GiadinhNet – Nhằm giúp độc giả hiểu rõ hơn về những yếu tố ảnh hưởng tới mức sinh ở Việt Nam, ý nghĩa của việc điều chỉnh mức sinh phù hợp, đưa ra khuyến nghị, giải pháp để đạt mục tiêu duy trì bền vững mức sinh thay thế trên cả nước, Báo điện tử Gia đình & Xã hội (Giadinh.net.vn), Tổng cục Dân số (Bộ Y tế) tổ chức buổi Giao lưu trực tuyến với chủ đề: Vì sao cần điều chỉnh mức sinh phù hợp?
Từ năm 2006, Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế và duy trì trong hơn 13 năm qua. Tuy nhiên, kết quả này chưa thực sự vững chắc. Theo kết quả cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, Việt Nam đang đối mặt với thực trạng chênh lệch mức sinh đáng kể giữa các vùng. Hiện nay, nước ta có 21 tỉnh, thành phố có mức sinh thấp; 33 tỉnh, thành phố thuộc diện mức sinh cao và 9 tỉnh, thành phố đạt mức sinh thay thế.
Mức sinh không đồng đều giữa các vùng, miền, tỉnh/thành đang là thách thức lớn của công tác dân số ở nước ta hiện nay. Điều này đòi hỏi phải có sự điều chỉnh phù hợp theo đặc điểm từng địa phương, vùng miền.
Duy trì mức sinh thay thế và giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, địa phương sẽ góp phần ổn định quy mô dân số, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực cho phát triển đất nước. Kết quả này giúp tránh được những hiệu ứng không tích cực của cả hai trạng thái: quy mô dân số quá đông, mật độ dân số quá cao do mức sinh tăng trở lại hoặc quy mô dân số giảm sớm, giảm nhanh nếu mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế thì rất khó đưa mức sinh tăng trở lại, dù có đầu tư lớn cho chính sách khuyến sinh.
Giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, địa phương góp phần giảm khoảng cách chênh lệch hoặc chí ít cũng làm chậm lại tốc độ gia tăng khoảng cách về thu nhập, mức sống giữa các vùng, các nhóm dân cư, giảm đói nghèo ở các khu vực khó khăn, nơi thường có mức sinh cao.
Điều chỉnh mức sinh phù hợp, kịp thời, sẽ góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước và từng địa phương.
Tại Chiến lược Dân số đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành 22/11/2019 nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 21/NQ – TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 đã đưa ra một trong những mục tiêu hàng đầu của giai đoạn tới là “duy trì mức sinh thay thế, giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc điều chỉnh mức sinh phù hợp.

Nhằm giúp độc giả hiểu rõ hơn về những yếu tố ảnh hưởng tới mức sinh ở Việt Nam, ý nghĩa của việc điều chỉnh mức sinh phù hợp, cùng đó, đưa ra những khuyến nghị, giải pháp để đạt được mục tiêu duy trì bền vững mức sinh thay thế trên cả nước, Báo điện tử Gia đình và Xã hội (Giadinh.net.vn), Tổng cục Dân số (Bộ Y tế) tổ chức buổi Giao lưu trực tuyến với chủ đề: Vì sao cần điều chỉnh mức sinh phù hợp?
Các khách mời tham gia chương trình:
– Ông Nguyễn Văn Tân – Nguyên Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Dân số
– TS Đặng Vũ Cảnh Linh – Ban Truyền thông và Phổ biến kiến thức – Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
– TS. Hà Việt Hùng – Viện Xã hội học và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ THEO DÕI NỘI DUNG GIAO LƯU Ở PHÍA DƯỚI BÀI VIẾT NÀY
Nguyễn Văn Sơn hỏi 10:19 24/12/2020
@ TS HÀ VIỆT HÙNG: Hiện nay ở các thành phố lớn, chi phí nuôi dạy một đứa trẻ là rất cao (chi phí giáo dục, giải trí, y tế…). Có phải đây là nguyên nhân chính khiến mức sinh ở các thành phố lớn đang trong xu thế giảm? Vậy có phải Đảng, Nhà nước cần tập trung quan tâm nhiều hơn trong việc cải thiện chất lượng hệ thống giáo dục công nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí cho các hộ gia đình, qua đó giúp tăng tỷ lệ sinh?

Có nhiều yếu tố tác động đến mức sinh. Ở khu vực đô thị, chi phí nuôi dạy trẻ em tương đối cao và các dịch vụ liên quan về y tế, giáo dục còn hạn chế. Do vậy, chính quyền địa phương các cấp cần quan tâm nhiều hơn tới việc phát triển các dịch vụ về y tế, và giáo dục cho trẻ em nhằm giúp các bậc cha mẹ có nhiều thời gian hơn dành cho công việc của họ.
Nguyễn Quang Anh hỏi 10:24 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Dưới góc độ là một nhà nghiên cứu, ông đánh giá như thế nào về sự thay đổi mức sinh của Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua?

Dưới tác động của chính sách dân số và tiến trình phát triển kinh tế – xã hội, mức sinh đã giảm tương đối nhanh so với nhiều quốc gia đang phát triển khác ở Đông Nam Á và thế giới. Mức sinh ở nước ta đã giảm với nhịp độ nhanh hơn trong những năm 1990 (1993 – 1999) so với giai đoạn trước đó. Từ năm 2005 đến nay, chúng ta đã thành công trong việc duy trì mức sinh thay thế nhằm bảo đảm có cơ cấu dân số hợp lý. Chúng ta đã thực hiện thành công các mục tiêu cơ bản của các chiến lược dân số đề ra trong 3 thập kỷ gần đây.
Phạm Hồng Hà hỏi 9:58 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Mức sinh, thói quen sinh đẻ của con người bị tác động bởi những vấn đề nào, thưa ông?

Mức sinh là khái niệm mô tả về thực tế khả năng sinh đẻ của người phụ nữ, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể trực tiếp và có thể gián tiếp tùy thuộc vào điều kiện của các gia đình, điều kiện kinh tế – xã hội, địa vị của phụ nữ, chính sách dân số, việc sử dụng các biện pháp tránh thai, các yếu tố về quan niệm, nhận thức văn hóa, phong tục tập quán…
Có thể hình dung trong thực tế, việc quyết định sinh con của người phụ nữ hoặc các cặp đôi phụ thuộc vào quá nhiều thứ, nó không hề là một quyết định đơn giản. Ví dụ như tình trạng sức khỏe, công việc, điều kiện kinh tế, thu nhập, mong muốn, dự định thời gian sinh con, văn hóa gia đình và tác động của các mối quan hệ xã hội khác…
Trần Thảo Trang hỏi 10:27 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Vì sao chúng ta truyền thông rất nhiều rồi mà người dân vẫn sinh đông con? Như ở Hà Tĩnh, mỗi phụ nữ trung bình sinh tới gần 3 con. Phải chăng các giải pháp chúng ta thực hiện trong suốt mấy chục năm qua vẫn chưa thực sự giúp thay đổi nhận thực người dân và đem lại hiệu quả ở những địa phương này?

Một số vùng mức sinh cao như trường hợp Hà Tĩnh là do truyền thông không hiệu quả. Các chương trình truyền thông đại chúng về dân số hiện nay ít được chú ý, quan tâm, đầu tư như trước đây, thời kỳ mà chúng ta làm mạnh để giảm mức sinh. Tuyên truyền viên cơ sở cũng ít quan tâm, không xác định, khoanh vùng trọng tâm, trong điểm, đi từ nhà tuyên truyền đến gõ cửa từng nhà người dân như trước. Nhà nước thì bãi bỏ chế tài xử phạt, người dân thì một phần thiếu hiểu biết chính sách dân số, tâm lý xem nhẹ việc tăng mức sinh ảnh hưởng đến cộng đồng. Các yếu tố về văn hóa vùng miền, xu hướng quay lại truyền thống, tư tưởng đông con, nhiều cháu là có phúc, xuất hiện trở lại ở một số vùng, nhất là khi điều kiện kinh tế tốt hơn.
Lê Bích Lan hỏi 10:5 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Mọi người vẫn nói có một “làn sóng” sinh con thứ 3 ở khu vực Bắc bộ tại các gia đình có điều kiện (có người thì vì cố sinh được con trai sau khi 2 con gái đã lớn; có người vì muốn sinh thêm cho đông vui…), theo ông làn sóng đó có là xu hướng, có ảnh hưởng đến mục tiêu chung không?

Việc sinh con 3 ở các gia đình có điều kiện cũng có ý nghĩa tích cực trong việc cải thiện chất lượng dân số. Chất lượng dân số được đo bằng rất nhiều chỉ số như phát triển con người (HDI), chỉ số phát triển giới tính (GDI), chỉ số vị thế theo giới tính (GEM), chỉ số thành tựu công nghệ (TAI)… Quan trọng hơn cả là những đứa trẻ sinh ra phải được chăm sóc tốt, môi trường thuận lợi cho phát triển, thể chất lẫn trí tuệ và hạnh phúc… Chưa kể gia đình “có điều kiện” là những người thành đạt, có địa vị xã hội, có bộ gen tốt. Tuy nhiên, chính sách dân số khuyến khích hay không khuyến khích nhóm này cần đặt trong mức sinh chung của vùng miền để có những sự điều chỉnh phù hợp theo từng thời kỳ.
Phan Huyền Anh hỏi 9:52 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Hiện nước ta đang có sự chênh lệch mức sinh giữa các vùng. Cụ thể, có 33 tỉnh mức sinh cao, 21 tỉnh mức sinh thấp và 9 tỉnh đạt mức sinh thay thế. Như vậy, rõ ràng có thể thấy, nội dung truyền thông ở các vùng là khác nhau để đạt một mục tiêu chung là duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên toàn quốc. Theo ông, ở từng vùng cụ thể, chúng ta sẽ có những thông điệp truyền thông và giải pháp cụ thể như thế nào?

Tôi cho rằng truyền thông phải bám sát yếu tố vùng miền, đặc biệt là trình độ phát triển và văn hóa. Xã hội là tổng hòa các nhóm xã hội nhỏ bé, nếu không nghiên cứu cẩn thận các thông điệp, phương thức truyền tải thông tin sát và theo sát các đối tượng đích thì khó thu hút sự quan tâm và thay đổi hành vi của các nhóm xã hội mà chính sách mong muốn.
Cần xây dựng chính sách dân số theo khu vực và là chính sách mở, điều chỉnh theo các thời kỳ đồng thời tăng cường truyền thông dân số trở lại mạnh như những thời kỳ trước đây và đầu tư, huy động thêm các nguồn lực cho công tác này. Các thông điệp truyền thông không hướng vào kế hoạch hóa gia đình như trước đây mà cần điều chỉnh theo hướng mức sinh thay thế hợp lý, cân đối mức sinh giữa các vùng miền đề cao mục tiêu cải thiện chất lượng dân số trong những năm tới.
Trần Ánh Nguyệt hỏi 10:22 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH: Tôi đọc báo thấy thông tin người dân khu vực Đông Nam bộ, Tây Nam Bộ, duyên hải miền Trung sinh ít con. Thậm chí có nơi như TP HCM, mức sinh còn chỉ hơn 1,3 con một xíu. Có phải giá trị con cái ở trong khu vực này không được coi trọng như ở khu vực Bắc Trung bộ, Bắc bộ,…?

Cần có những nghiên cứu khoa học để đánh giá, làm rõ sự khác biệt về mức sinh giữa các vùng miền, xác định chắc chắn những yếu tố tác động làm, nguyên nhân chính để dẫn tới mức sinh ở vùng đó cao hay thấp. Theo suy nghĩ của tôi (có thể là cá nhân và chưa chắc chắn) ngoài những yếu tố tác động cơ bản như kể trên thì có một nguyên nhân đó là các vùng Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ hay thành phố Hồ Chí Minh có mức sinh thấp là do sự biến động cơ học về di cư và lao động liên tục.
Với những khu vực có nhiều nhóm người lao động thường xuyên di chuyển, cư trú trên diện rộng, không ổn định, thì đồng nghĩa với việc điều kiện sống gia đình không ổn định, cố định. Khi công việc kiếm sống, nghề nghiệp luôn được ưu tiên hàng đầu thì đương nhiên việc sinh con, đẻ cái đều được các cặp vợ chồng tính toán, không quyết định sinh con vội vàng hay dễ dàng trong thời điểm họ đang bận rộn và có nhiều mối quan tâm cho công việc.
Phương Mai Phạm hỏi 9:59 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Theo ông, mức sinh thấp ở một số vùng của VN hiện nay do những nguyên nhân nào?

Mức sinh thấp cũng giống như mức sinh cao, sự chênh lệch này biểu hiện rõ khác biệt điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa – vùng miền và đặc biệt nhận thức, hành vi các cặp vợ chồng. “Lười đẻ” xuất hiện trong các gia đình khá giả nhưng bận rộn công việc, thăng tiến xã hội. Ngược lại cũng xuất hiện tại các gia đình kinh tế khó khăn, không ổn định công ăn, việc làm, điều kiện cư trú. Như vậy đây là sự tương phản giữa 2 nhóm xã hội theo kinh tế ở tầng lớp thu nhập cao và tầng lớp thu nhập thấp cùng có những khó khăn và quan niệm về hạn chế sinh đẻ. Tôi nghĩ cần có thêm những nghiên cứu khoa học cẩn thận về vấn đề này.
Huỳnh Thu Lệ hỏi 9:50 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Trong chương trình điều chỉnh mức sinh lần này có nội dung khuyến khích nam, nữ kết hôn trước 30 tuổi và phụ nữ sinh con thứ hai trước 35 tuổi. Tôi thấy giờ phụ nữ cũng bình đẳng với nam giới, cũng khát khao cống hiến, khẳng định vai trò với xã hội, càng thế họ càng khắt khe hơn với hôn nhân và tình yêu. Có phải vì thế mà tăng số lượng phụ nữ chậm lấy chồng, ngại sinh con hoặc sinh đủ 2 con không, thưa ông?

Việc kết hôn muộn là xu hướng của cả hai giới ở xã hội hiện đại. Khi điều kiện, trình độ phát triển xã hội ngày càng biến động nhanh thì môi trường cạnh tranh trong công việc, nghề nghiệp, sự khẳng định vị thế, vai trò mỗi cá nhân ngày càng khó khăn hơn. Thanh niên quan niệm họ cần có nhiều thứ trước khi có hôn nhân như kinh tế, công việc, địa vị, sự nhận thức chín chắn về hôn nhân, gia đình…là mong muốn chính đáng. Phụ nữ cũng vậy, khi chính sách bình đẳng giới ngày càng tạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ tham gia công việc xã hội và khẳng định giá trị trong xã hội nhiều hơn gia đình thì họ cũng không muốn kết hôn sớm, đặc biệt khi thiên chức làm mẹ, sinh con gắn với họ, gắn với cuộc sống gia đình trong một thời gian dài…
Nhiều phụ nữ có tâm lý sợ kết hôn, sợ cuộc sống gia đình, sợ trách nhiệm với gia đình nhà chồng, sinh con cái liên tục làm mất đi cơ hội cho bản thân. Tuy nhiên việc sinh con và chất lượng những đứa trẻ sinh ra, chất lượng dân số thế hệ hệ sau lại phụ thuộc rất nhiều vào sức khỏe của bố mẹ, nên chính sách của chúng ta khuyến khích nam nữ kết hôn trước 30 tuổi, phụ nữ kết hôn trước 35 tuổi là phù hợp. Tuy nhiên để có hiệu quả cho chính sách này, cần hướng vào những chính sách cụ thể nhiều hơn vì dụ như tăng cường sự trách nhiệm, chia sẻ của nam giới với phụ nữ trong công việc gia đình (làm việc nhà), nuôi dạy con cái. Nhiều quốc gia có chính sách cho nam giới được nghỉ việc chăm sóc vợ, con một thời gian dài khi phụ nữ sinh đẻ chẳng hạn.
Hoàng Thu Anh hỏi 9:50 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Nhiều quốc gia trên thế giới đổ nhiều tiền để khuyến khích sinh như Nhật Bản, Hàn Quốc, theo ông vì sao ở các nước này, người dân lười sinh con thế?

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến mức sinh thấp ở nhiều quốc gia dù điều kiện sống tốt, chính sách nhà nước luôn tạo điều kiện, khuyến khích sinh đẻ là do xu hướng lối sống, văn hóa ngày càng đề cao tự do cá nhân. Khi tự do cá nhân càng cao thì dường như ở nhiều quốc gia các giá trị gia đình giảm, trong đó có giá trị con cái. Bên cạnh đó chức năng kinh tế của gia đình ngày càng thay đổi từ đơn vị sản xuất sang đơn vị tiêu dùng, hưởng thụ…thì nhiều người ngày càng ngại sinh con, nuôi con vì đây là một quá trình vất vả, mất quá nhiều thời gian, công sức và quan trọng là mất đi cơ hội làm việc thăng tiến, hưởng thụ khác cho bản thân (hay cho cả vợ, chồng, của mình).
Lê Thị Oanh hỏi 9:50 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Theo ông việc điều chỉnh mức sinh hợp lý có ý nghĩa thế nào khi tốc độ già hoá dân số ở nước ta đang rất nhanh và thuộc top đầu của thế giới?

Điều chỉnh mức sinh hợp lý mang ý nghĩa sống còn không chỉ với chính sách dân số mà hầu hết các chính sách quốc gia như lao động, việc làm, phát triển nhân lực, an sinh xã hội. Vì con người là động lực và mục tiêu của sự phát triển trong xã hội hiện đại. Sự bất ổn về cơ cấu dân số (tuổi, giới tính…) sẽ gây ra hệ lụy lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mục tiêu phát triển quốc gia. Việt Nam chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để đón nhận một xã hội nhiều người già và sẽ phải nhập khẩu lao động. Vì vậy điều chỉnh mức sinh hợp lý là giải pháp quan trọng nhất để tránh thiếu hụt lao động trong tương lai.
Trương Thị Lan Anh hỏi 9:50 24/12/2020
@TS ĐẶNG VŨ CẢNH LINH : Có phải chính sách an sinh xã hội, chăm lo cho tuổi già của chúng ta chưa tốt, chưa đầy đủ, khiến người ta sinh ít con không ạ? Ông đánh giá thế nào về chính sách chăm lo và phát huy vai trò của người cao tuổi ở nước ta?

Quá trình già hóa dân số sẽ tạo ra sức ép không nhỏ cho Việt Nam trong tương lai. Chúng ta không thể trái quy luật, qua thời kỳ dân số vàng là thời kỳ già hóa dân số. Chúng ta sẽ phải làm quen việc mở cửa ra đường gặp nhiều người già, lên mạng xã hội thấy nhiều hình ảnh người già… Việt Nam có truyền thống “trọng lão” thuận lợi cho việc chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi…Tuy nhiên sức ép không nhỏ nếu số người phụ thuộc quá đông trong xã hội. Cần sớm thúc đẩy quá trình chăm sóc người già tốt, nếu người cao tuổi khỏe mạnh thể chất, tinh thần, họ tiếp tục lao động, cống hiến cho xã hội.
Vũ Việt Hoàng hỏi 10:23 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Từng phụ trách ngành dân số trong thời gian dài, ông có thể chia sẻ thêm một vài bí quyết, kinh nghiệm trong công tác chuyên môn liên quan đến vấn đề điều chỉnh mức sinh?

Bạn hỏi một câu rất khó. Tôi làm công tác DS-KHHGĐ đã 27 năm và suốt những năm đó đều tập trung vào công tác giảm sinh nên có thể nói rằng có rất nhiều kinh nghiệm trong công tác dân số theo định hướng này. Trong khi đó, điều chỉnh tăng sinh thì tôi chưa từng làm bao giờ nên không có chút kinh nghiệm nào cả. Tuy nhiên tôi cho rằng chúng ta cứ làm, cứ dũng cảm, nhiệt tình lao vào việc rồi sẽ rút ra được những kinh nghiệm để làm tốt hơn, dù đó là bất cứ việc gì, giảm hay là tăng sinh.
Nguyễn Thị Thu hỏi 11:40 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Mức sinh thấp là hiện tượng khá mới tại một số địa phương ở Việt Nam. Trên thế giới cũng chưa có quốc gia nào thành công trong việc điều chỉnh nâng được mức sinh lên mức sinh tụt xuống thấp. Đó có phải là thách thức lớn trong việc nâng mức sinh tại các địa phương đang có mức sinh thấp? Làm sao để các địa phương này không để mức sinh xuống thấp nữa?

Việc nâng mức sinh đang ở mức xuống quá thấp tăng trở lại thực sự là một thách thức lớn đối với những địa phương có mức sinh thấp nói riêng và đối với cả nước nói chung. Sở dĩ như vậy là vì thực tế việc tăng mức sinh lên ở những nơi có mức sinh thấp là việc khó khăn, kinh nghiệm thế giới cũng đã cho thấy như vậy. Mặt khác, đây là việc mới chúng ta cũng chưa có kinh nghiệm. Tuy nhiên, cơ hội thành công của việc này ở Việt Nam khá lớn vì mức sinh của chúng ta vẫn chưa xuống quá thấp. Việc trước mắt là chúng ta không để mức sinh (tính trên phạm vi cả nước) tiếp tục giảm xuống.
Trịnh Văn Toán hỏi 10:39 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Việc đưa một vấn đề quan trọng trong công tác dân số như mức sinh vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh, thành có vai trò như thế nào? Theo ông thời gian qua việc đưa dân số vào kế hoạch phát triển tại địa phương đã được thực hiện nghiêm túc?

Việc đưa những chỉ tiêu về điều chỉnh mức sinh trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đã được thực hiện trong nhiều năm và đã chứng tỏ có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và công tác dân số nói riêng. Tuy nhiên, các biến dân số khác như cơ cấu dân số, di cư… vẫn còn chưa được lồng ghép tốt vào trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội do đó làm giảm hiệu quả của các kế hoạch đầu tư công. Có nhiều nguyên nhân cả về nhận thức lẫn hệ thống thông tin về dân số chưa chính xác dẫn đến tình trạng trên.
Hà Hoài Thương hỏi 10:21 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Việt Nam học được điều gì từ các nước đã thất bại trong khuyến sinh? Câu chuyện mức sinh thấp ở thành phố Hồ Chí Minh liệu có là một điều đáng lo ngại không, thưa ông?

Thế giới đã có 1 kinh nghiệm phổ quát như sau: Có rất nhiều nước thành công trong việc giảm sinh nhưng chưa chứng kiến một nước nào thành công trong việc tăng sinh khi mức sinh đã xuống quá thấp. Ví dụ Hàn Quốc chỉ mất 21 năm (từ 1962 – 1983) để đạt mức sinh thay thế. Sau đó, Hàn Quốc vẫn tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách giảm sinh. Đến năm 1996, khi mức sinh giảm chỉ còn 1,59 con họ mới thôi thực hiện chính sách giảm sinh. Mức sinh ở Hàn Quốc tiếp tục giảm và xuống mức 1,05 con/1 phụ nữ vào 2005. Lúc đó, Hàn Quốc bắt đầu thực hiện chính sách khuyến sinh do một ủy ban ứng phó với già hóa và mức sinh thấp do đích thân tổng thống đứng đầu cùng tất cả các bộ trưởng, đầu tư mỗi năm hàng chục tỉ USD nhưng mức sinh vẫn không tăng lên mà vẫn tiếp tục xuống. Năm 2018, mức sinh của Hàn Quốc chỉ còn 0,95 con/1 phụ nữ. Có nhiều nước đã xảy ra câu chuyện tương tự như Hàn Quốc.
Ở Việt Nam nơi có mức sinh thấp nhất được ghi nhận là TPHCM. Mức sinh của TPHCM khoảng 1,3-1,4/1 phụ nữ trong thời gian khá dài. Đối với cả nước, nếu chỉ có TPHCM có mức sinh thấp không phải là vấn đề đáng lo ngại. Song điều đáng lo ngại hơn là xu thế này đang lan rộng ra nhiều tỉnh, thành phố, trở thành một xu thế trong điều kiện hiện nay (đã có đến 21 tỉnh, thành phố có mức sinh thấp).
Bùi Hữu Sơn hỏi 10:6 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Theo ông, công tác truyền thông trong khuyến khích sinh khó khăn hơn hay tuyên truyền giảm sinh?

Theo ý kiến riêng của tôi, việc nào cũng khó cả. Trước đây, khi mới bắt đầu công tác dân số tuyên truyền cho KHHGĐ, giảm mức sinh chúng ta cũng thấy rất khó, nhưng làm mấy chục năm, có kinh nghiệm cho nên bây giờ chúng ta nghĩ rằng nó là dễ. Trong khi tuyên truyền cho việc sinh thêm con ở những nơi có mức sinh thấp bây giờ chúng ta mới đặt ra và mới học cách làm, lại chưa có kinh nghiệm gì nên chúng ta thấy khó là đương nhiên. Vấn đề là phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
Nguyễn Thị Xuân hỏi 10:9 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Sự chênh lệch trong mức sinh của các tỉnh gây ra những thách thức nào, thưa ông Nguyễn Văn Tân? Tương tự trong từng tỉnh, tôi thấy cũng có mức chênh lệch. Chỗ có điều kiện kinh tế thì sinh ít, chỗ nghèo hơn thì sinh nhiều.

Nhận xét của bạn là khá đúng về tình trạng ở nơi có điều kiện kinh tế thì sinh ít, nơi nghèo lại sinh nhiều. Xét theo các địa phương có sự chênh lệch mức sinh như tôi đã nêu trên. Tình trạng này đặt ra những thách thức về những nỗ lực giảm khoảng cách giàu nghèo ở nước ta. Theo số liệu của Bộ Lao động và TBXH năm 2006, khoảng cách giữa nhóm 20% giàu nhất với 20% nghèo nhất là 8,36 lần. Năm 2016, khoảng cách này đã tăng lên 9,74 lần. Việc sinh đẻ nhiều con là một trong những nguyên nhân của đói nghèo. Do vậy, giảm chênh lệch về mức sinh giữa các vùng, các đối tượng sẽ là một trong những giải pháp góp phần hạn chế sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo.
Mai Văn Dũng hỏi 9:55 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Hiện bức tranh về mức sinh của Việt Nam đang ra sao? Tôi nghe nói là dù có sự chênh lệch nhưng tựu trung vẫn đạt mức sinh thay thế.

Ý kiến của bạn là chính xác. Việt Nam đã đạt và duy trì được mức sinh thay thế từ 2006 đến nay. Tuy nhiên có sự chênh lệch về mức sinh giữa các khu vực. Hiện có khoảng 21 tỉnh, thành phố, chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long mức sinh đã xuống thấp xa mức thay thế. Trong khi vẫn còn 33 tỉnh, thành phố, chủ yếu thuộc miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ… có mức sinh vẫn còn cao, nhóm 20% dân số nghèo nhất có mức sinh là 2,4 con, trong khi các nhóm còn lại đều ở mức 2 con.
Làm thế nào để thu hẹp mức chênh lệch về mức sinh giữa các khu vực, các nhóm dân số là một thách thức lớn hiện nay.
Phạm Thúy Hà hỏi 10:16 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Điều chỉnh mức sinh hợp lý sẽ tác động như thế nào đối với sự phát triển bền vững của đất nước nói chung và của các địa phương nói riêng, thưa ông Nguyễn Văn Tân?

Điều chỉnh mức sinh hợp lý sẽ là một trong những yếu tố đảm bảo cho phát triển bền vững. Mức sinh quá cao trước đây đã tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế xã hội, cản trở những nỗ lực nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Những dẫn chứng ấy, mọi người đều đã thấy rõ. Do đó các tầng lớp nhân dân đã tham gia tích cực vào chương trình KHHGĐ, đạt được kết quả giảm sinh nhanh, cơ bản khống chế tốc độ quy mô tăng dân số quá nhanh.
Nhưng nếu chúng ta để mức sinh xuống quá thấp và duy trì nó trong một thời gian dài dẫn đến ít trẻ em được sinh ra, dân số già hóa nhanh. Về lâu dài, tình trạng này sẽ tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế xã hội, thậm chí ảnh hưởng tới sự tồn vong của 1 quốc gia, 1 dân tộc. Tình trạng thiếu hụt lực lượng dân số trong độ tuổi lao động cho phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng… trong tương lai không xa là hệ quả tất yếu của tình trạng mức sinh thấp kéo dài. Xa hơn nữa sẽ làm suy giảm dân số quá mức. Ví dụ như Nhật Bản người ta dự báo rằng đến năm 2200 dân số Nhật Bản chỉ còn… 3 người nếu mức kết hôn và mức sinh như hiện nay vẫn tiếp tục không được cải thiện.
Hoàng Xuân Hùng hỏi 9:42 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Ông có thể phân tích về mối liên quan giữa mức sinh với các vấn đề khác của công tác dân số?


Dân số bị tác động trực tiếp bởi 3 quá trình căn bản: Sinh đẻ, tử vong và di cư.
Ba quá trình này tác động trực tiếp đến sự thay đổi của quy mô, cơ cấu và phân bổ dân số. Trong đó, quá trình sinh đẻ tác động rõ ràng và mạnh mẽ nhất trong một dân số không có nhiều những biến động về chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh…
Do vậy, mức sinh cao hay thấp không chỉ tác động đến quy mô dân số mà còn tác động đến tất cả những khía cạnh khác của dân số như cơ cấu, phân bổ dân số. Mức sinh cao sẽ tạo ra cơ cấu dân số trẻ, ngược lại, mức sinh thấp sẽ dẫn đến già hóa dân số. Trong văn hóa Nho giáo, nếu ép mức sinh quá thấp cũng là một nguyên nhân làm tăng tỷ số giới tính khi sinh, tăng sự lựa chọn sinh con trai….
Bùi Thu Lan hỏi 9:35 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Mức sinh như thế nào thì được gọi là phù hợp? Tính chất phù hợp này căn cứ vào điều kiện nào ạ?

Thực ra, mức sinh thế nào phù hợp khác nhau giữa các dân số khác nhau. Tôi nói với ý nghĩa là dân số ở các nước, các khu vực khác nhau. Nhưng về tính phổ quát, mức sinh được cho là phù hợp nhất chính là mức sinh thay thế. Về mặt lý thuyết, mức sinh thay thế là mỗi người phụ nữ trong toàn bộ cuộc đời của mình sinh được 1 người con gái thay thế mình thực hiện chức năng sinh đẻ, duy trì nòi giống. Xét về quy luật tự nhiên, mức cân bằng tự nhiên sẽ là 1 nam; 1 nữ. Do vậy, mức sinh thay thế được quy ước 1 cách phổ biến là 2,1 con/1 người phụ nữ.
Bởi năm 1994, Hội nghị Dân số Quốc tế ở Cairo, Ai Cập đã đề ra mục tiêu chung cho thế giới là phải đạt được mức sinh thay thế vào năm 2015. Hai nữa, tôi cũng chưa thấy nước nào đặt ra mục tiêu đưa mức sinh giảm dưới mức thay thế cả. Như vậy, ở mức sinh này, quy mô dân số sẽ không tăng lên nhiều, đồng thời cũng không giảm xuống quá mức.
Hải Nam hỏi 9:32 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Nhiệm vụ, giải pháp đầu tiên được đưa ra trong Chương trình điều chỉnh mức sinh là tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền. Thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo cuộc vận động thực hiện mỗi gia đình, cặp vợ chồng sinh đủ hai con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc… Ông đánh giá như thế nào về vai trò của cấp uỷ, chính quyền trong vấn đề này?

Nhiệm vụ về điều chỉnh mức sinh là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong giai đoạn hiện nay của công tác dân số. Mức độ khó khăn của nó có thể so sánh với nhiệm vụ giảm mức sinh trong những năm đầu thập kỷ những năm 90x.
Thực tiễn công tác dân số giai đoạn đó cho thấy vai trò rất quan trọng của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trong việc thực hiện thắng lợi chiến lược dân số-KHHGĐ 1993-2000. Chúng ta đã thu được những kết quả ấn tượng về giảm mức sinh trong những năm 90, tạo tiền đề cho việc đạt mức sinh thay thế vào năm 2005.
Những kết quả mà chúng ta đã không thể làm được trong những năm 80 khi chưa có sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị. Do vậy, với nhiệm vụ về điều chỉnh mức sinh, cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp có vai trò quan trọng hàng đầu.
Khương Thành Văn hỏi 9:23 24/12/2020
@ÔNG NGUYỄN VĂN TÂN : Thưa ông, được biết ông từng có thời gian rất dài công tác và làm quản lý trong ngành Dân số, theo ông, có sự khác nhau như thế nào giữa vấn đề mức sinh hiện nay so với trước đây?

Cảm ơn bạn đã hỏi câu rất hay. Theo tôi, có mấy điểm khác nhau căn bản ở mức sinh trước đây và hiện nay.
Nếu như trước đây mức sinh trên cả nước nói chung cũng như ở địa phương đều ở mức cao tới rất cao. Hiện nay, 15 năm trở lại đây mức sinh của chúng ta đã đạt được và duy trì mức sinh thay thế. Đó là một thành tựu hết sức to lớn. Đồng thời, cũng đã xuất hiện tình trạng ngày càng lan rộng, đó là xu thế mức sinh giảm quá mức ở một số nơi.
Trọng Thanh hỏi 10:7 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Là nhà nghiên cứu xã hội học, xin TS Hùng cho biết, có phải phụ nữ có học vấn càng cao thì xu hướng sinh ít con, thậm chí không sinh con càng lớn? Ngược lại, với những chị em vùng khó khăn, nông thôn vẫn muốn sinh nhiều con? Liệu điều này có mâu thuẫn?

Có mối tương quan nghịch giữa học vấn của phụ nữ và mức sinh. Học vấn là một yếu tố có tác động mạnh làm giảm mức sinh, bên cạnh nhiều yếu tố khác như việc làm, thu nhập, tôn giáo, nông thôn/đô thị v.v… Các yếu tố có thể tác động thuận chiều hoặc nghịch tới mức sinh.
Trung Hiếu hỏi 10:7 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Nhìn ở góc độ xã hội học, theo ông, vì sao phải điều chỉnh mức sinh hợp lý?

Nhà nước điều chỉnh cơ cấu dân số nhằm bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, ngành nghề… Chúng ta phải điều chỉnh mức sinh hợp lý là nhằm bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý về độ tuổi. Khi tỷ trọng nhóm dân số trẻ em xuống thấp, dẫn tới giảm nguồn cung ứng lao động trong tương lai, có thể không đủ thay thế số lao động đến tuổi nghỉ hưu,… dẫn đến tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Mai Hạnh hỏi 9:59 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Chúng ta cần làm gì để thay đổi nhận thức của người dân trong việc “sinh đủ 2 con”, nhất là với các bạn trẻ, để đảm bảo sự phát triển bền vững? Tôi muốn nhấn mạnh đến trách nhiệm sinh đủ con không phải của riêng từng cá nhân, từng gia đình mà với toàn xã hội.

Việc mỗi cặp vợ chồng cần “sinh đủ 2 con” là nhằm bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý, tác động tích cực phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Do đó, để thay đổi nhận thức của người dân, nhất là với các bạn trẻ, cần tăng cường giáo dục về trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với tương lai của đất nước …
Hải Phong hỏi 9:53 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Mức sinh ảnh hưởng ra sao tới mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, thưa TS Hà Việt Hùng?

Tùy theo bối cảnh của mỗi giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, mức độ ảnh hưởng của mức sinh tới mục tiêu nâng cao chất lượng dân số nhiều, ít khác nhau.
Hiện nay, mức thu nhập trung bình của người lao động đã cao hơn khoảng 30 lần so với thời điểm cuối những năm 80. Có thể thấy, mức sinh có ảnh hưởng không đáng kể tới việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dân số.
Hải Anh hỏi 10:11 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Mức sinh biến động, không đồng đều tác động như thế nào đến việc đưa ra các hoạch định chính sách cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thưa TS Hà Việt Hùng?

Sự khác biệt về mức sinh giữa các vùng, các địa phương đòi hỏi cần có các giải pháp chính sách cụ thể, phù hợp với từng vùng, địa phương dựa trên các mục tiêu chính sách phát triển kinh tế – xã hội chung của quốc gia, bao gồm chính sách dân số.
Trần Quốc Đạt hỏi 9:49 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Hiện Việt Nam đang thực hiện cuộc vận động rộng lớn “Mỗi cặp vợ chồng sinh đủ 2 con”. Trước đây, người dân đã quen với khẩu hiệu “Mỗi cặp vợ chồng sinh từ 1-2 con”. Theo ông, liệu có bước chuyển và khó khăn nào không trong công tác truyền thông, vận động? Người dân có dễ chấp nhận không? Theo ông chúng ta can thiệp vận động “sinh đủ hai con” giờ có muộn hay không?

Theo tôi cần có một số nghiên cứu ở các vùng, địa phương để có các giải pháp truyền thông vận động phù hợp.
Chúng ta vẫn đang thành công trong việc thực hiện mục tiêu duy trì mức sinh thay thế trong 15 năm vừa qua. Do vậy, việc can thiệp vận động “sinh đủ hai con” hiện nay là kịp thời. Chúng ta cần thực hiện can thiệp vận động có hiệu quả.
Trần Sĩ Đan hỏi 9:54 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Theo ông, đâu là những khó khăn, thách thức trong nhiệm vụ điều chỉnh mức sinh hợp lý ở Việt Nam hiện nay?

Có một số khó khăn, thách thức với chúng ta trong nhiệm vụ điều chỉnh mức sinh hợp lý ở nước ta hiện nay:
– Mức sinh biến động, không đồng đều giữa các vùng, địa phương. Trong đó, ở vùng Đông Nam Bộ, mức sinh tương đối thấp so với mức sinh thay thế;
– Nhận thức của đội ngũ cán bộ địa phương các cấp về tầm quan trọng, tính cấp bách đối với nhiệm vụ này;
– Đất nước đang trong tiến trình phát triển trở thành một nước công nghiệp có mức thu nhập trung bình, trung bình cao trong giai đoạn từ nay đến 2030. Biến động mức sinh có tính quy luật, đó là kinh tế – xã hội càng phát triển mức sinh càng xuống thấp.
Quốc Hùng hỏi 9:40 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Thưa TS Hà Việt Hùng, 15 năm duy trì mức sinh thay thế ở Việt Nam đã thực sự vững chắc chưa? Tại sao chúng ta đã duy trì mức sinh thay thế lâu vậy rồi mà vẫn cần một chương trình can thiệp điều chỉnh mức sinh hợp lý?


Biến động mức sinh tuân theo quy luật, đó là kinh tế – xã hội càng phát triển mức sinh càng xuống thấp. Nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình như Trung Quốc hay Thái Lan, đều có mức sinh thấp hơn nhiều so với Việt Nam; tỷ trọng nhóm dân số trẻ em ở hai quốc gia này năm 2020 chỉ còn 17% (so với Việt Nam khoảng 24%). Một quốc gia có thu nhập cao như Hàn Quốc, tỷ trọng nhóm dân số trẻ em chỉ có 12%.
Chúng ta chỉ có thể duy trì mức sinh thay thế lâu hơn, chứ không thể duy trì nó thực sự vững chắc. Do đó, mặc dù đã 15 năm duy trì mức sinh thay thế, vẫn cần một chương trình can thiệp điều chỉnh mức sinh hợp lý.
Quý Hải hỏi 10:1 24/12/2020
@TS HÀ VIỆT HÙNG : Ông có thể chia sẻ một vài bài học không thành công trong khuyến sinh ở các nước có nền văn hoá tương đồng với Việt Nam? Liệu Việt Nam có lặp lại bài học đó không?

Singapore hay Thái Lan đã để mức sinh xuống quá thấp dưới mức sinh thay thế, khi TFR xuống còn 1,6-1,7, các chính sách khuyến sinh đã không thể tác động điều chỉnh mức sinh trở lại mức sinh thay thế.
Việt Nam có thể không lặp lại các bài học đó khi sớm có chính sách điều chỉnh mức sinh hợp lý, kịp thời chuyển trọng tâm chính sách từ DS-KHHGĐ sang Dân số-Phát triển.
