TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Khái niệm và đặc trưng của khoa học

 Khoa học (Science) là một trong những thuật ngữ phổ biến trong đời sống con người và xã hội, có nhiều định nghĩa khác nhau.

Theo từ điển bách khoa thư mở (Wikipedia), khoa học là hệ thống kiến thức về những định luậtcấu trúc và cách vận hành của thế giới tự nhiên, được đúc kết thông qua việc quan sát, mô tả, đo đạc, thực nghiệm, phát triển lý thuyết bằng các phương pháp khoa học. (1)

Thông qua các phương pháp nghiên cứu có kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng. Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được.

Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2013), khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.

Theo Từ điển Giáo dục, khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảng của một bức tranh về thế giới. Từ khoa học cũng còn dùng để chỉ những lĩnh vực tri thức chuyên ngành. Những mục đích trực tiếp của khoa học là miêu tả, giải thích và dự báo các quá trình và các hiện tượng của thực tiễn dựa trên cơ sở những quy luật mà nó khám phá được.

Theo nhà nghiên cứu Sheldon (1997) khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực hiện bởi con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật – hiện tượng.

Minh họa, internet

Như vậy các định nghĩa đều có điểm chung nhìn nhận khoa học là quá trình nghiên cứu, tìm tòi, khám phá, sáng tạo về tri thức của con người về thực tiễn cuộc sống và gắn với đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành của khoa học. Để làm rõ hơn bản chất của khoa học cần nhìn nhận khoa học dưới 3 góc độ sau:

Khoa học là hình thái ý thức xã hội

Khoa học là tri thức phản ánh của tồn tại xã hội hiện thực khách quan vào ý thức con người. Ở trình độ thấp, đó là sự phản ánh tri thức trực tiếp của thế giới hiện thực và xã hội hàng ngày. Ở trình độ cao, khoa học hình thành hệ thống tư duy lí luận và có hệ thống về tri thức Hình thức phản ánh của khoa học là các khái niệm, phạm trù, khoa học, quy luật khoa học.

Khoa học có tính độc lập tương đối so với điều kiện kinh tế xã hội và tồn tại xã hội, thể hiện tính kế thừa, có lôgic phát triển nội tại, có sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội. Bên cạnh đó khoa học thể dự báo triển vọng của xã hội, cũng có thể cải tạo tồn tại xã hội thông qua thực tiễn (hoặc ngược lại).

Khoa học gắn liền với nền sản xuất xã hội, tham gia vào nền sản xuất xã hội thông qua hệ thống tri thức mà khoa học đóng góp cho thực tiễn. Khoa học tác động đến các hình thái xã hội quan trọng: chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa, đạo đức, tôn giáo…Khoa học và ứng dụng khoa học (tạo thành công nghệ) là động lực của sự phát triển.

Khoa học là hoạt động mang tính phổ quát và đặc thù của con người

Tính bao quát của tri thức khoa học luôn chi phối nhận thức và hành động của con người và xã hội. Bên cạnh đó tính đặc thù của khoa học là hoạt động khoa học mang tính đặc thù của các nhà khoa học.

Hoạt động khoa học và hoạt động có tính khoa học là quá trình lao động, sáng tạo, phủ định, luôn đổi mới, tiếp cận chân lý, xây dựng niềm tin lý tính phân biệt đúng, sai tạo ra giá trị chuẩn mực cho xã hội.

Khoa học luôn hướng đến cái đẹp và giá trị nhân văn, nhân đạo, gắn với quá trình xã hội hóa và người hóa.

Khoa học là một thiết chế xã hội đặc biệt

Sự tồn tại của khoa học là khách quan và thể hiện quyền lực tự nhiên của  khoa học như: quyền kết luận thuộc về quy luật, chân lý, quyền nghiên cứu cá nhân, nhóm độc lập, quyền tranh luận, phán xét, phản biện tri thức, quyền thẩm định, đánh giá. Bên cạnh đó với quyền lực xã hội của khoa học luôn tạo ra 2 mặt đồng thuận xã hội và xung đột, đấu tranh xã hội trên phương diện đi tìm chân lý của tri thức.

Với tư cách là thiết chế xã hội đặc biệt, khoa học hướng tới đáp ứng giá trị vật chất, tinh thần của con người, xã hội, hướng tới dân chủ, bình đẳng và tiến bộ, hướng tới giáo dục, xã hội hóa các chuẩn mực khoa học. Khoa học cũng có thiết chế đặc thù trong các hoạt động sở hữu trí tuệ, các quan hệ kinh tế trong các sản phẩm khoa học và được quy định trong hàng loạt các thiết chế xã hội khác.

Khái niệm và đặc trưng của công nghệ

Tương tự như khoa học, công nghệ (Tecnology) là một trong những thuật ngữ phổ biến trong đời sống, xuất phát từ thuật ngữ kỹ thuật (Technique) dùng để chỉ sự tác động của con người lên sự vật, hiện tượng theo một quy trình định trước và học thuật, nghiên cứu (Logia). Như vậy, ngay trong nghĩa từ, công nghệ hàm ý về quy trình kỹ thuật và mang đậm tính nghiên cứu, học thuật.

Theo từ điển bách khoa thư mở (Wikipedia), công nghệ  là sự phát minh, sự thay đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụmáy móckỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình. Nói một cách đơn giản, công nghệ là sự ứng dụng những phát minh khoa học vào những mục tiêu hoặc sản phẩm thực tiễn và cụ thể phục vụ đời sống con người, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp hoặc thương mại. Thuật ngữ công nghệ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể, ví dụ như “công nghệ xây dựng”, “công nghệ thông tin“.

Trong tiếng Việt, các từ khoa học“, “kỹ thuật“,“công nghệ” đôi khi được dùng với nghĩa tương tự nhau hay được ghép lại với nhau (chẳng hạn “khoa học kỹ thuật“, “khoa học công nghệ”, “kỹ thuật công nghệ”). Tuy vậy, công nghệ khác với khoa học và kỹ thuật. Khoa học là hệ thống kiến thức về những định luật, cấu trúc, và cách vận hành của thế giới tự nhiên, được đúc kết thông qua việc quan sát, mô tả, đo đạc, thực nghiệm, phát triển lý thuyết bằng các phương pháp khoa học. Còn kỹ thuật là việc ứng dụng kiến thức khoa học để mang lại giá trị thực tiễn như việc thiết kế, chế tạo, và vận hành những công trình, máy móc, quy trình, và hệ thống một cách hiệu quả và kinh tế nhất. (2)

Theo Luật Khoa học và Công nghệ 2013, Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

Như vậy, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ, tuy nhiên trong mối quan hệ với khoa học, công nghệ là ứng dụng tri thức khoa học thành kỹ thuật tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội, nó có thể được hiểu là kỹ thuật (giải pháp kỹ thuật), dây chuyền, quy trình đồng bộ, được xác định theo phạm vi không gian, thời gian.

Theo nghĩa rộng, công nghệ hiểu mang tính bao quát hàng loạt vấn đề của cuộc sống và lịch sử loài người cũng được coi là lịch sử của sự phát triển thay thế công nghệ cũ bằng công nghệ mới: từ những kỹ thuật thô sơ, giản đơn đến những công nghệ ngày càng tinh vi, phức tạp do quá trình sáng tạo và áp dụng không không ngừng các thành quả nghiên cứu, ứng dụng  khoa học vào cải tạo thực tiễn.

Khác với khoa học, thành tố của công  nghệ bao gồm phần cứng (máy móc, thiết bị) và phần mềm (tri thức vận hành, quản lý phần cứng). Sự vận hành của công nghệ là việc tuân thủ quy trình vận hành tương tác giữa phần cứng và phần mềm trong một công nghệ. Sự chuyển giao công nghệ, ngoài phần cứng và phần mềm còn có thể mở rộng hơn là bí quyết công nghệ. Đó là tri thức cốt lõi tạo nên một công nghệ.

So sánh giữa khoa học và công nghệ

Khoa học thiên về nghiên cứu và phát minh, phạm vi hoạt động khoa học rộng và đa chiều hơn công nghệ, có sự phân loại theo lĩnh vực, loại hình (Khoa học cơ bản, khoa học chuyên ngành, khoa học ứng dụng…), hoạt động khoa học mang tính sáng tạo cao, ít chịu chi phối, dẫn dắt của các thể chế. Khoa học được thừa nhận về tính cá nhân, cống hiến cá nhân và tuổi của các công trình nghiên cứu, phát kiến khoa học tương đối dài, công trình sau kế thừa nghiên cứu của công trình trước.

Công nghệ mang tính ứng dụng và sáng chế, phạm vi hoạt động được giới hạn về không gian, thời gian. Bên cạnh đó, không phải tri thức khoa học nào cũng trở thành công nghệ. Công nghệ bị lệ thuộc vào quy trình, công thức và chịu sự chi phối mạnh mẽ của các thể chế và như cầu trong đời sống. Công nghệ thiên về tính tập thể và tuôi công nghệ ngắn phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội

• Khái niệm và cơ sở pháp lý cho truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ

Truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ là hoạt động sử dụng các phương pháp, kỹ thuật của truyền thông để đưa kiến thức khoa học và công nghệ đến các đối tượng có nhu cầu tiếp nhận và thông qua đó ứng dụng trong hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống.

Truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ phải tuân thủ theo các quy tắc của quy trình truyền thông, đồng thời tuân thủ các đặc trưng, đặc thù của tri thức khoa học và công nghệ phân theo các ngành nghề, lĩnh vực và nhu cầu cụ thể.

Về pháp lý, truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ được quy định tại Hiến pháp 2013, điều 48 và điều 50 Luật Khoa học và Công nghệ 2013, cụ thể là:

Khoản 1, Điều 62, Hiến pháp năm 2013 :

Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Điều 48, Luật Khoa học và công nghệ 2013 về Truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ:

  1. Nhà nước đầu tư, khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển công tác truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.
  2. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hằng năm, 05 năm về công tác truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.
  3. Kinh phí của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư, tài trợ cho hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ được tính vào chi phí hợp lý.

Khoản 8, Điều 50, Luật Khoa học và công nghệ 2013 về mục đích chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ:

  1. Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, truyền thông, thông tin, thống kê khoa học và công nghệ; hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, công bố kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, giải thưởng khoa học và công nghệ.

• Đặc điểm chung của Truyền thông khoa học và công nghệ:

– Cung cấp kiến thức, kỹ năng, thông tin về khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực cho nhóm và toàn thể xã hội theo nhu cầu hiểu biết và ứng dụng trong đời sống xã hội (bao gồm thể chế, chính sách, thành tựu, tri thức, tin tức, sự kiện liên quan tình hình phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam và thế giới)

– Phục vụ nhu cầu trao đổi tri thức, nâng cao kiến thức, kỹ năng trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, phát triển khoa học và công nghệ trong các thời kỳ

– Trao đổi thông tin chuyên ngành – liên ngành, chuyên môn sâu trong lĩnh vực khoa học và công nghệ hẹp, đồng thời phổ cập kiến thức khoa học và, công nghệ trên phương diện đại chúng

– Truyền thông khoa học và công nghệ chịu tác động của tất cả các quá trình truyền thông, phương tiện truyền thông, xu hướng truyền thông hiện đại như một lĩnh vực thuộc về nội dung truyền thông.

– Chịu tác động của tất cả các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

– Bên cạnh đó do tầm ảnh hưởng của tri thức khoa học và công nghệ trong đời sóng, truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ cần sự cam kết trách nhiệm và đạo đức xã hội đối với các thông tin đưa ra từ nguồn phát

– Sự thống nhất và độc lập tương đối giữa vai trò nhà khoa học và nhà truyền thông

– Truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ đồng thời gắn với mô hình nghiên cứu, phát triển (R&D) trong các mục tiêu phát triển cộng đồng và xã hội

  • Quy trình truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ

Quy trình truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ gắn bó chặt chẽ với quy trình truyền thông bao gồm các công đoạn và các bước như các mô hình truyền thông: nguồn phát, thông điệp, kênh, người tiếp nhận, nhiễu…Tuy nhiên các đặc điểm cần lưu ý.

– Nguồn phát là các nhà khoa học, cở khoa học có trách nhiệm và uy tín, đảm bảo tính hiệu lực về chuyên môn trong việc đăng, phát kiến thức, thông tin.

– Nội dung thông điệp gắn với kiến thức khoa học, đã được kiểm chứng (hoặc những vấn đề gây tranh cãi cần kiểm chứng) có liên quan mật thiết tới hoạt động nghiên cứu khoa học mang tính đặc thù của cá nhân, cơ quan, tổ chức khoa học.

Minh họa, internet

– Kênh truyền tin có thể sử dụng kênh đặc thù của khoa học như báo, tạp chí kênh truyền hình khoa học, các hình thức tuyên truyền của chuyên gia, đồng thời sử dụng các kênh truyền thông đại chúng.

– Đối tượng tiếp nhận là công chúng có như cầu hiểu biết, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ, đồng thời là các nhà khoa học, nhà quản lý hoạch định chính sách.

– Ngoài ra khu vực nhiễu thông tin trong tranh luận các vấn đề khoa học và thống nhất tri thức cần truyền thông có thể chịu sự tác động của các nhóm xã hội trung gian, môi trường thể chế, chính sách và dư luận xã hội.

TRÍCH DẪN

 (1) https://vi.wikipedia.org/wiki/Khoa_h%E1%BB%8Dc

(2) https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87

Đặng Vũ Cảnh Linh chủ biên, Sổ tay truyền thông, phổ biến kiến thức, NXB Nông nghiệp 2024

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

TALK WITH HÀN VŨ LINH

Hàn Vũ Linh, tên thật Đặng Vũ Cảnh Linh sinh năm 1974, Hà Nội làm khoa học, viết báo, thơ và nhạc Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Hội Triết học, Hội Xã hội học Việt Nam, Hội âm nhạc Hà Nội...

spot_imgspot_imgspot_imgspot_img

Bài viết liên quan