Chỉ thị số 42-CT/TW (ngày 16/4/2010) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó chỉ đạo Liên hiệp Hội Việt Nam cần phải đi đầu trong hoạt động phổ biến kiến thức và chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, ban hành Luật phổ biến kiến thức nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ. Chị thị đã nêu rõ: “Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam: Đi đầu trong truyền bá kiến thức khoa học và công nghệ” và “Tiếp tục thể chế hoá, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam: Nghiên cứu, ban hành Luật phổ biến kiến thức”.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác thông tin, truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ qua các thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt trong giai đoạn Đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chỉ đạo các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị xã hội, trong đó có Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), nghiên cứu, xây dựng, ban hành các văn bản pháp lý cần thiết, tạo điều kiện để không ngừng đẩy mạnh, xã hội hóa các hoạt động, thông tin, truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ cho nhân dân.
Một số nguyên tắc trong việc xây dựng nội dung Luật Phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ
1. Xây dựng Luật Phổ biến kiến thức cần có sự thống nhất và không trùng lắp với Luật Khoa học và Công nghệ (2013)
Ngày 18/6/2013, Quốc hội đã ban hành Luật Khoa học và Công nghệ (Luật số 29/2013/QH13) gồm 11 chương, 81 điều xác định rõ cơ sở pháp lý, mục tiêu, nhiệm vụ và công tác tổ chức, thực hiện phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam phù hợp với giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. So với Luật Khoa học và công nghệ năm 2000, Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) năm 2013 có nhiều bước đột phá, quy định chi tiết về các hoạt động liên quan đến phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt lần đầu tiên hoạt động truyền thông và phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ đã được quy định tại Điều 48 và Điều 50 của Luật này:
“ Điều 48. Truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ
- Nhà nước đầu tư, khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển công tác truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hằng năm, 05 năm về công tác truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.
- Kinh phí của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư, tài trợ cho hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ được tính vào chi phí hợp lý.

Điều 50. Mục đích chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ
- Thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm, nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp phục vụ lợi ích chung của xã hội; chú trọng nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ.
- Duy trì và phát triển năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, đầu tư và hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho tổ chức khoa học và công nghệ; bảo đảm hoạt động nghiên cứu cơ bản thường xuyên của tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
- Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
- Cấp kinh phí cho quỹ của Nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
- Hỗ trợ việc thực hiện nghiên cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ tại địa phương.
- Mua kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao, thiết kế, thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài thuộc lĩnh vực ưu tiên.
- Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, truyền thông, thông tin, thống kê khoa học và công nghệ; hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, công bố kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, giải thưởng khoa học và công nghệ.
- Hỗ trợ hoạt động khoa học và công nghệ khác…”
Như vậy với 2 Điều liên quan hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ được quy định trong Luật Khoa học và Công nghệ 2013 là một thuận lợi cho việc cụ thể hóa các nội dung của Luật Phổ biến kiến thức. Thực tế cả điều 48 và 50 không giải thích rõ nội hàm khái niệm phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, nội dung và cách thức thực hiện các hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ mà chỉ đề cập một cách chung chung nên khó thực hiện. Luật phổ biến kiến thức sẽ dựa trên điều 48, 50 của Luật Khoa học và công nghệ kết hợp với nhu cầu, thực tế hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ để xây dựng cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động này, đặc biệt là nêu rõ những nội dung, hình thức, biện pháp thúc đẩy phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ mà Luật Khoa học và công nghệ chưa đề cập.
Việc nghiên cứu kỹ Luật Khoa học và Công nghệ 2013 là đặc biệt quan trọng để xây dựng dự thảo Luật Phổ biến kiến thức đảm bảo tính thống nhất, không mâu thuẫn với tư tưởng, quan điểm, định hướng phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam được quy định trong Luật Khoa học và Công nghệ 2013, đồng thời đảm bảo tính không trùng lắp trong các nội dung đã được quy định.
2. Xây dựng Luật Phổ biến kiến thức cần có sự thống nhất và không trùng lắp với hệ thống các văn bản Luật ở Việt Nam
Phổ biến kiến thức là hoạt động được thực hiện thường xuyên của các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức xã hội, các nhóm xã hội theo chức năng, lĩnh vực, phạm vi quản lý và thực hiện của các cơ quan, tổ chức, các cá nhân và nhóm xã hội, là đối tượng tác động hoặc chịu sự tác động của pháp luật theo từng lĩnh vực.
Phổ biến kiến thức cũng được quy định trong các văn bản Luật và dưới luật của từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể từ hàng loạt các vấn đề lao động, việc làm, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, môi trường, thông tin, truyền thông…Việc xây dựng Luật Phổ biến kiến thức cần đảm bảo tính thống nhất, không trùng lắp với các luật cụ thể, đối tượng cụ thể, liên quan hoạt động thông tin, truyền thông, phổ biến kiến thức. Luật cần nhấn mạnh yếu tổ khoa học và công nghệ trong phổ biến kiến thức, áp dụng, vận dụng với từng ngành, lĩnh vực, đối tượng, khu vực cụ thể.
3. Xây dựng Luật Phổ biến kiến cần hướng đến những định hướng tư tưởng, quan điểm nhiều hơn việc xây dựng các chế tài xứ lý vi phạm
Luật Phổ biến kiến thức hướng đến những tư tưởng, quan điểm lớn của thời đại, thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển cộng đồng, xã hội. Thực tế cho thấy, hoạt động truyền thông và phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ là cầu nối giữa các hoạt động lý luận và thực tiễn, nghiên cứu và ứng dụng, giữa nhà khoa học và nhân dân, huy động và phát huy tối đa các nguồn lực sẵn có để xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ đem lại hiệu quả thiết thực trong sản xuất, kinh doanh, cổ vũ tinh thần lao động, sáng tạo trong các mô hình thực tiễn trong cộng đồng, xây dựng các phong trào xã hội trên cơ sở của phổ biến kiến thức, kinh nghiệm, thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ.

Với những tư tưởng, quan điểm lớn mang tính dân tộc và thời đại hướng đến các mục tiêu phát triển như vậy, nội dung của Luật cần thể hiện những quan điểm tích cực, tiến bộ, hướng vào tuyên truyền cổ vũ, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, xã hội vào hoạt động khoa học và công nghệ, xã hội hóa công tác phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn lực khác nhau. Luật tập trung vào việc xác định trách nhiệm, quyền lợi của các cá nhân, tổ chức nhiều hơn vào các chế tài xử lý vi phạm như các Luật khác.
- Xây dựng Luật phổ biến kiến vừa cần đảm bảo nội dung đa dạng vừa phải xác định các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm ưu tiên trong phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, đồng thời xây dựng theo hướng Luật “mở”
Phát triến khoa học và công nghệ theo hướng hiện đại, hội nhập với các nền khoa học và công nghệ tiên tiến trên thế giới, Luật Phổ biến kiến thức Khoa học và Công nghệ cần đảm bảo các nội dung phong phú, đa dạng bao trùm các lĩnh vực phát triển của xã hội, tuy nhiên phải xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên, có trọng tâm, trọng điểm trong phát triển hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ ở Việt Nam giai đoạn hiện nay, như lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ tạo ra công nghệ…phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Luật Phổ biến kiến thức cần có tầm nhìn ngắn hạn và dài hạn, xây dựng theo hướng luật “mở”, để có thể tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi, bổ sung các nội dung phù hợp theo các giai đoạn phát triển khoa học và công nghệ gắn với mục tiêu nhiệm vụ phát triển đất nước, đảm bảo tính thống nhất với dự thảo luật ban đầu.
- Xây dựng Luật phổ biến vừa cần phù hợp với các công ước, bộ luật tiến bộ trên thế giới vừa đảm bảo các giá trị văn hóa, con người Việt Nam
Xây dựng Luật Phổ biến kiến thức cần tiếp thu các giá trị trong hệ thống chính sách và pháp luật quốc tế, đặc biệt là các công ước quốc tế có sự tham gia của Việt Nam về phát triển khoa học và công nghệ để đảm bảo sự hội nhập về khoa học và công nghệ của Việt Nam với các nước trong khu vực về trên thế giới. Bên cạnh đó, Luật tập trung vào việc huy động nguồn lực, xã hội hóa thông tin, truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, cần được xem xét trong bối cảnh phù hợp với các giá trị cộng đồng, các vùng miền nói riêng và giá trị văn hóa, con người Việt Nam nói chung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đặng Vũ Cảnh Linh (2014) Hoạt động Phổ biến kiến thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Báo cáo phục vụ Báo cáo số 393/BC-LHHVN ngày 27/5/2014 của Liên hiệp Hội Việt Nam về Tình hình hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam trong thời gian qua)
- Đặng Vũ Cảnh Linh, Tô Bá Trọng (2013) Hoạt động thông tin và phổ biến kiến thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ( Báo cáo chuyên đề phục vụ hoạt động kỷ niệm 30 năm thành lập Liên hiệp Hội Việt Nam).
- Đặng Vũ Cảnh Linh (2014), Thực trạng hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giai đoạn 2010-2014, đề xuất định hướng hoạt động trong thời gian tới (Báo cáo chuyên đề Phục vụ văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam)
Đặng Vũ Cảnh Linh báo cáo chuyên đề khoa học nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật Phổ biến kiến thức
