả hiện đại ở Việt Nam đưa ra những quan niệm và định nghĩa về trí thức. Theo GS Phạm Tất Dong, trí thức là những người có trình độ đại học (có bằng) và những người có trình độ tương đương đại học nhưng không có bằng, họ học từ thực tiễn cuộc sống. (8)
Để làm rõ thêm quan điểm của mình, GS. Phạm Tất Dong đã khẳng định 2 quan điểm sai lầm khi vội vã xác định khái niệm trí thức. Đó là “người ta trở thành trí thức từ trình độ nào?” và “làm nghề nào mới được coi là trí thức?”. Để trả lời cho hai vấn đề đó, tác giả cho rằng phải căn cứ vào từng thời đại mà có yêu cầu riêng cho những chuẩn mực này. Ví dụ như trong thời đại phong kiến học vị Tú tài đã là trí thức, còn ngày nay nhiều người có tấm bằng đại học chưa chắc dám nghĩ mình là trí thức.
Như vậy, quan niệm của GS. Phạm Tất Dong là khá cởi mở khi xác định khái niệm trí thức, xem xét trình độ của trí thức trong mối quan hệ với sự phát triển về mặt bằng chung của trình độ xã hội. Trí thức gắn với học vấn nhưng bằng cấp không phải là căn cứ “chủ yếu và duy nhất để xác định và định danh cho người trí thức” Do vậy việc xác định ai là trí thức cần phải được căn cứ vào năng lực thực chất và hiệu quả công việc của họ. Tác giả cũng nhận định thêm rằng “nhìn chung, trí thức được sản sinh và phát triển từ các trường đại học” và “vì vậy, học vấn đại học là điều kiện cần để con người được xếp vào đội ngũ trí thức” chứ chưa phải là điều kiện đủ (9).
Một trong những nhà nghiên cứu gần đây về trí thức là PGS. TS. Đàm Đức Vượng, sau khi phân tích hàng loạt các định nghĩa về trí thức, tác giả đưa ra 10 điểm quan trọng để xác định trí thức cho công trình nghiên cứu của mình, bao gồm: “1. Trí thức là người lao động trí óc. 2. Trí thức là người có trình độ học vấn cao. 3. Trí thức là người có cống hiến chất xám cho xã hội. 4. Trí thức là người có những sáng kiến, phát minh, có những công trình nghiên cứu khoa học. 5. Trí thức là người sống có nhân cách. 6. Trí thức là người không cơ hội trong chính trị và trong nghiên cứu khoa học. 7. Trí thức là người biết đào tạo, giúp đỡ, nâng đỡ đồng nghiệp vươn lên trong nghiên cứu khoa học và công vụ. 8 Trí thức là người biết gắn lý luận với thực tiễn đời sống xã hội. 9. Trí thức là người có tư duy độc lập, có chính kiến rõ ràng. 10. Trí thức là người biết hòa đồng đời sống riêng tư của mình vào đời sống cộng đồng xã hội” (10).
Có thể nhận thấy, hầu hết các quan điểm và định nghĩa nêu trên đều phản ánh những đặc trưng cơ bản của trí thức và lao động trí thức hiện nay bao gồm đặc trưng về lao động nghề nghiệp, đặc trưng về trình độ chuyên môn, học vấn, đặc trưng về nhóm và giai tầng xã hội.
Từ những định nghĩa, quan niệm chung về trí thức hiện nay, các nhà nghiên cứu đã xác định và làm rõ vai trò trí thức thông qua những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, trí thức là nhóm người lao động trí óc, có hiểu biết sâu về một lĩnh vực chuyên môn, được hình thành qua đào tạo, bồi dưỡng và phát triển, thông thường có trình độ đại học trở lên, có năng lực sáng tạo, nhạy bén cái mới, luôn trau dồi kiến thức, đổi mới và tự hoàn thiện năng lực trí tuệ.
Thứ hai, trí thức đại diện cho giá trị học vấn, trí tuệ, văn hóa của xã hội, có đời sống tinh thần phong phú, luôn hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ, khát vọng xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ ba, vai trò và hoạt động của trí thức không thể tách rời trách nhiệm với quốc gia, dân tộc, không ngừng lao động, sáng tạo, truyền bá, phổ biến kiến thức, áp dụng vào thực tiễn cải tạo xã hội.
Thứ tư, vai trò của trí thức không chỉ thúc đẩy vai trò phát triển của tri thức khoa học, nhận thức chân lý, mà hoạt động của giới trí thức còn góp phần sáng tạo, gìn giữ các giá trị của đạo đức xã hội.
CÁC LOẠI HÌNH, TỔ CHỨC TẬP HỢP TRÍ THỨC
Trong lịch sử Việt Nam, trí thức luôn được các triều đại coi trọng và nhìn nhận việc tập hợp trí thức là chính sách quan trọng nhất trong việc bảo vệ chế độ và phát triển đất nước. Từ triều Lý, các kỳ thi ba cấp từ địa phương đến trung ương (thi hương, thi hội, thi đình) được tổ chức thường xuyên để tuyển chọn nhân tài trí thức khắp các vùng miền ra làm quan giúp vua, giúp nước. Hầu hết các nhân sĩ trí thức đều được tuyển chọn và công nhận thông qua hệ thống thi cử của các triều đại phong kiến. Nhà nước luôn đề ra những chính sách ưu đãi và khuyến khích trí thức và những người học hành để trở thành trí thức, thường thì họ được miễn, giảm các loại phu, dịch vất vả, nặng nề như những người lao động. Đối với những người đỗ đạt, triều đình luôn tổ chức những nghi lễ long trọng trước khi bổ dụng làm quan, để biểu dương thành tích học sau bao ngày đèn sách vất vả.

Nghi lễ xướng danh Tiến sĩ, nghi lễ ban mũ áo cân đai, nghi lễ ban yến, nghi lễ đón đưa vinh qui bái tổ là những hình thức long trọng và động viên tích cực đối với những người có công đèn sách. Tên của những người đỗ Tiến sĩ được khắc vào bia đá ở Văn Miếu để lưu truyền hậu thế. Những người đỗ đạt đã trở thành niềm tự hào của dòng họ, làng quê.
Dưới thời Lê Thánh Tông, khoa bảng đã chiếm được một vị trí, ưu thế riêng biệt so với quyền hành. Đã thi đỗ thì chắc chắn được bổ làm quan, còn quan lại muốn có được bằng cấp thì phải học hành, thi cử như dân thường. Việc thi cử lại luôn có những luật lệ hết sức nghiêm ngặt, nhằm tìm ra những người trí thức thực tài, đảm bảo tính công bằng trong học tập. Chính sách đào tạo của triều đình cũng thường mở rộng không phân biệt bất cứ sự sang hèn hay tầng lớp, giai cấp nào.
Trong lịch sử của mình với những chính sách phát triển giáo dục và đào tạo từ trung ương đến địa phương, Việt Nam đã trở thành một nước có môi trường tốt để phát triển trí thức và các giá trị học vấn. Bản thân mỗi người dân thời nào cũng vậy đều nhận thức được tầm quan trọng của học hành. Điều đó đã tạo ra một tinh thần chuộng trí thức, học vấn, tôn trọng học hành ở người Việt. Kẻ sĩ được đưa lên hàng đầu, đề cao một cách tuyệt đối so với các tầng lớp khác: “Sĩ, Công, Nông, Thương”.
Chính sách, đoàn kết tập hợp trí thức của các triều đại phong kiến ở Việt Nam được đúc rút, tổng kết trong Lời chiếu năm Thiệu Bình do học giả Thân Nhân Trung biên soạn và được khắc trên tấm bia trang trọng ở Văn miếu quốc tử giám, đó là “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước xuống thấp, vì vậy các đức thánh đế, minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng”.
Ngày nay, sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá có một vị trí hết sức quan trọng đối với tương lai và vận mệnh của nước ta trong thế kỷ thứ 21. Sự thành bại của nó quyết định việc nước ta có thể theo kịp và đứng vào hàng ngũ những nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, hay vẫn sẽ tiếp tục là một nước nghèo nàn và lạc hậu. Chính mục tiêu công nghiệp hoá và hiện đại hoá lại đòi hỏi việc nâng cao không ngừng nền tảng tri thức và học vấn của toàn bộ xã hội, đặc biệt là phát triển đội ngũ trí thức, lực lượng chủ lực của trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Trí thức là nguồn lực, nguồn tài nguyên chất xám quan trọng không chỉ của quốc gia mà còn của cơ quan, tổ chức, mỗi ngành nghề, lĩnh vực lao động. Vai trò chủ chốt của đội ngũ trí thức thể hiện trong các hoạt động nghiên cứu, lao động, sáng tạo chuyên môn từ lý luận đến thực tiễn, vừa có trách nhiệm tạo các sản phẩm, vật chất và tinh thần, truyền bá và đưa các sản phẩm tri thức đó vào cuộc sống, ứng dụng, phục vụ các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đoàn kết và tập hợp trí thức thông qua các loại hình nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tạo chính sách và cơ chế cần thiết để trí thức có thể phát huy mọi khả năng của họ, cống hiến cho xã hội, luôn là nhiệm vụ trọng tâm của văn bản chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước, các bộ ngành và được thực hiện thường xuyên trong thực tiễn.
Để phân loại các loại hình và tổ chức tập hợp trí thức cần dựa trên các tiêu chí phân loại trí thức hiện nay. Có rất nhiều cách phân loại trí thức, tuy nhiên với sự phát triển của đội ngũ trí thức ở Việt Nam có thể tiếp cận đội ngũ trí thức hiện nay từ công tác đoàn kết, tập hợp trí thức theo ba tiêu chí sau:
– Lát cắt về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Có thể phân trí thức theo các chuyên ngành đào tạo, trình độ học vấn, các khóa đão tạo, bồi dưỡng, bằng cấp, chứng chỉ họ có…. Theo tiêu chí này việc phân loạt trí thức sẽ xác định được sự phân cấp về chuyên môn, trình độ của trí thức từ đó các nhà quản lý có thể sắp xếp bố trí công việc phù hợp cho trí thức để phát huy các thế mạnh chuyên môn của họ.
– Lát cắt về nghề nghiệp: Có thể phân chia trí thức thành các nhóm chủ chốt sau: trí thức làm chính trị, lãnh đạo, quản lý; trí thức nghiên cứu khoa học, sản xuất, kỹ thuật; trí thức các ngành văn hóa, nghệ thuật, văn nghệ sĩ; trí thức làm nghề sư phạm; trí thức trong các vấn đề an ninh, quốc phòng; trí thức trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe; trí thức công nhân, nông dân, doanh nhân; trí thức tôn giáo…
– Lát cắt về tổ chức : trí thức tham gia trong các cơ quan quản lý nhà nước, trí thức tham gia khối doanh nghiệp, ngoài công lập, trí thức tham gia các hội, các tổ chức dân sự…
Trên thực tế, việc phân loại trí thức chỉ ở mức độ tương đối hợp lý, còn phụ thuộc rất nhiều vào thực tế công tác đoàn kết, tập hợp và sử dụng trí thức. Việc hoạch định các chính sách phát huy vai trò trí thức cũng cần phải có những nghiên cứu khoa học và đi sâu vào các nhóm trí thức (thuộc đối tượng các chính sách) đại diện cho các nhóm và giai tầng trí thức như: trí thức các dân tộc thiểu số, trí thức về hưu, trí thức học sinh, sinh viên, nữ trí thức…
Theo nghiên cứu của GS Phạm Tất Dong, cấu trúc trí thức được chia làm 4 vòng:
Vòng 1 : gồm trí thức tiêu biểu, đầu ngành, có những công trình khoa học, văn học nghệ thuật đạt mức sáng tạo lớn, độc đáo, có uy tín lớn về chuyên môn trong phạm vi quốc gia hoặc quốc tế, có tác dụng làm phát triển các chuyên ngành khoa học, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, sản xuất, quản lý
Vòng 2: gồm những trí thức lao động trí óc đang ở cương vị nghiên cứu khoa học, giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng hay trung học, những văn nghệ sĩ có những sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Họ là những người có học hàm học vị (hoặc tương đương), đóng vai trò nòng cốt trong tập thể khoa học hay tập thể sáng tác văn học, nghệ thuật.
Vòng 3: gồm những người lao động trí óc đang vận dụng kiến thức văn hóa, khoa học và kỹ thuật, vào công việc chuyên môn với tư cách là kỹ sư, bác sĩ, kỹ thuật viên hoặc truyền bá, phổ biến văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật cho các đối tượng khác nhau. Những người làm việc này là các nhà giáo, tuyên truyền viên, phát thanh viên và các nhà hoạt động xã hội…
Vòng 4: gồm những sinh viên, nguồn đào tạo những trí thức. Những sinh viên có thể trở thành những trí thức tương lai, cũng có thể không, nhưng với họ, cần có những chính sách để họ trở thành nguồn bổ sung phong phú cho đội ngũ trí thức của đất nước (11).
Như vậy, dựa trên bảng phân loại trí thức có thể xây dựng các chính sách đoàn kết, tập hợp và phát huy vai trò trí thức phù hợp với ngành nghề, lĩnh vực hoạt động và tổ chức xã hội mà trí thức đang tham gia. Có những chủ trương, chính sách chung của Đảng, Nhà nước mà cũng có những chính sách đặc thù theo các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của trí thức, có các chính sách của các cơ quan, đoàn thể trong các hoạt động vận động trí thức.
Ngày nay với yêu cầu trí thức hóa các nhóm trí thức, đội ngũ trí thức ở Việt Nam đã có ở tất cả các giai tầng, lĩnh vực hoạt động của xã hội. Về quản lý, nhiều trí thức đã trở thành những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, các bộ ngành với học hàm giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ. Hiện nay hầu hết các cán bộ đang làm việc ở các cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương đều phải có trình độ từ cử nhân trở lên. Trí thức cũng đã xuất hiện khá đông đảo trong các nhóm công nhân, nông dân, doanh nhân và khảng định vai trò đầu tầu của mình trong định hướng phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Để làm tốt, phát huy vai trò trí thức, các chính sách từ vĩ mô đến vi mô, các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức đang quản lý đội ngũ trí thức và các tổ chức xã hội có liên quan cần chú trọng, triển khai các nội dung đoàn kết, tập hợp, vận động trí thức sau:
– Tuyên truyền sâu rộng và thực thi các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về trí thức và công tác vận động trí thức, khắc phục các quan điểm chưa đúng, định kiến và thái độ hẹp hòi với trí thức, cũng như những đánh giá chưa đúng, khách quan về vai trò của trí thức với sự phát triển của cơ quan, tổ chức và xã hội.
– Nghiên cứu, ban hành các văn bản thúc đẩy, thực hiện quyền tự do tư tưởng, phát huy lao động sáng tạo, sử dụng chất xám của trí thức, khuyến khích học thuật, quá trình tìm tòi chân lý khoa học trong các lĩnh vực, khuyến khích tranh luận trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng trong giới trí thức. Khuyến khích trí thức nghiên cứu khoa học, ứng dụng vào thực tiễn. Tạo điều kiện cho trí thức hội nhập, giao lưu quốc tế. Xây dựng các diễn đàn trí thức để đem tiếng nói của trí thức đóng góp vào công tác hoạch định chính sách, tham mưu giải quyết các vấn đề trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
– Tăng cường giáo dục, truyền thông nâng cao giá trị người trí thức, giúp trí thức nhận thức rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm với xã hội, giữ gìn sự ổn định xã hội, đoàn kết với các nhóm, giai tầng xã hội khác.
– Tăng cường các điều kiện về việc làm, phương tiện làm việc cho trí thức một cách xứng đáng và phù hợp, sử dụng trí thức theo tiêu chuẩn : đức- tài- cống hiến, tăng cường các hoạt động nêu gương, tôn vinh, đãi ngộ xứng đáng với trí thức.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
(1), (2), (3), (4), (8), (9) (11) Phạm Tất Dong (chủ biên) (1995), Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
(6) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
(10) Đàm Đức Vượng (2014), Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Nxb Chính trị – Quốc gia, Hà Nội.
Đặng Vũ Cảnh Linh, chuyên luận khái niệm trí thức, 2014
